LUẬT MA HA TĂNG KỲ

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ BA.

TỘI TĂNG-GIÀ-BÀ-THI-SA.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, Tỉ-kheo A Lê Tra hủy báng khế kinh, nói với các Tỉ-kheo như sau:

—Thưa Trưởng lão, theo tôi biết pháp mà Thế Tôn thuyết giảng thì những gì gọi là chướùng đạo, khi thực hành chúng không có gì là chướng đạo cả. Các Tỉ-kheo liền khuyên:

—Trưởng lão! Thầy đừng hủy báng khế kinh, hủy báng khế kinh là hành vi ác tà kiến, rơi vào đường ác, đọa xuống địa ngục.

Thầy bèn đáp:

—Đó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện, cha mẹ, Thầy dạy của tôi kế thừa từ xưa đến nay, đều thấy như vậy cả.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo các Tỉ-kheo:

—Nếu Tỉ-kheo A Lê Tra nói rằng: “Thế Tôn thuyết pháp, theo tôi hiểu, thì những gì gọi là chướng đạo khi thực hành chúng không có gì là chướng đạo cả”, thì nên khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần và khuyên can ở giữa chúng Tăng ba lần.

Khi khuyên can ở chỗ vắng, trước hết nên hỏi: “Trưởng lão A Lê Tra, có thật Thầy hủy báng khế kinh, nói rằng: “Thế Tôn thuyết pháp, theo tôi hiểu, thì thực hành những pháp gọi là chướng đạo, không có gì là chướng đạo cả” phải không?”.

Nếu đáp: “Thật như vậy”, thì bấy giờ nên khuyên can ở chỗ vắng như sau: “Này Trưởng lão, Thầy đừng hủy báng khế kinh, hủy báng khế kinh là ác tà kiến, sẽ rơi vào đường ác, đọa xuống địa ngục. Vì lòng từ, muốn được lợi ích cho nên tôi khuyên can Thầy, Thầy hãy bỏ việc này đi. Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần khuyên can nữa, Thầy có bỏ việc này không?”.

Nếu đáp: “Đó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện, cha mẹ và thầy dạy của tôi đã kế thừa từ trước đến nay, đều thấy như vậy cả, tôi không thể bỏ”, thì nên khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba.

Nếu không bỏ thì nên khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần.

Nếu cũng không bỏ nữa, thì nên đem đến giữa Tăng làm yết-ma. Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. “Tỉ-kheo A Lê Tra hủy báng khế kinh, nói như sau: “Theo tôi hiểu pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, thì khi thực hành những pháp gọi là chướng đạo, không có gì là chướng đạo cả”, rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cũng nên khuyên can ba lần.

Thế rồi, nên hỏi Thầy ở giữa Tăng: “Này trưởng lão, có thật Thầy hủy báng khế kinh, nói rằng: “Theo tôi hiểu pháp do Thế Tôn thuyết giảng, thì khi thực hành những pháp gọi là chướng đạo, không có gì là chướng đạo cả” rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều người ba lần, mà không bỏ việc ấy phải không?”.

Nếu đáp: “Đúng như vậy”, thì nên khuyên can ở giữa Tăng như sau: “Trưởng lão, Thầy đừng hủy báng khế kinh, hủy báng khế kinh là việc ác tà kiến, bị rơi vào đường ác, đọa xuống địa ngục. Tăng nay vì lòng từ, muốn làm lợi ích nên khuyên can Thầy. Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần khuyên can nữa, Thầy có bỏ việc này không?” Thầy đáp: “Đó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện, cha mẹ, thầy dạy của tôi đã kế thừa từ trước đến nay, đều thấy như vậy, tôi không thể bỏ”. Rồi được khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba như vậy mà vẫn không bỏ.

Các Tỉ-kheo liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo các Tỉ-kheo:

—Nếu Tỉ-kheo A Lê Tra đã hủy báng khế kinh, rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ, thì Tăng nên làm yết-ma cử tội về việc hủy báng khế kinh mà không bỏ.

Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo A Lê Tra hủy báng khế kinh, nói như sau: “Theo tôi hiểu pháp do Thế Tôn Thuyết giảng, thì khi thực hành những điều gọi là chướng đạo, không có gì là chướng đạo cả”, rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần, khuyên can ở giữa chúng Tăng ba lần mà không bỏ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay làm yết-ma cử tội Tỉ-kheo A Lê Tra về việc hủy báng khế kinh mà không bỏ . Đây là lời tác bạch. (bạch như vậy xong, làm yết-ma ba lần).

