LUẬT MA HA TĂNG KỲ

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 11.

BẢY TRĂM VỊ ĐẠI HỘI KẾT TẬP. PHÁP TẠNG.

Sau khi Phật Niết-bàn (khoảng 100 năm), các trưởng lão Tỉ-kheo ở Tăng-già-lam Sa-đôi, tại Tỳ-xá-li, theo xin các đàn việt, nói những lời bi ai như sau:

“Này Lão trượng, khi đức Thế Tôn còn tại thế, chúng tôi được cúng dường bữa ăn trước, bữa ăn sau và các y phục, nay Thế Tôn đã Niết-bàn, chúng tôi trở thành cô độc, đâu có ai cho thứ gì. Các vị nên bố thí tài vật cho Tăng”.

Lúc ấy, có người cho một đồng, hai đồng, cho đến mười đồng. Thế rồi, họ đựng số tiền ấy vào trong cái thau, đến ngày Bố tát, họ dùng cái chén nhỏ đong số tiền ấy phân chia cho từng người theo thứ tự. Lúc ấy, vị Tỉ-kheo trì luật là Da-xá được chia đầu tiên, liền hỏi:

—Đây là những thứ gì vậy?

—Đó là số tiền để mua thuốc men được phân chia theo thứ tự vậy.

—Đi qua đi.

—Vì sao bảo đi qua? Trưởng lão định cúng dường cho Tăng sao?

—Đó là những vật bất tịnh.

—Thầy đã hủy báng Tăng, nói là vật bất tịnh, thế thì phải làm Yết-ma cử tội.

Đoạn, chư Tăng làm Yết-ma cử tội Da-xá. Thế rồi, Da-xá bèn đi đến chỗ tôn giả Đà-ta-bà-la đang ở nước Ma-thâu-la, nói với tôn giả như sau:

—Thưa trưởng lão, tôi bị Tăng cử tội bắt thi hành pháp tùy thuận.

—Thầy vì cớ gì mà bị cử tội?

—Thưa trưởng lão, sự việc xảy ra như vậy, như vậy.

—Thầy không có tội gì mà bị cử tội. Vậy, tôi sẽ san sẻ pháp thực, vị thực cùng với thầy.

Da-xá nghe dạy như thế, liền thưa với chúng tăng:

—Thưa các trưởng lão, chúng ta phải kết tập lại Tạng luật, đừng để Phật pháp bị suy đồi.

—Thầy định kết tập tại đâu?

—Hãy trở lại nơi đã xảy ra sự việc mà kết tập.

Bấy giờ, chư Tăng tại nước Ma-thâu-la kết hợp với chư Tăng thành Xá-Vệ gồm có bảy trăm người, tập trung về một nơi. Trong số đó, có người trì một bộ Luật, có người trì hai bộ Luật, lại có người trực tiếp thọ lãnh từ Thế Tôn, có người thọ lãnh từ hàng Thanh văn. Thế là, khi ấy tại Tăng-già-lam Sa-đôi, thành Tì-xá-li, các giường nệm đều được chuẩn bị tươm tất để bảy trăm vị Tăng mở đại hội. Trong số này, có người là phàm phu, có người đang học, có người vô học, có vị chứng tam minh, lục thông được tự tại vô ngại. Lúc này, các vị Đại Ca-diếp-đạt-đầu-lộ, Ưu-ba-đạt-đầu-lộ, tôn giả A-nan đều đã nhập Niết-bàn cả.

Bấy giờ, vị Thượng tọa của chúng Tăng là tôn giả Du-thâu-đà cất tiếng hỏi: “Ai nên kết tập Luật tạng?”. Các Tỉ-kheo đáp: “Tôn giả Đà-ta-bà-la nên kết tập”.

Đà-ta-bà-la thưa: “Thưa các trưởng lão, còn có các trưởng lão Tỉ-kheo khác, nên mời các vị ấy kết tập”.

Các Tỉ-kheo nói: “Tuy có các Thượng tọa khác, nhưng đức Thế Tôn đã tuyên bố rằng Hòa thượng bổn sư của trưởng lão đã thành tựu 14 pháp, trì luật đệ nhất, mà trưởng lão từng thọ giáo trực tiếp, vậy nên kết tập”.

