LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI PHÁP CỦA TỈ-KHEO-NI

NÓI RÕ PHẦN THỨ NHẤT CỦA 19 PHÁP TĂNG TÀN

8. GIỚI: ĐỘ NGƯỜI PHẠM TỘI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có người vợ của lực sĩ ở ấp A-ma-la còn trẻ, đoan chính, tư thông với người khác. Chồng cô nói: “Em đừng làm như vậy nữa, nếu còn tiếp tục thì anh sẽ trị tội em như vậy, như vậy”. Thế nhưng người vợ vẫn tiếp tục tư thông không bỏ. Người chồng bèn theo dõi bắt gặp hai người đang hành sự, trói lại đem đến quan xử kiện, nói: “Vợ tôi tư thông với người này, xin quan trên dùng pháp luật trị tội giúp tôi”. Viên quan hình pháp nói: “Nếu người nữ tư thông với kẻ khác thì phải trình diện trước hai chúng trong bảy ngày. Sau khi trình diện bảy ngày, phải bị phanh thây trước hai gia đình”. Đoạn, viên quan nói với người vợ ấy: “Ngươi hãy trở về, nếu trong nhà có của thì phải chuẩn bị các dụng cụ bố thí ẩm thực. Nếu trong nhà không có của thì tùy ý. Sau khi đủ bảy ngày sẽ bị phanh thây trước hai chúng”.

Thế rồi, cô ấy trở về nhà, sắm sửa các thứ ẩm thực bố thí cho hai chúng; rồi cô ngồi ở chỗ vắng khóc lóc. Các bà mẹ thấy thế hỏi:

—Vì sao mà con khóc?

—Sau bảy ngày nữa con sẽ bị phanh thây trước hai chúng mà không khóc sao được?

—Con có muốn được sống không?

—Muốn.

—Con hãy đến chỗ Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở thành Xá-vệ cầu xin xuất gia thì có thể được sống.

Vì mọi người đang say rượu nên cô này theo kế hoạch lặng lẽ lén đi, đến thành Xá-vệ, cô hỏi người ta: “Tăng-già-lam của Tỉ-kheo-ni ở chỗ nào vậy?”. Họ bèn chỉ chỗ. Cô đi vào đó, rồi hỏi người khác: “Phòng của Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở đâu vậy?”. Họ bèn chỉ phòng. Cô liền vào phòng, bạch:

—Thưa thánh giả, con muốn xuất gia.

—Phu chủ đã cho phép con chưa?

—Cho phép như thế nào?

—Nếu chưa lấy chồng thì cha mẹ cho phép; nếu đã lấy chồng thì cha mẹ chồng, chồng và chú chồng cho phép. Đó là cho phép.

—Nếu như vậy thì con phải tự cho phép, vì các người trong thân tộc đều muốn con phải bị phanh thây, đã vứt bỏ con rồi.

—Nếu quả như vậy thì họ đã quyết tâm bỏ con.

Thế là Ca-lê độ cô ấy xuất gia cho thọ Cụ túc. Chồng cô đi tìm kiếm để trị tội mà không thấy. Anh ta nghe nói có Tỉ-kheo-ni ở thành Xá-vệ đã độ cho xuất gia rồi, bèn đi đến thành Xá-vệ hỏi dân chúng: “Tinh xá Tỉ-kheo-ni ở nơi nào vậy?” Dân chúng chỉ chỗ. Rồi ông đi vào tinh xá hỏi: “Phòng của Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở đâu vậy?”. Họ liền chỉ chỗ. Ông bước vào phòng hỏi:

—Thánh giả là Tỉ-kheo-ni Ca-lê phải không?

—Hỏi để làm gì?

—Tôi không bỏ vợ, vì sao Ni sư độ cho xuất gia?

—Này thiện sĩ, nhà ông ở đâu vậy?

—Ở tại ấp A-ma-lặc.

—Quân chết tiệt, ngươi là quân giặc, ngươi không biết sao? Người ấp A-ma-lặc thường đến đây dò la tin tức của nước ta để làm gián điệp.

Đoạn, Ca-lê nói với đệ tử: “Lấy y của ta đưa đây, ta sẽ đi báo cho vua tóm cổ tên chết tiệt này”.