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Thi Lợi Da Bà khởi lên ác tà kiến, nói rằng: “Tự mình sát sinh, dạy người sát sinh, cho đến làm ác không có tai họa, làm thiện không có phước báo, không có quả báo thiện ác trong đời này hay đời sau”.

Các Tỉ-kheo bèn khuyên: “Trưởng lão Thi Lợi Da Bà, thầy đừng khởi lên ác kiến, khởi lên ác kiến là bất thiện, sẽ rơi vào ác đạo, đọa xuống địa ngục”.

Thầy liền đáp: “Đó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện, cha mẹ, thầy dạy của tôi kế thừa từ trước đến nay đều thấy như vậy”.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo:

—Nếu Thi Lợi Da Bà khởi lên ác kiến, cho đến nói rằng: “Không có quả báo Thiện ác…”, thì nên khuyên can ba lần ở chỗ vắng, khuyên can ba lần ở chỗ nhiều người, khuyên can ba lần ở giữa chúng Tăng.

Khi khuyên can ba lần ở chỗ vắng, trước hết nên hỏi: “Trưởng lão Thi Lợi Da Bà, có thật Thầy khởi lên ác kiến, nói như sau: “Tự mình sát sinh, dạy người sát sinh, cho đến làm ác không có tai họa, làm thiện không có phước báo, không có quả báo thiện ác trong đời này và đời sau” phải không?”.

Nếu đáp: “Đúng như vậy”, thì nên khuyên can: “Trưởng lão, Thầy đừng khởi lên ác kiến, khởi lên ác kiến là không tốt, sẽ rơi vào đường ác, đọa xuống địa ngục. Nay tôi vì lòng từ, muốn làm lợi ích nên khuyên can Thầy. Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần khuyên can nữa, Thầy có bỏ ác kiến này không?”. Nếu đáp: “Đó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện, cha mẹ, thầy giáo của tôi đã kế thừa từ trước đến nay, đều thấy như vậy, tôi không thể bỏ”, thì nên khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba. Nếu cũng không bỏ, thì nên khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần cũng như vậy. Nếu vẫn không bỏ nữa, thì nên đem đến giữa Tăng, làm yết-ma cử tội. Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Thi Lợi Da Bà khởi lên ác tà kiến, nói rằng: “Tự mình sát sinh, dạy người sát sinh, cho đến… làm ác không có tai họa, làm thiện không có phước báo, không có quả báo thiện ác trong đời này hay đời sau”, rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay nên khuyên can ba lần ở giữa chúng Tăng.

Bấy giờ Tăng nên hỏi:

—Này Trưởng lão Thi Lợi Da Bà, có thật thầy nói như sau: “Tự mình sát sinh, dạy người sát sinh, cho đến làm ác không có tai họa, làm thiện không có phước báo, không có quả báo thiện ác trong đời này hay đời sau”, rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần mà vẫn không bỏ việc ấy phải không?”.

Nếu đáp: “Đúng như vậy”, thì nên khuyên can ở giữa Tăng:—Này trưởng lão, thầy đừng khởi lên ác tà kiến, khởi lên ác tà kiến như vậy là không tốt, sẽ rơi vào đường ác, đọa vào địa ngục. Chúng Tăng vì lòng từ, muốn làm lợi ích nên khuyên can thầy. Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần khuyên can nữa, Thầy có bỏ ác tà kiến này không? Nhưng Thầy vẫn đáp: “Đó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện, cha mẹ, thầy giáo của tôi đã kế thừa từ trước đến nay, đều thấy như vậy. Tôi không thể bỏ”.

Khuyên can như vậy một lần không bỏ, cho đến ba lần khuyên can vẫn không bỏ.