Đà-ta-bà-la nói: “Nếu bảo tôi kết tập, thì những gì như pháp xin tùy hỷ, những gì không như pháp xin ngăn lại, những gì không tương ưng cũng xin ngăn lại, đừng vì tôn trọng tôi mà để yên. Nói chung, những gì đúng nghĩa, không đúng nghĩa đều xin chỉ bảo cho biết”.

Mọi người đều đáp: “Vâng”.

Bấy giờ, tôn giả Đà-ta-bà-la suy nghĩ: “Nay ta kết tập Luật Tạng như thế nào đây? Có năm pháp thanh tịnh, những gì như Pháp, như Luật thì Tăng sẽ tùy hỷ, những gì không như Pháp, như Luật thì Tăng sẽ ngăn cản. Năm pháp đó là gì? Đó là: Một là chế hạn tịnh, cho đến phong tục tịnh”. Thế rồi, thầy nói với chúng Tăng:

—Thưa các trưởng lão, đây là thứ tự của 9 pháp: Từ 4 Ba-la-di cho đến pháp, tùy thuộc pháp, tôi đã được nghe từ Hòa thượng rằng đức Thế Tôn tại mỗ xứ, mỗ xứ, vì Tỉ-kheo mỗ giáp, mỗ giáp mà chế giới này, thưa có phải vậy không?

—Đúng như vậy, như vậy.

—Thưa các trưởng lão, về năm việc thuộc giới luật như trên đã đề cập, trong đó nói rằng ai cần bát thì tìm bát, cần y thì tìm y, cần thuốc thì tìm thuốc, còn ai không có phương tiện thì được xin vàng bạc và tiền mặt. Như vậy đó, mong các trưởng lão hãy tùy thuận học tập.

Đó gọi là trình bày tóm lược về việc bảy trăm người kết tập Luật tạng.

GIỚI LUẬT.

Khi Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích bên cây Ni-câu-luật thuộc thành Ca-duy-la-vệ; lúc ấy có hai Tỉ-kheo ni, người thứ nhất tên Nan-đà, người thứ hai tên Uất-đa-la, theo Phật xin sáu tháng giáo giới như sau: “Lành thay Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói sơ lược về Giới luật để chúng con được rõ”.

Phật nói với các Tỉ-kheo ni: “Này các Tỉ-kheo ni, tham dục, không hiểu nhân duyên, cùng nhau tập theo thói quen, luận bàn về việc thế tục, làm tăng trưởng thọ ấm, đa dục, không biết dừng lại, làm tăng trưởng tham dục, sân hận, ngu si, tranh tụng không hòa hợp, chẳng tịch tịnh, chẳng tỉnh giác, chẳng có Niết-bàn. Các ngươi phải biết rằng đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy. Trái lại, các ngươi phải biết rằng không ham muốn, hiểu rõ nhân duyên, không tập theo thói quen, không bàn luận việc thế tục, không làm tăng trưởng thọ ấm, ít muốn, biết đủ, không tham dục, sân hận và ngu si, lìa xa việc tranh tụng, sống hòa hợp, tịch tịnh, tỉnh giác, sẽ đạt Niết-bàn. Các ngươi phải biết rằng, đó là pháp, là Luật, là điều ta dạy. Và đây chính là nói tóm tắt về Giới Luật.

Kệ tóm tắt:

“Dùng dao trị, bình tưới,
Cạo tóc và dao cạo.
Hòa hợp, không hòa hợp,
Năm trăm và bảy trăm.
Nói tóm tắt Giới Luật,
Kết thúc phần thứ mười”.

HỦY BÁNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, nhóm 6 Tỉ-kheo hủy báng các Tỉ-kheo khác về thành phần chủng loại. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm 6 Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

—Này các Tỉ-kheo, các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Đó là việc ác. Từ nay về sau, Ta không cho phép hủy báng người khác.

Hủy báng: bao gồm các phương diện: nghiệp, địa vị, dòng họ, tướng mạo, bệnh, tội lỗi, mắng mỏ, kiết sử.

Nghiệp: gồm có: nói, tự biện hộ, có người.

Nói: chẳng hạn nói: “Này trưởng lão, trong đây có kẻ Chiên-đà-la, thợ đan giỏ, thợ làm da, thợ gốm, cho đến cai ngục, kẻ hàng thịt.v.v…” Đó gọi là nói.

