LUẬT MA HA TĂNG KỲ

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 11.

PHÁP DIỆT TRÁNH.

Pháp này gồm có 7, đó là: 1. Hiện tiền tì-ni; 2. Ức niệm tì-ni; 3. Bất si tì-ni; 4. Tự ngôn tì-ni; 5. Mích tội tướng tì-ni; 6. Đa mích tì-ni; 7. Thảo bố địa tì-ni. Đó gọi là pháp diệt tránh (những nguyên tắc dùng để dập tắt sự tranh cãi).

SỰ TRANH CÃI.

Gồm có 4 trường hợp, đó là: 1. Tướng ngôn tránh; 2. Phỉ báng tránh; 3. Tội tránh; 4. Thường sở hành sự tránh. Đó là 4 trường hợp nảy sinh tranh cãi.

ĐIỀU PHỤC.

Gồm có: 1. Yết-ma chiết phục; 2. Yết-ma bất ngữ; 3. Yết-ma khu xuất; 4. Yết-ma phát hỉ; 5. Yết-ma cử (tội); 6. Yết-ma biệt trú. Đó gọi là điều phục.

Các việc cần điều phục.

Thuộc về 5 nhóm tội: 1. Ba-la-di; 2. Tăng-già-bà-thi-sa; 3. Ba-dạ-đề; 4. Ba-la-đề-đề-xá-ni; 5. Việt tì-ni. Đó gọi là các việc cần điều phục.

NGHE PHÁP.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Có cho phép chúng con làm nhà tranh không?

—Cho phép.

—Bạch Thế Tôn! Có cho phép xây vách, làm cánh cửa, làm ngưỡng cửa, trét đất, vẽ 5 loại hình ảnh không?

—Cho phép. Này các Tỉ-kheo! Như trong thời quá khứ có vị vua tên là Cát-lợi làm tinh xá cho Phật Ca-diếp một tầng, hai tầng cho đến bảy tầng. Thế rồi, ông cho chạm khắc các hình tượng và cho vẽ các thứ chỉ trừ hình tượng nam nữ giao hợp. Các loại hình tượng đó là: Tượng Tỉ-kheo trưởng lão; chùm trái nho; hình cá ma-kiệt; hình con ngỗng; tượng tử thi; hình núi rừng. Các loại tương tự như thế gọi là năm loại hình vẽ.

Khi Phật ở tại thành Xá-vệ cho phép làm phòng; lúc ở thành Tì-xá-li cho phép dùng sữa, sữa chua, sữa đóng váng; lúc ở tinh xá Khoáng Dã cho phép dùng cá, thịt. Ngài cho phép dùng các thứ như thế, chế định các thứ như thế đều tại 8 thành phố lớn sau đây:

1. Thành Xá-vệ;

2. Sa-kì;

3. Chiêm-bà;

4. Ba-la-nại;

5. Câu-diệm-di;

6. Tì-xá-ly;

7. Vương Xá;

8. Ca-tì-la-vệ.

Đối với 9 bộ kinh, nếu có quên nơi thuyết giảng thì có thể kể tên một trong 8 thành phố lớn ở trên, chính là nơi mà Thế Tôn đã tuyên thuyết.

Đó gọi là nghe pháp.

DẦU THOA MẶT.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có đàn việt đến tinh xá cúng dường trai phạn cho chúng Tăng; lúc nghe tiếng kiền chùy đánh thì Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà còn đang thoa dầu vào mặt, không đến đúng giờ, nên bị đàn việt chê trách. Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi 2 Tỉ-kheo ấy đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

—Các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Từ nay về sau, Ta không cho phép bôi dầu vào mặt. Dầu gồm có các loại: dầu mè; dầu đại ma; dầu hoa a-đề-mục-đa; dầu hoa chiêm-bà… Nếu ai vì trang sức mà thoa các loại dầu thơm như thế lên mặt thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng khi tắm rửa thì được dùng dầu, hoặc khi gội đầu thì được dùng bột, dầu thoa chân đổ trong bàn tay rồi xoa lên mặt thì không có tội.

Đó gọi là phép dùng dầu thoa mặt.

PHÉP DÙNG PHẤN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có đàn việt đến tinh xá Kỳ Hoàn cúng dường trai phạn cho chúng Tăng. Lúc nghe tiếng bảng đánh thì nhóm sáu Tỉ-kheo còn đang thoa phấn lên mặt không đến đúng giờ nên bị đàn việt chê trách. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn, cho đến câu Phật dạy: “Từ nay về sau, Ta không cho phép các Tỉ-kheo dùng phấn bôi lên mặt. Phấn có các thứ như phấn ma-na-thạch, phấn diên tích, đại loại các thứ như thế. Nếu Tỉ-kheo vì thích đẹp, thậm chí bôi đất đỏ lên mặt, thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng nếu trên mặt bị mọc mụt nhọt, sảy thì bôi phấn không có tội, khi thoa không được ở giữa mọi người, mà nên ở chỗ vắng. Đó gọi là phép dùng phấn”.

PHÉP DÙNG BÀN CHẢI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, cho đến nhóm 6 Tỉ-kheo đang bận chải đầu không đến đúng giờ nên bị đàn việt chê trách. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi, Phật nói: “Ta không cho phép Tỉ-kheo dùng bàn chải chải đầu. Bàn chải gồm các thứ như bàn chải bằng lông, bằng rễ cỏ, đại loại các thứ tương tự như thế. Thậm chí nếu vì thích đẹp mà dùng tay vuốt đầu thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng khi cạo đầu xong, dùng tay xoa trên đầu thì không có tội. Đó gọi là phép dùng bàn chải”.

PHÉP DÙNG LƯỢC.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Ngài chế giới không cho phép dùng bàn chải, rồi một hôm đàn việt cúng dường cơm cho chúng Tăng; đến lúc nghe bảng đánh thì Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà còn dùng lược chải đầu, không tới đúng giờ nên bị đàn việt chê trách. Thế rồi, Phật dạy: “Ta không cho phép dùng lược. Lược gồm có các loại như lược bằng răng, lược bằng xương, lược bằng sừng, lược bằng cây. Đại loại tất cả các thứ lược tương tự như thế đều không được phép dùng; thậm chí nếu vì thích đẹp mà dùng tay vuốt đầu thì phạm tội Việt tì-ni. Đó gọi là phép dùng lược”.

PHÉP DÙNG TRÂM.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Thế Tôn chế giới không cho phép dùng lược, cho đến nhóm sáu Tỉ-kheo dùng trâm cài lên đầu, không đến đúng giờ, nên bị đàn việt chê trách, và cuối cùng Phật dạy: “Ta không cho phép dùng trâm. Trâm có các loại như: vàng, bạc, đồng, sắt, kim cương, đá, răng, xương, sừng, tre, gỗ. Nói chung, tất cả các loại tương tự như thế đều không được phép dùng. Thậm chí, nếu vì thích đẹp mà dùng nanh heo chải đầu thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng nếu khi đầu ngứa thì được dùng tay sạch cầm một vật gì đó cào lên đầu. Đó gọi là pháp dùng trâm”.

Kệ tóm tắt:

“Tranh cãi và dập tắt,
Điều phục, việc điều phục.
Nghe pháp, dầu thoa mặt,
Phấn, lược, trâm, bàn chải.
Hết phần thứ mười ba”.