LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI PHÁP CỦA TỈ-KHEO-NI

NÓI VỀ PHẦN ĐẦU CỦA NHỮNG PHÁP LINH TINH

CÁCH SẮP XẾP THỨ TỰ.

Khi Phật an trú trên bờ sông A-kì-la tại thành Xá-vệ có đàn việt mời hai bộ Tăng cúng dường trai phạn. Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni đều muốn qua sông. Tỉ-kheo nói: “Đức Thế Tôn chế giới không cho phép hai bên cùng đi chung thuyền”. Thế là Tỉ-kheo cứ hai người, ba người ngồi trên thuyền nhẹ nhàng qua sông. Họ qua rồi, Tỉ-kheo-ni mới được qua. Khi qua tới nơi lại phải hỏi tuổi tác để sắp xếp chỗ ngồi, thì mặt trời đã quá ngọ. Vì thế Đại Ái Đạo mất bữa ăn đói lả, Ni sư đi đến chỗ Thế Tôn cúi đầu đảnh lễ, đứng hầu một bên. Phật thấy thế, biết nhưng vẫn hỏi: “Vì sao mà sắc diện bà có vẻ đói khát như thế?”. Ni sư bèn đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy: “Từ nay về sau, trong 8 vị Thượng tọa đầu phải ngồi theo thứ tự đúng pháp, còn những người khác thì tùy nghi, ai đến trước thì ngồi trước. Nếu vào dịp 5 năm đại hội một lần có nhiều người tụ hội thì tám vị Thượng tọa đầu của Tỉ-kheo-ni phải ngồi theo thứ tự, còn những người khác thì tùy ý mà ngồi. Nếu trong 8 người đầu không ngồi theo thứ tự thì phạm tội Việt tì-ni”. Cuối cùng Thế Tôn dạy (tóm tắt bằng bài kệ):

“Hai chúng tịnh không đồng,
Hơn nữa có ba việc,
Làm cho mất bản chất,
Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni.
Không tàn, tám Thượng tọa,
Kết thúc phần thứ năm”.

Trong phần linh tinh của Tỉ-kheo thì 9 việc: “Biệt trụ, tỏi, ô dù, xe cộ, dùng dao chữa bệnh, giày dép, ngồi chung một giường, nằm chung một giường, ca nhạc” nên để ra ngoài không bàn đến. Ngoài ra 13 việc còn lại thì Tỉ-kheo-ni khác biệt. Năm phần linh tinh thuộc về oai nghi thì các việc: “Ở a-luyện-nhã, vào nhà tắm, làm cầu tiêu, vá y, chiếu đan” nên để ra ngoài không nói đến. Ngoài ra, giống với Tỉ-kheo-ni (?)

Hai bộ Tu-đa-la (kinh) và 500 học giới được đức Thế Tôn chia ra thuyết minh tuần tự: Bài tựa của giới kinh; 8 Ba-la-di, 19 Tăng-già-bà-thi-sa; 30 Ni-tát-kì-ba-dạ-đề; 141 Ba-dạ-đề; 8 Ba-la-đề-đề-xá-ni; 64 pháp Chúng học, 7 pháp Diệt tránh; sau cùng là bài kệ nói về Pháp và tùy thuận pháp.

Giới bổn của Tỉ-kheo-ni đến đây là hết.

GHI CHÚ RIÊNG VỀ LUẬT MA-HA-TĂNG-KÌ.

Ngày xưa tại Trung Thiên Trúc có vị ác vương tạm thời cai trị, các Sa-môn phải lánh đi khắp nơi; những Tỉ-kheo tinh thông tam tạng còn rất thưa thớt. Đến khi ác vương băng hà, Thiện vương lên ngôi, bèn mời các Sa-môn về nước cúng dường. Lúc ấy, tại ấp Ba-liên-phất có 500 vị Tăng muốn giải quyết công việc nhưng không có Luật sư, lại không có Luật văn, không lấy gì để làm cơ sở, liền sai người đến tinh xá Kỳ Hoàn chép được bản luật còn truyền đến ngày nay (tức bộ Luật này đây).

Pháp Hiển tôi chép được bản luật này bằng chữ Phạn tại tinh xá Thiên Vương, phía Nam tháp A-dục vương, ấp Ba-liên-phất, nước Ma-kiệt-đề, rồi đem về Dương Châu. Thế rồi, tôi cùng Thiền sư (Phật-bà-bạt-đà-la) dịch từ chữ Phạn sang chữ Tần (Hán), tại chùa Đấu Trường, từ tháng 11 năm Bính Thìn, niên hiệu Nghĩa Hi thứ 12. đời Tấn đến cuối tháng 2 năm Nghĩa Hi thứ 14. thì hoàn thành; do đó ghi lại đôi dòng để biết.