Tự biện hộ: chẳng hạn nói: “Thưa trưởng lão, tôi không phải là Chiên-đà-la, cho đến không phải là cai ngục, là kẻ hàng thịt v.v…” Đó gọi là tự biện hộ.

Có người: như trong đây có người là Chiên-đà-la, cho đến kẻ cai ngục.v.v… Đó gọi là có người.

Các vấn đề khác như địa vị, dòng họ, tướng mạo, bệnh, tội lỗi, kiết sử cũng như thế. Nếu ai đem các vấn đề trên ra hủy báng người khác thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là hủy báng.

KỸ NHẠC.

Khi Phật an trú tại vườn trúc Ca-lan-đà, lúc ấy, nhóm 6 Tỉ-kheo đi đến tụ điểm ca nhạc sớm nhất để xem, như là Tỉ-kheo đến chỗ ngồi thiền. Các nhạc công tụ họp xong bèn hòa nhạc. Trong lúc mọi người đều vui vẻ, cười nói, thì các Tỉ-kheo ngồi im lặng. Đến khi họ dứt cười, các Tỉ-kheo bèn vỗ tay cười ầm lên. Mọi người liền tranh nhau nhìn xem. Do thế, các nhạc công không thu được tiền, liền nổi xùng, nói: “Các Tỉ-kheo này cà chớn, làm cho chúng ta không thu được tiền bạc gì cả. Đây là hạng người bại hoại, có đạo nào mà như thế!”.

Các Tỉ-kheo nghe như vậy, liền đem việc đó đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi nhóm 6 Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

—Các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Đó là việc xấu. Từ nay về sau Ta không cho phép các Tỉ-kheo đi xem nhạc công hòa nhạc.

Nhạc công: chẳng hạn những người đánh trống, ca múa, đánh đàn Tì-bà, đánh xập xõa, đại khái chơi các loại nhạc cụ như thế, thậm chí dù chỉ bốn người họp lại vui chơi, Ta cũng không cho phép đến xem.

Nếu Tỉ-kheo vào xóm làng, thành phố mà gặp Thiên tượng xuất hiện, hay vua xuất hiện, có các nhạc công trổi các thứ nhạc, mình đi qua đường nhìn thấy thì không có tội. Nhưng nếu tạo phương tiện để xem thì phạm tội Việt tì-ni.

Nếu vào các ngày đại hội sinh nhật của Phật, ngày kỷ niệm Phật thành đạo, kỷ niệm ngày chuyển pháp luân, năm năm đại hội một lần, có sử dụng các nhạc phẩm để cúng dường đức Phật, rồi đàn việt nói: “Xin các tôn giả hãy hòa mình với chúng con để cúng dường đức Thế Tôn”, thì khi ấy được hòa mình chung vui với họ. Nhưng nếu tại nơi đại hội có trổi các nhạc phẩm mà mình sinh tâm nhiễm trước, thì nên đứng dậy bỏ đi. Đó gọi là kỹ nhạc.

HƯƠNG HOA.

Khi Phật an trú tại thành Vương-xá, lúc ấy nhằm ngày lễ hội, Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà thuộc nhóm 6 Tỉ-kheo dùng hương thơm thoa vào mình, mang các vòng hoa Ưu-bát-la, hoa Chiêm-bặc, có người còn mang cả vòng hoa cỏ mà đi, nên bị người đời chê cười rằng: “Vì sao Sa-môn Thích tử mà mang những vòng hoa Ưu-bát-la, hoa Chiêm-bặc, giống như vương tử, đại thần? Thậm chí có người còn mang cả vòng hoa cỏ giống như kẻ tôi đòi hạ tiện. Đây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!”

Các Tỉ-kheo nghe thế, liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo đi gọi nhóm 6 Tỉ-kheo đến. Khi họ tới rồi, Phật liền hỏi:

—Này các Tỉ-kheo, các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Từ nay về sau, Ta không cho phép thoa hương, mang vòng hoa.

