LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI PHÁP CỦA TỈ-KHEO-NI

NÓI RÕ PHẦN THỨ NHẤT CỦA 19 PHÁP TĂNG TÀN

6. GIỚI: SỐNG MỘT MÌNH.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy trong thành Vương Xá có một người tên Yết-Mô tử cưới một Yết-Mô nữ làm vợ. Cô này đoan chính vô song, đang bưng cơm cho chồng. Khi đến giờ khất thực, đức Thế Tôn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, đi đến nhà ấy. Bấy giờ, người vợ suy nghĩ: “Nếu chồng ta thấy Phật, ắt sẽ đứng dậy xem, sẽ bỏ phế việc ăn uống, ta nên đứng chắn giữa cửa”. Vì người ấy có duyên với Phật, nên đức Thế Tôn phóng ánh sáng chiếu vào trong nhà, khiến cho ông chồng nhìn ra, trông thấy Phật. Ông liền nói với bà vợ:

—Ngươi thật là kẻ chẳng có một chút thiện tâm nào, chỉ muốn làm tổn hại ta.

—Không phải tôi muốn làm tổn hại mà vì tôi sợ anh thấy Thế Tôn sẽ bỏ phế việc ăn uống mà thôi.

Ông chồng nổi giận, nói:

—Người nữ tình ý cạn cợt, muốn làm lợi ích một tí mà thành ra tổn hại quá nhiều.

—Xin đại gia cho phép tôi xuất gia.

—Cô muốn xuất gia theo đạo nào?

—Xuất gia theo Phật pháp.

—Tôi đồng ý.

Thế rồi, cô đi đến chỗ Tỉ-kheo-ni Ưu-bát-la xin xuất gia. Ni sư liền độ xuất gia, cho thọ Cụ túc. Đầu đêm, cuối đêm, cô tinh cần không biếng nhác, đến ngày thứ tám thì dứt hết lậu hoặc, tự biết mình đã chứng ngộ, được tam minh, lục thông, tâm tư tự tại, ngồi nương tựa dưới gốc cây. Lúc ấy, Thích-đề-hoàn-nhân đi đến chỗ cô ngồi, rồi đọc kệ:

“Đế Thích từ thiên cung,
Giáng phàm xin đảnh lễ.
Thấy Yết-mô nữ này,
Xuất gia mới tám ngày,
Lậu hết chứng lục thông.
Hoa Ưu-bát Tỉ-kheo,
Việc làm đã thành tựu.
Đức lực đều tự tại,
Chiết phục mọi tình tưởng,
Nhắm mắt ngồi dưới cây.
Thế nên tôi đảnh lễ,
Phước điền của thế gian”.

Vị Tỉ-kheo-ni này có âm thanh trong trẻo, giỏi tán tụng kinh điển, được một Ưu-bà-tắc mời về nhà tụng kinh. Sau khi nghe tụng, ông rất hoan hỉ, cúng dường cho cô một tấm lụa lớn và đẹp. Lúc ấy, chư thiên ở trên không trung liền đọc kệ tán thán:

“Nay cô được lợi ích,
Phước đức đã tột vời.
Mọi nhiễm trước dứt hết,
Nhận y cúng thanh tịnh.
Các nam nữ cư sĩ,
Trong thành Vương Xá này,
Vì sao không mời cô,
Thuyết giảng vi diệu pháp?
Không mời thì không giảng,
Thân cận sẽ lìa khổ.
Nghe pháp rồi tu tập,
Ắt đến nơi thắng diệu”.

Lúc ấy, mọi người, mọi nhà đều mời cô về tụng kinh; sau khi nghe tụng, họ rất hoan hỉ (phát tâm cúng dường), vì thế cô nhận được rất nhiều lợi dưỡng. Các Tỉ-kheo-ni thấy thế đều sinh tâm ganh tị, bèn nói rằng: “Đây là những lời ca tụng ủy mị làm mê loạn lòng người”.

Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

—Có thật ngươi ca tụng theo kiểu thế gian chăng?

—Con không biết ca tụng theo kiểu thế gian.

Phật bèn nói với các Tỉ-kheo-ni: “Tỉ-kheo-ni này không phải ca tụng theo kiểu của thế gian. Trong thời quá khứ có vị vua cai trị thành Ba-la-nại tên là Cát-lợi. Ông có bảy người con gái: Người thứ nhất tên là Sa-môn; người thứ hai tên là Sa-môn-hữu; người thứ ba tên là Tỉ-kheo-ni; người thứ tư tên là Tỉ-kheo-ni-tì; người thứ năm tên là Đạt-ma-chi; người thứ sáu tên là Tu-đạt-ma; người thứ bảy tên là Tăng-tì. Những người này từng phát nguyện trước Phật Ca-diếp như trong kinh Thất Nữ đã nói rõ”.

Bấy giờ, có Tỉ-kheo-ni muốn tách rời Ni chúng cư trú một mình, rồi một Tỉ-kheo-ni khác đem việc ấy nói với Đại Ái Đạo. Đại Ái Đạo lại đem bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

—Có phải ngươi định tách rời Ni chúng cư trú một mình không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Từ nay trở đi, Ta không cho phép tách rời chúng để sống một mình.

Lại nữa, khi vua Lưu Li chinh phạt nước Ca-duy-la-vệ nên được nói rộng; lúc ấy các Tỉ-kheo-ni sống một mình ở ngoài thành, cho đến… trừ nạn vua.

Lại nữa, lúc ấy các Tỉ-kheo-ni đi đường, có người già cả bệnh hoạn theo không kịp chúng bạn phải nghỉ một mình, tâm sinh nghi, đến hỏi Đại Ái Đạo. Đại Ái Đạo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: “Người không có lòng dục thì không có tội”. Thế rồi, Phật bảo Đại Ái Đạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

—Nếu Tỉ-kheo-ni sống tách rời Tỉ-kheo-ni khác trong một đêm—trừ khi khác, khi khác tức là lúc bệnh hoặc bị bọn giặc nổi loạn vây thành, đó gọi là khi khác—thì phạm sơ tội.

GIẢI THÍCH:

Nghỉ một đêm: Từ lúc mặt trời chưa lặn đến bình minh hôm sau xuất hiện.

Trừ khi khác: Không có lòng dục, sống cách ly, già bệnh, bị bọn giặc nổi loạn vây thành, nếu lúc ấy đang ở trong thành thì không nên ra ngoài, hoặc đang ở ngoài thành thì không nên đi vào. Đó gọi là khi khác. Đây là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Tăng-già-bà-thi-sa: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni tách rời Tỉ-kheo-ni khác mà ngủ từ khi mặt trời chưa lặn cho đến bình minh xuất hiện, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tách rời Ni chúng từ khi mặt trời đã lặn cho đến bình minh xuất hiện, thì phạm tội Thâu-lan-giá.

Nếu Tỉ-kheo-ni ngủ chung với nhau trong phòng ở Tăng-già-lam thì nên nằm cách nhau trong vòng một cánh tay giang ra, rồi trong một đêm nên dùng tay sờ tìm người kia ba lần; nhưng không được sờ tìm ba lần trong một lúc, mà phải đầu đêm một lần, giữa đêm một lần và cuối đêm một lần. Nếu đầu đêm không sờ tìm người kia thì phạm tội Việt tì-ni; giữa đêm không sờ tìm cũng phạm tội Việt tì-ni; cuối đêm không sờ tìm cũng phạm tội Việt tì-ni. Nếu cả ba thời đều có tìm xem thì không có tội.

Nếu người ngủ trên gác, kẻ ngủ dưới gác khác chỗ nhau thì một đêm phải đi qua lại trông nom ba lần. Nếu ngủ trong trường hợp như vậy tại Tăng-già-lam thì phạm tội Thâu-lan-giá. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).