LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI PHÁP CỦA TỈ-KHEO-NI

NÓI RÕ PHẦN ĐẦU CỦA 141 BA-DẠ-ĐỀ

141. GIỚI: CHUYỂN LỢI CỦA TĂNG CHO MỘT NHÓM NGƯỜI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ nhóm sáu Tỉ-kheo-ni đi du hành khuyến hóa, nói với người phụ nữ rằng: “Bà hãy cúng dường các thực phẩm để tôi sắm thức ăn cho các Tỉ-kheo”. Người phụ nữ bèn đưa thực phẩm, rồi dặn: “Đến ngày cúng dường, cô tin cho tôi biết để tôi đến nấu nướng”. Thế rồi, họ mời tôn giả Xá-lợi-phất, Đại-mục-liên, Li-bà-đa, Kiếp-tân-na, tôn giả La-hầu-la; đồng thời mời nhóm sáu Tỉ-kheo, rồi sắp hai dãy ghế, một dãy dành cho Tỉ-kheo trưởng lão, một dãy dành cho nhóm sáu Tỉ-kheo. Khi đến giờ, các trưởng lão Tỉ-kheo bèn khoác y cầm bát đi đến nhà thí chủ, ngồi theo thứ tự. Thế rồi, họ dọn cho tôn giả Xá-lợi-phất cơm gạo trắng, canh mông cự và các loại sữa. Cứ thế chuyển dần đến thức ăn thô. Họ dọn cho tôn giả Mục-liên cơm gạo thô, canh ma-sa, dầu, sữa. Còn các Tỉ-kheo khác thì dọn cơm gạo đỏ, canh ma-sa, hoặc có chỗ thì có cơm mà không có canh, hoặc có canh mà không có cơm. Cuối cùng, đến tôn giả La-vân, họ dọn cơm gạo đỏ, canh rau tạp. Khi những phụ nữ bưng các thức ăn ngon lên hỏi nhóm sáu Tỉ-kheo-ni rằng: “Dọn những thứ này cho ai?”, thì các Tỉ-kheo-ni ấy bèn dùng thân mình che các trưởng lão Tỉ-kheo mà chỉ nhóm sáu Tỉ-kheo, bảo dọn cơm trắng canh ngon, các món sữa; đồng thời tự tay mình bưng dọn phủ phê.

Khi các Tỉ-kheo thọ trai xong trở về, Phật biết nhưng vẫn hỏi Xá-lợi-phất:

—Này Xá-lợi-phất, được ăn các thức ngon đầy đủ không?

—Đã ăn rồi, bạch Thế Tôn!

Phật hỏi ba lần như vậy thì thầy cũng đều đáp giống nhau. Phật lại hỏi từng trưởng lão Tỉ-kheo như vậy, họ cũng đều đáp giống y như thế. Cuối cùng, Phật hỏi La-vân:

—Vì sao mà trông sắc diện, sức lực của ông có vẻ không đầy đủ? Có được ăn những thức ngon no nê không?

—Bạch Thế Tôn! Ăn dầu thì có sức lực, ăn sữa thì có sắc diện, còn ăn canh rau thì không có sắc diện, sức lực.

Đoạn, Phật hỏi nhóm sáu Tỉ-kheo:

—Các ông có được ăn ngon không?

—Bạch Thế Tôn! Chúng con được cơm gạo trắng, canh ngon, các món sữa và những thức ăn ngon lành đều do các chị em có niềm tin ân cần dâng cúng.

—Người ngồi trên hết (Thượng tọa) là ai vậy?

—Là tôn giả Xá-lợi-phất.

Phật liền hỏi Xá-lợi-phất:

—Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Đây là cách ăn phi pháp. Vì sao ông ngồi nhìn Tỉ-kheo Tăng bị nhiễu loạn mà vẫn giữ thái độ thản nhiên?

—Nếu Thế Tôn dạy rằng đó là bữa ăn phi pháp thì dù trải qua một kiếp hay hơn một kiếp cũng không tiêu hóa được.

Thế là tôn giả bèn dùng chiếc lông chim ngoáy vào yết hầu cho mửa thức ăn ra. Đồng thời, khi ấy Phật bảo gọi nhóm sáu Tỉ-kheo-ni đến. Khi họ tới rồi, Phật liền hỏi:

—Các ngươi có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Đó là việc xấu. Vì sao các ngươi biết đó là lợi ích của cả chúng mà lại xoay về cho một nhóm người? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

—Nếu Tỉ-kheo-ni biết đó là lợi ích của cả chúng mà xoay về cho một nhóm người thì phạm tội Ba-dạ-đề.

GIẢI THÍCH:

Biết: Hoặc tự biết hoặc do nghe người khác mà biết.

Chúng: Tức là chúng Tỉ-kheo, chúng Tỉ-kheo-ni.

Lợi: Gồm có 8 thứ sau đây: Thuốc dùng đúng lúc, thuốc dùng ban đêm, thuốc dùng trong bảy ngày, thuốc dùng trọn đời, vật tùy thân, vật nặng, vật bất tịnh, vật vừa tịnh vừa bất tịnh.

Xoay về: Nếu vật ấy thí chủ đã định cúng chỗ này mà xoay sở để họ cúng chỗ khác thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói.

Nếu có người đến hỏi: “Tôi muốn cúng dường, vậy nên cúng dường nơi nào?”, thì nên đáp: “Tùy theo ý ông, thích cúng dường nơi nào thì cúng dường nơi ấy”. Nếu họ hỏi: “Ở đâu có công đức lớn?”, thì nên đáp: “Cúng dường cho Tăng”. Nếu họ hỏi: “Ở đâu có chúng Tăng giữ giới tinh nghiêm?”, thì nên đáp: “Không có chúng Tăng nào lại phạm giới cả”. Nếu họ hỏi: “Ở đâu có Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni giữ giới, ít việc, ngồi thiền, tụng kinh, ít đi vân du để tôi thường được thấy vật cúng dường này?”, thì được nói: “Nên cúng dường cho mỗ giáp”.

Nếu Tỉ-kheo-ni biết vật đó thí chủ định cúng cho Tăng mà vận động họ cúng cho mình thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Nếu vận động họ cúng cho người khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu biết họ định cúng cho chúng này mà vận động họ cúng cho chúng khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu họ định cúng cho nhóm người bà con này mà vận động họ cúng cho nhóm người bà con khác cũng phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu vật họ định cúng cho người này mà vận động họ cúng cho người khác thì phạm tội Việt tì-ni.

Nếu Tỉ-kheo biết vật thí chủ định cúng cho chúng này mà vận động họ cúng cho chúng khác thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

Kệ tóm tắt:

“Giáo huấn, mụt chỗ kín,
Ngủ lang, không du hành.
An cư, sau trách cứ,
An cư rồi mới đến.
Cách tường vứt chất bẩn,
Cỏ, nước, xoay Tăng vật
Hết phần thứ mười bốn”.

Trong 141 giới Ba-dạ-đề của Tỉ-kheo-ni thì 70 giới giống với giới của Tỉ-kheo còn 71 giới thì khác. Đến đây thuyết minh xong giới Ba-dạ-đề.