Hương: Như loại hương chiên đàn trầm thủy, và các loại hương tương tự như thế đều không được dùng. Nhưng nếu mắc bệnh nhiệt, mà thầy thuốc bảo: “Cần phải dùng hương chiên đàn để thoa” thì khi ấy được dùng để thoa. Nhưng trước khi thoa, phải cúng dường tháp Phật rồi mới đem thoa vào mình. Khi thoa vào mình không được ở trong chúng mà phải ở tại chỗ vắng vẻ. Đến khi lành bệnh, phải tắm rửa thân thể sạch sẽ rồi mới vào trong chúng.

Hoa: Như hoa Ưu-bát-la, hoa Chiêm-bặc, hoa Tu-ma-đầu, tất cả các loại hoa như thế không nên mang.

Nếu Tỉ-kheo bị bệnh đau mắt, đau đầu, rồi thầy thuốc bảo phải mang vòng hoa trên đầu bệnh mới lành, thì được phép mang. Nhưng khi muốn mang thì nên đem cúng tháp Phật trước rồi mới mang. Khi đã mang thì không được tới chỗ đông người mà phải ở chỗ thanh vắng, và khi bệnh lành thì phải bỏ.

Nếu thoa hương mà không mang hoa thì phạm một tội Việt tì-ni.

Nếu mang hoa mà không thoa hương thì phạm một tội Việt-tì-ni.

Nếu dùng cả hai thì phạm hai tội,

Nếu cả hai đều không dùng thì không có tội.

Đó gọi là thoa hương, mang hoa.

SOI GƯƠNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, ở tinh xá Kỳ-hoàn, có đàn việt đến cúng dường trai phạn cho chúng tăng. Khi đánh kiền chùy thì Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đang soi gương, hồi lâu không đến, nên bị đàn việt chê trách rằng: “Ta bỏ cả việc nhà, đến đây cúng dường trai phạn cho Tăng, mà đến giờ ăn, các Tỉ-kheo không chịu tập họp”.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên thế Tôn. Phật liền bảo gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

—Các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Từ nay về sau, Ta không cho phép soi gương. Gương chỉ cho các loại như dầu, nước, kính; không được vì thích đẹp mà đến soi mặt vào các thứ đó.

Nếu vừa bớt bệnh, đến gương soi mặt xem bệnh đã bớt hay chưa, hoặc vừa mới cạo đầu đến soi xem có sạch hay không sạch, hoặc đầu mặt bị ghẻ góc, đến soi xem, thì không có tội.

Nếu vì thích đẹp mà soi gương thì phạm tội Việt-tì-ni.

Đó gọi là soi gương.

GÁNH VÁC.

Khi Phật an trú tại tinh xá Khoáng-dã, bấy giờ thầy Tỉ-kheo doanh sự gánh vác gạch ngói, đất cát, bị người đời đàm tiếu rằng: “Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như kẻ nô bộc, người làm công, gánh vác đất cát? Đây là hạng người bại hoại, có đạo nào như thế!”

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo doanh sự đến. Khi thầy tới rồi, Phật liền hỏi:

—Này Tỉ-kheo, ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Từ nay về sau, Ta không cho phép gánh vác.

Gánh vác: Như gánh vác các thứ giỏ dây, lồng.

Nếu vác đòn gánh mà không có giỏ thì phạm tội Việt-tì-ni tâm hối.

Nếu vác giỏ, không có đòn gánh thì phạm tội Việt-tì-ni tâm hối.

Nếu gánh vác cả hai thì phạm tội Việt-tì-ni.

Nếu tại Tinh xá, Thiền viện có đá, tre, gỗ nặng thì được gánh vác.

Nếu được tăng phân công làm công việc phải dùng bình, lu lấy nước, thì được dùng dây buộc lại rồi gánh.

Nếu gánh túi xách y ở đàng trước, đàng sau, hay gánh túi đựng bát ở đàng trước đàng sau, đều phạm tội Việt tì-ni.

Nếu túi y dài lòng thòng nên phải cuộn lên vai rồi đặt bát lên trên thì không có tội,

Đó gọi là gánh vác.

XĂN QUẦN ÁO.

Khi Phật an trú tại tinh xá Khoáng-dã, lúc ấy thầy Tỉ-kheo doanh sự xăn y áo để chuyên chở gạch đá, đất cát, bị người đời đàm tiếu rằng: “Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như kẻ nô bộc người ta, xăn áo để làm việc? Đây là hạng người bại hoại, có đạo nào như thế?”.

