LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI PHÁP CỦA TỈ-KHEO-NI

NÓI RÕ PHẦN ĐẦU CỦA TÁM BA-LA-DI.

7. GIỚI: GIẤU TỘI NGƯỜI KHÁC.

Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, nói rộng như trên. Bấy giờ, có gia đình Li-xa kia, lúc đầu sinh được hai bé trai, sau đó sinh một bé gái. Họ cho thế là điềm không tốt nên thầm nhủ: “Ngày nay đứa bé gái không tốt này không biết có ai lấy không?” Thế rồi có người hỏi:

—Bà có muốn gởi đứa bé gái này đến chỗ an ổn không?

—Muốn.

—Nếu vậy thì nên đem đến cho Tỉ-kheo-ni Ca-lê nhờ cô ấy nuôi dưỡng.

Gia đình ấy nghe thế liền cho mời Ca-lê đến, thưa: “Thưa thánh giả! Nay tôi sinh đứa bé gái không tốt lành này không có ai lấy, nhờ cô nuôi lớn, độ nó xuất gia, tôi sẽ cung cấp y thực”.

Tỉ-kheo-ni liền nhận đem về nuôi, cho xuất gia. Và gia đình ấy cứ hằng ngày đưa thức ăn, hằng năm gởi đến y phục. Khi đứa bé lớn, Ni sư cho học giới, rồi cho thọ Cụ túc. Nhưng bản chất của người nữ vốn nhiều dâm tính, cho nên càng lớn thì dục tình càng mạnh mẽ không thể kiềm chế được. Do thế, cô ta bạch với sư phụ:

—Kiết sử của con sinh khởi, con không thích xuất gia, nay con muốn hoàn tục.

—Quái lạ thay! Ở trong cõi tục cũng giống như hầm lửa, làm sao mà có thể vui được!

Từ đó trở đi, dần dần cô thông dâm với người thế tục và các ngoại đạo, rồi mang thai. Tỉ-kheo-ni bèn trục xuất, và nói với sư phụ cô:

—Ni sư không biết đệ tử mình thông dâm với người thế tục và ngoại đạo sao?

—Tôi cũng đã biết từ sớm, nhưng gia đình ấy hằng ngày đưa thức ăn đến, hằng năm cung cấp y phục; nếu tôi bạch với Tăng thì Tăng sẽ trục xuất. Vì ham hai món lợi kia, nên tôi không bạch.

Tỉ-kheo-ni bèn nói với Đại Ái Đạo. Đại Ái Đạo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ca-lợi đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

—Ngươi có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Đó là việc xấu. Này Ca-lợi, vì sao ngươi biết Tỉ-kheo-ni phạm trọng tội mà che giấu? Đấy là việc phi pháp, phi luật, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi, Phật bảo Đại Ái Đạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại Tì-xá-li phải tập họp lại tất cả, (cho đến) dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

—Nếu Tỉ-kheo-ni biết Tỉ-kheo-ni kia phạm trọng tội mà không nói với người khác, sau đó, Tỉ-kheo-ni kia hoặc rời khỏi trú xứ, hoặc chết, hoặc hoàn tục, mới nói với người khác rằng: “Trước đây tôi đã biết Tỉ-kheo-ni ấy phạm trọng tội, nhưng tôi không nói với người khác, vì không muốn cho người khác biết”, thì Tỉ-kheo-ni này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung.

GIẢI THÍCH:

Tỉ-kheo-ni: Như trên đã nói.

Biết: Hoặc tự biết, hoặc nghe từ người khác mà biết.

Trọng tội: Nếu phạm một trong tám tội Ba-la-di tức là trọng tội.

Không nói với người khác: Không nói với một người, nhiều người hoặc là chúng Tăng.

Rời khỏi trú xứ: Tức bị trục xuất.

Chết: Sự vô thường xảy đến (qua đời).

Hoàn tục: Rời khỏi pháp luật đang hành trì, làm người thế tục, ngoại đạo. Nếu đến lúc ấy mới nói: “Trước đây tôi đã biết người ấy phạm tội, nhưng không muốn cho người khác biết”, thì Tỉ-kheo-ni này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung.

Ba-la-di: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni lúc bình minh thấy Tỉ-kheo-ni khác phạm tội mà không có tâm che giấu, đến lúc mặt trời mọc lại khởi tâm che giấu cho đến bình minh hôm sau, thì Tỉ-kheo-ni này phạm tội Ba-la-di. Đó gọi là hai thời. Cũng vậy cho đến tám thời, như trong vấn đề che giấu của Tỉ-kheo trên kia đã nói rõ.

Nếu Tỉ-kheo-ni thấy Tỉ-kheo-ni phạm trọng tội thì phải nói với người khác. Nếu thấy đệ tử cùng sống chung, đệ tử y chỉ phạm trọng tội, mà vì yêu thương cố tình che giấu tội lỗi của đệ tử, nghĩ rằng: “Nếu ta nói với các Tỉ-kheo-ni thì họ sẽ trục xuất nó”, thì phạm tội Ba-la-di.

Trong trường hợp, Tỉ-kheo-ni ấy nghe lời nói kia, rồi đem nói với Tỉ-kheo-ni quen biết rằng: “Mỗ giáp phạm trọng tội, nếu tôi đem nói với người khác thì Tỉ-kheo-ni tăng sẽ trục xuất người ấy; vì thế mà tôi che giấu”, Tỉ-kheo-ni ấy nghe thế lại suy nghĩ: “Nếu ta nói ra thì cả hai người đều bị trục xuất”, liền che giấu, thì tất cả đều phạm tội Ba-la-di. Cũng vậy, nếu tất cả đều che giấu thì tất cả đều phạm tội Ba-la-di.

Nếu Tỉ-kheo-ni thấy người khác phạm trọng tội rồi đem nói với Tỉ-kheo-ni khác rằng: “Tôi thấy mỗ giáp phạm trọng tội”, mà Tỉ-kheo-ni này quở trách rằng: “Nay ngươi làm việc ác, vì sao lại đem nói với ta, chớ có nói nữa”, thì phạm tội Thâu-lan-giá.

Nếu Tỉ-kheo-ni thấy có người phạm trọng tội thì phải nói với người khác. Nếu kẻ phạm tội ấy hung ác đáng sợ, có thế lực, e họ sẽ giết mình hoặc làm tổn thương phạm hạnh, thì nên suy nghĩ: “Hễ gây nghiệp thì có quả báo, họ tự biết lấy. Ví như hỏa hoạn xảy ra cháy nhà, ta chỉ nên tự cứu mình, hơi đâu mà lo việc người khác”. Nếu tâm tương ưng như thế thì không có tội. Thế nên nói (như trên).