Sau khi Phật Nê-hoàn, tôn giả Đại Ca-diếp tập họp các vị Đại sư tinh thông tám vạn pháp tạng để kết tập Luật Tạng. Thế rồi, sau khi Đại Ca-diếp nhập diệt, tôn giả A-nan lại kế thế giữ gìn đầy đủ tám vạn pháp tạng. Kế đến tôn giả, Mạt-điền-địa cũng giữ gìn đầy đủ tám vạn pháp tạng. Kế đến tôn giả Xá-na-bà-tư cũng giữ gìn đầy đủ tám vạn pháp tạng. Kế đến, tôn giả Ưu-ba-quật-đa (người được Thế Tôn thọ ký là Phật Vô Tướng, như trong nhân duyên hàng ma đã nói rõ) không thể giữ gìn đầy đủ tám vạn pháp tạng, do đó mà phát sinh ra tên của năm bộ phái. Đầu tiên, Đàm-ma-quật-đa lập riêng ra một bộ. Tiếp theo, Di-sa-tắc lập riêng ra một bộ. Tiếp theo, Ca-diếp-duy lại lập ra một bộ. Tiếp theo là Tát-bà-đa mà Tát-bà-đa nước Tấn (Hán) dịch là Thuyết Nhất Thiết Hữu, nghĩa là ý nghĩa và tôn chỉ của các bộ trên đều chủ trương khác nhau. Bộ này cho rằng thân trung ấm trong ba giai đoạn quá khứ, hiện tại và vị lai đều có tính cách khác nhau, do đó mà gọi Nhất thiết hữu.

Thế rồi, năm bộ này [ở đây chỉ nêu có 4 bộ—người dịch chú] lập ra thuyết riêng, ai nấy đều tự cho chủ trương của mình là đúng. Khi ấy, vua A-dục suy nghĩ: “Nay ta phải làm sao để biết ai là đúng, ai là sai?”. Thế rồi vua hỏi chư tăng làm cách nào để phán đoán Phật pháp, thì họ cho biết là phải theo nguyên tắc đa số. Vua nói: “Nếu vậy thì phải rút thăm để biết bên nào nhiều người”. Đoạn, vua cho tiến hành việc rút thăm và kết quả những người theo quan điểm cũ nhiều nhất. Vì họ thuộc số đông nên gọi là Ma-ha-tăng-kì, nghĩa là Đại chúng hay chúng lớn.

PHẬT NÓI KINH TỘI BÁO NẶNG NHẸ VỀ VIỆC PHẠM GIỚI.

Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ, Phật trú tại thành Vương Xá, lúc ấy vào buổi xế, tôn giả Mục-liên xả thiền định, đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, bạch với Phật rằng:

—Bạch Thế Tôn! Tâm con có điều nghi ngờ, nay xin hỏi Thế Tôn, mong Thế Tôn chuẩn thuận.

—Ta cho phép ông hỏi, rồi Ta sẽ trả lời cho ông.

—Bạch Thế Tôn! Nếu Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni không có tâm hổ thẹn, coi thường lời Phật dạy, phạm giới chúng học, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Ba-dạ-đề, Thâu-lan-giá, Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-la-di thì mắc bao nhiêu tội lỗi bất lợi? Kính mong Thế Tôn hãy chỉ rõ.

—Này Mục-liên hãy lắng nghe, lắng nghe! Ta sẽ nói rõ để ông biết. Nếu Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni không biết hổ thẹn, coi thường lời Phật dạy, phạm giới chúng học, thì như Tứ Thiên Vương thọ 500 tuổi, bị đọa vào địa ngục, mà theo cách tính của nhân gian là chín trăm nghìn năm.

Này Mục-liên, nếu Tỉ-kheo… không biết hổ thẹn, coi thường lời Phật dạy, phạm giới Ba-la-đề-đề-xá-ni, thì giống như chư Thiên ở cõi trời 33 thọ 1000 tuổi, bị đọa vào địa ngục, mà theo cách tính của nhân gian là ba ức sáu mươi nghìn năm.

Này Mục-liên, nếu Tỉ-kheo… không biết hổ thẹn, coi thường lời Phật dạy, phạm giới Ba-dạ-đề, thì giống như chư Thiên ở cõi trời Dạ-ma thọ 2000 tuổi, bị đọa vào địa ngục, mà theo cách tính của nhân gian là hai mươi ức bốn mươi nghìn năm.

Này Mục-liên, nếu Tỉ-kheo… không biết hổ thẹn, coi thường lời Phật dạy, phạm tội Thâu-lan-giá, thì giống như chư thiên ở cõi trời Đâu-suất thọ 4000 tuổi, bị đọa vào địa ngục, mà theo cách tính của nhân gian là năm mươi ức sáu mươi nghìn năm.

Này Mục-liên, nếu Tỉ-kheo… không biết hổ thẹn coi thường lời Phật dạy, phạm giới Tăng-già-bà-thi-sa thì giống như chư thiên ở cõi trời Bất Kiêu lạc (Hóa Lạc Thiên) thọ 8000 tuổi, bị đọa vào địa ngục, mà theo cách tính của nhân gian là hai trăm ba mươi ức bốn mươi nghìn năm.

Này Mục-liên, nếu Tỉ-kheo… không biết hổ thẹn, coi thường lời Phật dạy, phạm giới Ba-la-di, thì giống như chư thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại thọ 16.000 tuổi, bị đọa vào địa ngục mà theo cách tính của nhân gian là chín trăm hai mươi mốt ức sáu mươi nghìn năm.

Khi ấy, tôn giả Mục-liên nghe Phật tuyên thuyết như vậy, liền hoan hỉ phụng hành; rồi tôn giả đọc kệ:

“Vì nguyên nhân khinh mạn,
Khi chết rơi đường ác.
Do nguyên nhân tu thiện,
Nhờ thế sinh lên trời.
Nương vào đây tu phước,
Lìa ác được giải thoát.
Không khéo quán nhân duyên,
Thân hoại vào địa ngục”.

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hết quyển thứ bốn mươi.