Các Tỉ-kheo nghe thế, bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo doanh sự đến. Khi thầy tới rồi, Phật liền hỏi:

—Này Tỉ-kheo, ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Từ nay về sau, Ta không cho phép xăn y áo.

Xăn: Nghĩa là xăn một bên, hai bên, đều không được phép. Nếu nhồi đất để đổ trên mái nhà hoặc tô tường thì được xăn nội y.

Đó gọi là xăn quần áo.

LEO CÂY.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, đức Thế Tôn đến xứ Uất-đơn-việt khất thực. Lúc ấy, các Tỉ-kheo suy nghĩ: “Khi Thế Tôn trở về chắc chắn sẽ dùng thần túc mà đi”. Thế nên, có người leo lên cây, người leo lên tường để trông ngóng Thế Tôn. Thế Tôn biết tâm niệm các Tỉ-kheo như vậy nên ẩn thân, trở về ngồi an ổn trong phòng. Rồi Phật hỏi: “Các Tỉ-kheo đi đâu cả?”. Một Tỉ-kheo bèn đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: “Từ nay về sau, Ta không cho phép leo cây”.

Cây: Nếu cây cao ngang đầu người thì không được leo.

Nếu làm lễ kỷ niệm cây Bồ đề mà một chân trèo lên cây, một chân trèo lên tường, thì phạm tội Việt tì-ni tâm hối.

Nếu cả hai chân đều leo lên cây thì phạm tội Việt tì-ni.

Nếu cả hai chân đều leo lên tường thì không có tội.

Trường hợp leo lên thang cũng như thế.

Nếu đang đi bị lạc đường không rõ phương hướng, phải leo lên cây nhìn phương hướng thì không có tội.

Nếu bị cọp, sói, sư tử v.v… , các loại tương tự như thế uy hiếp, thì được trèo lên cây, không có tội.

Đó gọi là leo cây.

NHÓM LỬA.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, đến giờ khất thực, Thế Tôn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực. Sau khi khất thực trở về, Thế Tôn thu dọn giường nệm, không nói với thị giả và Tỉ-kheo tăng, Ngài đi đến nước Câu-tát-la, vào rừng Ba-lợi-da-bà-la, an trú dưới cây Hiền thiện, nhận sự cúng dường của con voi chúa trong ba tháng. Đoạn nói về việc trời lạnh, tuyết rơi lúc phi thời, các Tỉ-kheo nhóm lửa để sưởi, bị người đời dị nghị rằng: “Sa-môn Cù-Đàm dùng vô lượng phương tiện khiển trách sự sát sinh, khen ngợi không sát sinh, thế mà giờ đây, Tỉ-kheo đốt lửa làm cháy đất, hại đến gốc cây”.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi, Phật dạy: “Từ nay về sau, Ta không cho phép nhóm lửa”. Lửa gồm có các thứ như: lửa củi, lửa cỏ, lửa phân bò, lửa trấu, lửa dăm bào. Không được đốt chỗ đất chưa bị cháy. Nếu đến phiên mình coi sóc nhà sưởi, hoặc đến phiên trực nguyệt, phiên hun bát, thì nên sai tịnh nhân nhóm lửa trước, rồi mình mới chụm lửa thì không có tội.

Khi cầm đuốc đi, muốn dụi tắt đuốc, thì không được dụi ở chỗ đất sống mà nên dụi trên đống tro, hoặc trên ngói gạch. Nếu tàn đuốc rơi xuống đất, rồi mình đập cho tắt, thì không có tội.

Nếu nhóm lửa ở chỗ đất chưa bị cháy thì phạm tội Việt tì-ni.

Đó gọi là nhóm lửa.

CHÉN ĐỒNG.

Khi Phật an trú tại thành Vương-xá, bấy giờ cư sĩ Uất-Kiệt mở cuộc đại thí, bố thí 500 con voi, 500 con ngựa, 500 con bò, 500 con trâu, 500 tì nữ, 500 nô bộc, trong các thứ bố thí có cả chén đồng. Các Tỉ-kheo tâm sinh nghi, liền đến hỏi Thế Tôn rằng đó là vật thanh tịnh (hợp pháp), hay không thanh tịnh, nên nhận hay không nên nhận. Phật dạy: “Tất cả chén đồng Ta đều không cho phép nhận. Nếu đàn việt cúng dường Tăng vật thanh tịnh thì nên chú nguyện rồi mới nhận. Nếu ai cất riêng chén đồng thì phạm tội Việt tì-ni, nhưng được đem nó cho tịnh nhân, rồi mượn sử dụng thì không có tội”.