Do vậy, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo các Tỉ-kheo:

—Nếu Thi Lợi Da Bà khởi lên ác tà kiến, rồi được khuyên can ba lần mà không bỏ, thì Tăng nên làm yết-ma cử tội về việc không bỏ ác tà kiến. Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà khởi lên ác tà kiến rồi được khuyên can ba lần ở chỗ vắng, khuyên can ba lần ở chỗ nhiều người, khuyên can ba lần ở giữa chúng Tăng mà vẫn không bỏ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay làm yết-ma cử tội Thi Lợi Da Bà về việc không bỏ ác tà kiến. Đây là lời tác bạch. (bạch xong, ba lần yết-ma, cho đến) Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc nay là như vậy.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-kheo Ma Lâu Gia Tử khởi lên biên kiến, nói rằng:

—Thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên.

Các Tỉ-kheo khuyên:

—Trưởng lão! Thầy đừng khởi lên biên kiến, biên kiến này là ác kiến, sẽ rơi vào đường ác, đọa xuống địa ngục.

Thầy đáp:

—Đó là cái thấy tốt, cái thấy thiện; cha mẹ và thầy tôi từng kế thừa và đều thấy như vậy từ xưa đến nay. Tôi không thể bỏ.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo các Tỉ-kheo:

—Nếu Tỉ-kheo Ma Lâu Gia Tử khởi biên kiến, nói rằng:—“Thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên”, thì nên khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần và khuyên can ở giữa chúng Tăng ba lần.

Khi khuyên can ở chỗ vắng, nên hỏi:

—Trưởng lão, có thật Thầy khởi lên biên kiến, nói rằng: “Thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên” không?”.

Nếu đáp: “Đúng như vậy”, thì bấy giờ nên khuyên can: “Trưởng lão, đó là ác kiến, sẽ rơi vào đường ác, đọa xuống địa ngục. Nay tôi vì lòng từ, muốn được lợi ích nên khuyên thầy. Một lần khuyên đã xong, còn hai lần khuyên nữa. Thầy có bỏ biên kiến này không? “.

Nếu đáp: “Đó là cái thấy tốt, cái thấy thiện. Cha mẹ và thầy tôi từng kế thừa và đều thấy như vậy từ xưa đến nay, nên tôi không thể bỏ”, thì nên khuyên can như vậy đến lần thứ hai, thứ ba.

Nếu cũng không bỏ, thì nên khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần cũng như vạây. Nếu vẫn không bỏ, thì nên làm yết-ma cử tội ở giữa chúng Tăng. Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Ma Lâu Già Tử này khởi lên biên kiến, nói: “Thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên”, rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cũng nên khuyên can ba lần.

Bấy giờ, ở giữa Tăng trước hết nên hỏi:

—Trưởng lão! Có thật thầy khởi lên biên kiến, nói: “Thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên”, rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần, mà không bỏ biên kiến này phải không?”

Nếu Thầy vẫn đáp: “Đúng như vậy”, thì bấy giờ nên khuyên can ở giữa chúng Tăng: “Trưởng lão! Thầy đừng khởi lên biên kiến. Biên kiến này là ác kiến, phải rơi vào đường ác, đọa xuống địa ngục. Tăng nay vì lòng từ, muốn được lợi ích, nên khuyên Thầy. Một lần khuyên đã không xong, còn hai lần khuyên nữa, Thầy có bỏ biên kiến này không?”

Nhưng thầy vẫn đáp: “Đó là cái thấy tốt, cái thấy thiện. Cha mẹ và thầy tôi từng kế thừa và đều thấy như vậy từ xưa đến nay, nên tôi không thể bỏ.”

Rồi được khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba cũng như vậy mà vẫn không bỏ. Do vậy, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo các Tỉ-kheo:

—Nếu Tỉ-kheo Ma Lâu Già Tử này khởi lên biên kiến, rồi được khuyên can ở chỗ vắng, ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ, thì Tăng nên làm yết-ma cử tội về việc không bỏ biên kiến, như trên đã nói. Đó gọi là yết-ma cử tội.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà thường thường phạm tội Tăng già bà thi sa, liền nói với các Tỉ-kheo:

—Thưa các Trưởng lão, cho tôi pháp Ma-na-đỏa.

Các Tỉ-kheo bèn hỏi:

—Trưởng lão, vì sao thầy xin pháp Ma-na-đỏa?

Thầy đáp: “Vì tôi phạm tội Tăng già bà thi sa.

Các Tỉ-kheo trước đó đã biết Thầy thường phạm tội Tăng già bà thi sa, nên nói:

—Trưởng lão Thi Lợi Da Bà, Tăng tập trung hòa hợp làm yết-ma chất vấn, những gì trưởng lão đã phạm thì nên trình bày tất cả trong một lần yết-ma. Lần thứ hai, thứ ba cũng nói như vậy.