Anh ta nghe thế, suy nghĩ: “Tỉ-kheo-ni này trương mắt ra nhìn hung tợ, có thể làm việc ác”. Nghĩ thế, anh ta từ từ rút lui. Khi ra ngoài rồi, nổi giận mắng: “Vị Sa-môn ni này lén độ vợ ta mà còn muốn bắt trói ta”.

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Đại Ái Đạo. Đại Ái Đạo liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni Ca-lê đến. Khi cô tới rồi, Phật liền quở trách: “Này Ca-lê, đó là việc phi pháp. Vì sao ngươi biết kẻ đó phạm tội, những người thân của họ muốn trị tội mà độ cho xuất gia? Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy. Từ nay về sau, Ta không cho phép, khi biết người nữ kia phạm tội, mọi người muốn trị tội, mà độ cho xuất gia”.

Lại nữa, tại ấp Kiền-đề của dòng họ Thích Ca có người con gái—Như trên đã nói—cho đến, cô nói với Tỉ-kheo-ni:

—Xin độ con xuất gia?

—Trước đây con đã phạm tội như thế thì không thể xuất gia được.

Thế rồi, cô đi đến các Tỉ-kheo-ni khác, nhưng họ đều không độ. Cô bèn đi đến ngoại đạo xin xuất gia. Người chồng muốn tìm cô về trị tội, nhưng không biết ở đâu, thì nghe nói cô đã được ngoại đạo độ cho xuất gia tại thành Xá-vệ. Anh ta suy nghĩ: “Người này vốn là con của Ưu-bà-tắc mà nay bị rơi vào trong hàng ngũ ngoại đạo tà kiến, cần phải trị tội, nhưng không thể tìm ra”.

Nếp sống của các ngoại đạo là uống nước vo gạo và nước rửa chảo, sống lõa thể vô liêm sỉ, mà còn đánh vợ không biết tiếc thương. Thế nên, người phụ nữ ấy chán ngán, tự nhủ: “Đây không phải là phép tắc xuất gia”, liền bỏ đi, đến tinh xá của Tỉ-kheo-ni bạch rằng: “Con từ trên bờ vỡ rơi xuống hầm sâu, sắp sa vào địa ngục, xin hãy kéo con lên, cho con xuất gia”.

Các Tỉ-kheo-ni đều không dám độ. Thế là, cô đến bạch với Đại Ái Đạo: “Thưa thánh giả, con vốn là con gái của dòng họ Thích, mà nay bị rơi xuống hầm sâu, xin độ con xuất gia”. Đại Ái Đạo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: “Được phép độ. Nếu trước đó ngoại đạo đã độ, thì sau đó cho phép xuất gia”.

Thế rồi, Phật bảo Đại Ái Đạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

—Nếu Tỉ-kheo-ni biết người nữ phạm tội, những người thân thích muốn trị tội, mà độ họ—trừ khi khác; khi khác là khi ngoại đạo đã độ trước, đó gọi là khi khác—thì phạm sơ tội.

GIẢI THÍCH:

(Một số từ trên đã giải thích).

Chúng: Hai chúng tập họp, nghĩa là gồm những người bên phía cha mẹ đẻ và những người bên nhà chồng.

Thân thích: Tức tộc họ Bà-la-môn, tộc họ Sát-lợi, tộc họ Tì-xá, tộc họ Thủ-đà-la.

Trị tội: Hoặc trói, bọc lại để thiêu; hoặc bỏ vào trong bao cát, cột miệng bao lại, thả chìm dưới nước; hoặc dùng lửa đốt đầu; hoặc cắt tai, cắt mũi; hoặc dùng thanh sắt đốt nóng áp vào âm hộ; hoặc đem phân thây, quốc pháp có các loại khác nhau như thế. Ngoại trừ trước đó họ đã xuất gia theo ngoại đạo, rồi độ họ xuất gia, thì Thế Tôn bảo là không có tội.

Ngoại đạo: Như Ni-kiền-đế-lê, Đàn-trì-già, đại loại các ngoại đạo như thế.

Đấy là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa: Như trên đã nói.

Nếu Tỉ-kheo-ni biết người nữ phạm tội đáng trị phạt mà độ cho xuất gia thì phạm tội Việt tì-ni.

Nếu cho họ học pháp thì phạm tội Thâu-lan-giá.

Nếu cho thọ Cụ túc thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).