Đó gọi là chén đồng.

CHUYỂN HƯỚNG VẬT CÚNG DƯỜNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, được chư thiên, người đời có lòng tin tôn trọng, đem các thực phẩm đến cúng dường Phật, Tỉ-kheo Tăng, tôn giả Xá-lợi-phất, Đại-mục-liên và các Tỉ-kheo khác. Lúc ấy, nhóm 6 Tỉ-kheo sáng sớm ra đứng trước cổng tinh xá, thấy người ta mang thức ăn đến, liền hỏi:

—Thức ăn này cúng dường cho ai vậy?

—Cúng dường cho Thế Tôn.

—Thế Tôn nên cúng dường. Thế còn thức ăn này cúng dường cho ai?

—Cúng dường cho chúng Tăng.

—Chúng Tăng nên cúng dường. Thế còn thức ăn này cúng dường cho ai?

—Cúng dường cho tôn giả Xá-lợi-phất và Đại-mục-liên.

—Những người này nên cúng dường. Còn thức ăn này cúng dường cho ai?

—Cúng dường cho Tỉ-kheo mỗ giáp.

—Mỗ giáp già bệnh, không thể ăn được, chỉ phí đồ cúng dường của ngươi thôi; nên cúng dường cho ta, ta sẽ chú nguyện cho ngươi để ngươi được công đức cúng dường.

Khi ấy, người kia vì có niềm tin liền cúng dường. Thế nhưng, gặp kẻ có trí không chịu cúng, mà nói: “Vì sao ta lại cúng dường cho kẻ không biết hổ thẹn này?”.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, cho đến Phật hỏi nhóm 6 Tỉ-kheo:

—Các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Đó là việc ác. Vì sao các ông biết phẩm vật đó thí chủ định cúng dường cho người khác mà bảo họ cúng dường cho mình? Từ nay về sau, Ta không cho phép khi biết vật thí chủ định cúng dường cho người khác mà bảo cúng cho mình.

Vật: Gồm có tám thứ: thức ăn đúng giờ, cho đến các vật hợp lệ không hợp lệ, như trên đã nói rõ.

Nếu người ta hỏi: “Thưa tôn giả, con muốn cúng dường, vậy nên cúng dường nơi nào?”, thì nên đáp: “Cúng dường cho chúng Tăng”.

Nếu thí chủ hỏi: “Nơi nào có chư Tăng trì giới?”, thì nên nói: “Không có vị Tăng nào lại phạm giới; ngươi chỉ lo việc cúng dường mà thôi”.

Nếu thí chủ hỏi: “Nơi nào có Tỉ-kheo thường ở yên một chỗ tu tập hạnh nghiệp, để vật cúng dường còn mãi tại đó con được thấy luôn?”, thì khi ấy hãy nói: “Nên cúng dường cho Tỉ-kheo mỗ giáp”.

Nếu biết vật đó thí chủ định cúng cho Tăng mà bảo họ cúng cho mình, thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề.

Nếu biết vật đó họ định cúng cho Tăng, mà bảo họ cúng cho người khác, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu biết vật đó họ định cúng cho nhóm người này mà bảo họ cúng cho nhóm người khác, hoặc biết họ định cúng cho một người này mà bảo họ cúng cho một người khác, thì phạm tội Việt tì-ni.

Cuối cùng, nếu biết vật đó họ bố thí cho súc sinh này mà bảo họ bố thí cho súc sinh khác thì phạm tội Việt tì-ni tâm hối.

Đó gọi là chuyển hướng vật cúng dường.

Kệ tóm tắt:

“Hủy báng, xem tấu nhạc,
Mang vòng hoa, soi gương.
Gánh vác, xăn áo quần,
Trèo cây, tự nhóm lửa.
Chén đồng, chuyển hướng vật,
Hết phần thứ mười một”.