Thế rồi, Thầy đáp:

—Chính tôi vi phạm tội đó.

Nhưng sau khi làm yết-ma xong, thầy suy nghĩ: “Vì sao ta đợi làm yết-ma trở lại? Ta nên nói tất cả trong một lần làm yết-ma”, rồi nói với các Tỉ-kheo:

—Thưa các Trưởng lão, cho tôi pháp Ma-na-đỏa.

—Vì sao thầy lại đòi pháp Ma-na-đỏa?

—Vì tôi phạm tội Tăng già bà thi sa.

—Trưởng lão phạm khi nào?

—Phạm vào khi ấy.

—Trước đây chúng tôi đã nói với trưởng lão rằng Tăng đang tập trung hòa hợp làm yết-ma, trưởng lão có phạm những gì thì hãy nói ra tất cả trong một lần làm yết-ma, vì sao không nói?

—Vì tôi hổ thẹn nên không nói ra tất cả.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thi Lợi Da Bà đến. Khi Thầy đến rồi, Phật liền hỏi đầy đủ sự kiện trên:

—Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Này kẻ ngu si! Khi phạm không biết hổ thẹn, khi cầu Thanh tịnh vì sao lại hổ thẹn? Đây là việc ác, phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được.

TRÁCH NHIỆM CỦA TỈ-KHEO ĐOÁN SỰ.

Thế rồi, Phật nói với các Tỉ-kheo:

—Khi vị Tỉ-kheo trì Luật cho ai pháp xuất tội, thì họ nói có tội cũng biết, không tội cũng biết; che giấu cũng biết, không che giấu cũng biết; phát lồ cũng biết, không phát lồ cũng biết; nên cho biệt trú cũng biết, không nên cho biệt trú cũng biết; như pháp cho biệt trú cũng biết, không như pháp cho biệt trú cũng biết; như pháp hành Ba Lợi Bà Sa cũng biết không như pháp hành Ba Lợi Bà Sa cũng biết,; nửa chừng có tội cũng biết, nửa chừng không có tội cũng biết; đêm gián đoạn cũng biết, đêm không gián đoạn cũng biết; tùy thuận làm cũng biết, không tùy thuận làm cũng biết; nên cho pháp Ma-na-đỏa cũng biết, không nên cho pháp Ma-na-đỏa cũng biết; cho Ma-na-đỏa đúng pháp cũng biết, cho ma-na-đỏa không đúng pháp cũng biết; hành Ma-na-đỏa rốt ráo cũng biết, hành Ma-na-đỏa không rốt ráo cũng biết; nên cho pháp xuất tội cũng biết, không nên cho pháp xuất tội cũng biết; cho pháp xuất tội đúng pháp cũng biết, cho pháp xuất tội không đúng pháp cũng biết; cùng che giấu cũng biết, không cùng che giấu cũng biết; che giấu vô lượng cũng biết, Tỉ-xá-già-cước cũng biết; hoặc có trường hợp tội hợp mà không phải đêm hợp; hoặc là đêm hợp mà không phải tội hợp; hoặc là tội hợp mà đêm cũng hợp; hoặc là tội không hợp mà đêm cũng không hợp; hoặc tội cũ, tội trung gian. (Đó gọi là Tỉ-kheo trì luật).

(Lại nữa) Tỉ-kheo thành tựu bốn pháp sau đây gọi là người giữ luật. Đó là: Biết có tội, biết không có tội, biết tội nặng, biết tội nhẹ. Đó gọi là bốn pháp.

Lại nữa, thành tựu bốn pháp sau đây gọi là người giữ luật: Biết có tội, biết không có tội, không xem tội nặng thành tội nhẹ, không xem tội nhẹ thành tội nặng. Đó gọi là bốn pháp.

Lại nữa, thành tựu bốn pháp: Biết có tội, biết không có tội, không bảo người không có tội là có tội, không bảo người có tội là không tội. Đó gọi là bốn pháp.

Lại, thành tựu bốn pháp: Không xem tội nặng là tội nhẹ, không xem tội nhẹ là tội nặng, không xem người không phạm tội là phạm tội, không xem người phạm tội là không phạm tội. Đó gọi là bốn pháp.

Lại, thành tựu năm pháp sau gọi là người giữ luật: Biết rõ sự tranh chấp, biết rõ nguyên nhân sự tranh chấp, biết rõ cách dập tắt sự tranh chấp, biết rõ cách phân biệt về việc chấm dứt tranh chấp, biết rõ cách dập tắt tranh chấp làm cho ngưng hẳn. Đó gọi là năm pháp.

Lại, thành tựu sáu pháp: tức năm việc trên, thêm việc khéo dập tắt sự tranh chấp đã tích lũy. Đó gọi là sáu pháp.

Lại, thành tựu bảy pháp: Biết có tội, biết không có tội, biết tội nặng, biết tội nhẹ, không đem tội nặng làm tội nhẹ, không đem tội nhẹ làm tội nặng, khéo biết cách làm yết-ma. Đó gọi là bảy pháp.

Lại, thành tựu tám pháp: Tức bảy việc trên, thêm việc biết rõ tình huống nào nên tụng giới đầy đủ hay giản lược. Đó gọi là tám pháp.

Lại, thành tựu chín pháp: Đó là tám việc trên, tăng thêm việc khéo tụng giới, khéo biết nghĩa, không quên, hiểu rõ, khéo biết pháp yết-ma. Đó gọi là chín pháp.

Lại, thành tựu mười pháp: Tức ngoài chín việc trên, thêm việc khéo điều phục các căn, phạm hạnh viên mãn, hiểu sâu pháp yết-ma. Đó gọi là mười pháp.

Lại, thành tựu năm pháp gọi là người giữ luật. Đó là: Trì giới, biết có tội, biết không có tội, biết rõ tình huống nào nên tụng giới đầy đủ hay giản lược, khéo biết pháp yết-ma. Đó gọi là năm pháp.

Lại, thành tựu bốn pháp. Đó là: Trì giới, biết rõ có tội, biết rõ không có tội, biết rõ pháp yết-ma. Đó gọi là bốn pháp.

Lại, thành tựu ba pháp: Biết có tội, biết không có tội, biết pháp yết-ma. Đó gọi là ba pháp.

Lại, thành tựu hai pháp. Đó là: Biết có tội, biết không có tội. Đó gọi là hai pháp.

Lại, thành tựu một pháp. Đó là: khéo biết pháp yết-ma. Đó gọi là người giữ luật, cho đến thành tựu mười bốn pháp thì gọi là người giữ luật bậc nhất; ngoại trừ đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri (thì không ai làm được). Mười bốn pháp đó như sau: 1. Biết có tội; 2. Biết không có tội; 3. Biết tội nặng; 4. Biết tội nhẹ; 5. Biết có che giấu; 6. Biết không che giấu; 7. Biết tội có thể trị; 8. Biết tội không thể trị; 9. Biết đã được Thanh tịnh; 10. Biết chưa được Thanh tịnh; 11. Được công đức của bốn Thiền, hiện được an lạc; 12. Được Thiên nhãn, thiên nhĩ và túc mạng thông; 13. Dứt sạch hữu lậu; 14. Được Vô lậu (hết cấu uế). Đó gọi là mười bốn pháp. Người thành tựu mười bốn pháp này là bậc nhất trong tất cả các người giữ luật, ngoại trừ Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri.

Phật nói với các Tỉ-kheo:

—Tỉ-kheo Ưu-ba-li thành tựu mười bốn pháp kể trên, là người giữ luật bậc nhất, có tội cũng biết, không có tội cũng biết, cho đến dứt sạch hữu lậu, đạt được vô lậu tuệ giải thoát.

Có tội cũng biết : tức biết năm thiên tội: Ba-la-di, Tăng già bà thi sa, Ba-dạ-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Việt-Tì-ni.

Ba-la-di: Dâm, trộm, giết người, tự xưng được pháp hơn người.

Tăng già bà thi sa: Cố ý xuất tinh, xúc chạm người nữ, nói lời ô uế, cho đến làm hoen ố nhà người ở thôn xóm.

Ba-dạ-đề: Gồm ba mươi Ni-tát-kì, chín mươi hai Ba-dạ-đề thuần túy.

Ba-la-đề-đề-xá-ni: Ở nơi A-luyện-nhã, không bệnh mà nhận Thức ăn của Tỉ-kheo-ni, ăn Thức ăn do Tỉ-kheo-ni chỉ điểm, khất thực tại nhà học gia.

Việt Tì-ni: Gồm mười ba việc như sau:

1. A-già-dữ; 2. Thâu-lan-giá; 3. Xú Thâu-lan; 4. Không làm; 5. Không nói; 6. Đột-cát-la; 7. Ác thanh; 8. Oai nghi; 9. Phi oai nghi; 10. Ác oai nghi; 11. Ác tà mạng; 12. Ác kiến; 13. Tâm sinh hối Tì-ni.

1. A-già-dữ: Như ngoại đạo Thân ma, như Tôn giả Bạt-đà-lợi, như các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá, các trường hợp như thế đều phải đến Phật sám hối. Đó gọi là A-già-dữ.

2. Thâu-lan-giá: Lấy trộm dưới năm tiền, đụng vào vật đáng giá năm tiền mà chưa dời khỏi chỗ. Đó gọi là Thâu-lan-giá.

3. Xú-Thâu-lan: Dùng tâm nhiễm ô đùa giỡn với nam căn. Đó gọi là Xú-Thâu-lan.

4. Không làm: Nếu Hòa Thượng, A-xà-lê bảo làm việc gì mà đúng pháp thì phải làm; nếu không làm thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu bảo gọi phụ nữ, lấy rượu đến, thì nên nói với Hòa Thượng, A-xà-lê: “Con nghe nói trong giới luật (việc đó) không được làm”. Đó gọi là không làm.

5. Không nói: Nếu Hòa Thượng, A-xà-lê cùng gọi, nghe mà không đáp, thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu trong miệng đang ngậm cơm mà giọng nói không thay đổi thì nên đáp. Nếu không thể đáp được, thì nuốt cơm rồi mới đáp. Nếu Hòa Thượng, A-xà-lê hỏi như sau: “Vì sao nghe ta gọi mà không trả lời”, thì nên thưa với Hòa Thượng, A-xà-lê: “Trong miệng con đang ngậm cơm, cho nên không đáp được”. Đó gọi là không nói.

6. Đột-cát-la: Như Thế Tôn nói với nhóm sáu Tỉ-kheo Ưu-đà-di và các Tỉ-kheo khác rằng: “Làm việc đó không tốt”. Đó gọi là Đột-cát-la.

7. Ác thanh: Giả tiếng kêu của voi, tiếng của ngựa, bò, lừa, lạc đà v.v… , tất cả tiếng của loài súc sinh như thế; hoặc kéo dài hơi ra rồi kêu đứt đoạn, hoặc kêu gấp rồi kéo dài ra. Đó gọi là ác thanh ( tiếng kêu chối tai).

8. Oai nghi: Sáng sớm Thức dậy nên rửa dọn sạch nơi đại tiểu tiện, rồi đổ đầy nước tại nơi đại tiểu tiện, lại phải quét tháp, viện, phòng Tăng. Nếu lấy, cho, làm các việc, thậm chí buộc một sợi chỉ mà không bạch với Hòa Thượng y chỉ, A-xà-lê thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là oai nghi.

9. Phi oai nghi: như sửa tóc, trang điểm mắt, làm đẹp mặt mày, giũ y, làm cho giải lụa bóng sáng, buộc lưng, hơ bát làm cho sáng bóng, dùng gương soi mặt. Đó gọi là phi oai nghi (trái oai nghi).

10. Ác oai nghi: Thân có oai nghi xấu, miệng có oai nghi xấu, thân miệng có oai nghi xấu; thân tai hại, miệng tai hại, thân miệng tai hại; thân tà mạng, miệng tà mạng, thân miệng tà mạng. Đó gọi là ác oai nghi (oai nghi xấu).

11. Ác tà mạng: Thân quanh co, miệng quanh co, Tâm quanh co, hiện cử chỉ thân ái để hy vọng người ta cúng dường. Đó gọi là ác tà mạng.

12. Ác kiến : Tất cả các loại kiến giải như thường, đoạn v.v… , gọi là ác kiến.

13. Tâm sinh hối Tì-ni: Pháp chúng học oai nghi, tâm niệm ác, không cố ý mà xúc chạm nữ nhân, đại loại như thế đều gọi là tâm hối. Đó gọi là Tâm sinh hối Tì-ni.

CÓ TỘI CŨNG BIẾT.

Lại nữa, hoặc có tội từ tham dục sinh; hoặc có tội từ giận dữ sinh; hoặc có tội từ ngu si sinh; hoặc có tội không từ tham dục, giận dữ, ngu si sinh; hoặc có tội do hành vi của thân, không phải hành vi của miệng; hoặc do hành vi của miệng, không phải hành vi của thân; hoặc do hành vi của thân và miệng, hoặc không phải do hành vi của thân và miệng; hoặc có tội từ bản thân mình sinh, không phải từ thân người khác; hoặc từ thân người khác, không phải từ thân mình; hoặc từ thân mình và thân người khác sinh; hoặc không phải từ thân mình, cũng không phải thân người khác; hoặc có tội từ miệng mình sinh, không phải từ miệng người khác; hoặc có tội từ miệng người khác, không phải từ miệng mình; hoặc có tội từ miệng mình cũng từ miệng người khác; hoặc không từ miệng mình cũng không từ miệng người khác; hoặc có tội căn cứ tâm, không căn cứ việc; hoặc có tội căn cứ việc, không căn cứ tâm; hoặc có tội sự nặng, không phải tâm nặng; hoặc có tội do tâm nặng, không phải sự nặng; hoặc có tội sự nặng, tâm cũng nặng; hoặc có tội không phải sự nặng, cũng không phải tâm nặng; hoặc có tội do vật của mình, không phải do vật người khác; hoặc có tội do vật người khác, không phải do vật của mình; hoặc do vật mình, cũng do vật người khác; hoặc có tội không do vật mình, cũng không do vật người khác; hoặc có tội tại một chỗ mà phạm nhiều thứ, hoặc tại nhiều chỗ mà phạm một tội; tại nhiều chỗ phạm nhiều tội; hoặc tại một chỗ phạm một tội; hoặc từ chỗ không có tội dẫn đến có tội; hoặc từ chỗ có tội dẫn đến không tội; hoặc từ chỗ có tội dẫn đến có tội; hoặc từ chỗ không tội dẫn đến không tội; hoặc từ nguyên nhân tọâi nặng dẫn đến tội nhẹ; hoặc từ tội nhẹ dẫn đến tội nặng; hoặc từ tội nặng dẫn đến tội nặng; hoặc từ tội nhẹ dẫn đến tội nhẹ; có khi nhận mà phạm tội, có khi ăn mà phạm tội; sự thành có tội, không thọ thì có tội, thọ thì không có tội; không thực hiện thì bị tội, thực hiện thì không bị tội; hoặc có tội thuộc xóm làng, không thuộc nơi hoang vắng; hoặc có tội thuộc nơi hoang vắng, không thuộc xóm làng; hoặc có tội thuộc xóm làng, cũng thuộc nơi hoang vắng; hoặc có tội không thuộc xóm làng, cũng không thuộc nơi hoang vắng; hoặc có tội đúng thời, không phải phi thời; hoặc có tội phi thời, không phải đúng thời; hoặc có tội vừa đúng thời, vừa phi thời; hoặc có tội vừa không phải đúng thời, vừa không phải phi thời; hoặc có tội thuộc ban đêm, không phải ban ngày; hoặc có tội thuộc ban ngày, không phải ban đêm; hoặc có tội vừa thuộc ban đêm, cũng vừa thuộc ban ngày; hoặc có tội vừa không phải ban đêm, cũng không phải ban ngày; hoặc có tội ở chỗ che khuất, không phải chỗ trống trải; hoặc có tội ở chỗ trống trải, không phải chỗ che khuất; hoặc có tội vừa ở chỗ che khuất, vừa ở chỗ trống trải; hoặc có tội không ở chỗ che khuất, cũng không phải ở chỗ trống trải; hoặc có tội khi đi, không phải khi đứng; hoặc có tội khi đứng, không phải khi đi; hoặc có tội vừa khi đi, vừa khi đứng; hoặc có tội vừa không phải khi đi, vừa không phải khi đứng; hoặc có tội khi đứng, không phải khi ngồi; hoặc có tội khi ngồi, không phải khi đứng; hoặc có tội vừa khi ngồi, vừa khi đứng; hoặc có tội không phải khi ngồi, không phải khi đứng; hoặc có tội khi ngồi, không phải khi ngủ; hoặc có tội khi ngủ, không phải khi ngồi; hoặc có tội vừa khi ngồi, vừa khi ngủ; hoặc có tội không phải khi ngồi, cũng không phải khi ngủ; hoặc có tội khi ngủ, không phải khi đi; hoặc có tội khi đi, không phải khi ngủ; hoặc có tội vừa khi đi, vừa khi ngủ; hoặc có tội không phải khi ngủ, cũng không phải khi đi; hoặc có tội ở chỗ vắng, không phải chỗ đông người; hoặc có tội ở chỗ đông người, không phải ở chỗ vắng; hoặc có tội vừa ở chỗ vắng, vừa ở chỗ đông người; hoặc có tội không phải ở chỗ vắng, cũng không phải ở chỗ đông người; hoặc có tội ở chỗ đông người mà không phải ở giữa chúng Tăng; hoặc có tội ở chỗ giữa chúng Tăng, không phải chỗ đông người; hoặc có tội vừa ở chỗ đông người, vừa ở giữa chúng Tăng; hoặc có tội không phải ở chỗ đông người, cũng không phải ở giữa chúng Tăng; hoặc có tội ở giữa chúng Tăng mà không phải ở chỗ vắng vẻ; hoặc có tội ở chỗ vắng vẻ, không ở giữa chúng Tăng; hoặc có tội ở giữa chúng Tăng, cũng ở chỗ vắng vẻ; hoặc vừa không ở giữa chúng Tăng, cũng không ở chỗ vắng vẻ; hoặc có tội vào mùa Đông, không phải mùa Xuân; hoặc có tội thuộc mùa Xuân, không phải mùa Đông; hoặc vừa mùa Đông, cũng vừa mùa Xuân; hoặc không phải mùa Đông, cũng không phải mùa Xuân; hoặc có tội về mùa Xuân, không phải mùa Hạ; hoặc tội thuộc mùa Hạ, không phải mùa Xuân; hoặc thuộc mùa Xuân, cũng thuộc mùa Hạ; hoặc có tội vừa không thuộc mùa Xuân, vừa không thuộc mùa Hạ; hoặc có tội thuộc mùa Hạ, không phải mùa Đông; hoặc thuộc mùa Đông, không phải mùa Hạ; hoặc thuộc mùa Hạ, cũng thuộc mùa Đông; hoặc không thuộc mùa Hạ, cũng không thuộc mùa Đông.

Có tội từ dục sinh: Như cố ý đùa giỡn với nam căn, ma xát, ác khẩu, tự khen mình, làm môi giới, nói với tâm hoàn toàn nhiễm ô. Đó gọi là tội sinh ra từ dục.

Có tội từ giận dữ sinh ra: Như vô cớ vu khống, hủy báng, nói hai lưỡi, đánh người, đuổi đi, biết người khác đã ăn no mà cố ý xúc não, xua đuổi người khác ở nơi xóm làng, đánh bằng nắm tay, dơ tay dọa đánh, đứng chỗ khuất lén nghe. Đó gọi là tội từ giận dữ sinh ra.

Có tội từ ngu si sinh ra: Do tâm ngu si mà cho rằng thế giới thực sự là thường hằng, hoặc thế giới là Vô thường, có các loại kiến giải như thế, đó gọi là tội từ ngu si sinh ra.

Có tội không do dục, giận dữ và ngu si sinh ra: Như trường hợp A-la-hán phạm tội. Đó gọi là tội không do dục, giận dữ và ngu si sinh ra.

Có tội do thân không phải do miệng: Như ở cùng phòng với người nữ, ngủ cùng phòng với người chưa thọ cụ túc quá ba đêm, ngủ cùng giường, ngồi cùng giường, ăn nhiều chỗ, ăn riêng chúng, ăn chung một bát. Đó gọi là tọâi do thân không phải do miệng.

Có tội do miệng không phải do thân: Nói chung những tội thuộc về phạm vi miệng. Đó gọi là tội do miệng, không phải do thân.

Có tội gồm cả thân và miệng: Như vô cớ vu khống, hủy báng, nói hai lưỡi, đấu tranh gây rối, đuổi đi, biết người đã ăn no mà cố tình xúc não, đuổi đi khi ở xóm làng, dùng tay đánh người, đưa tay dọa đánh, đứng chỗ khuất nghe lén. Đó gọi là tội gồm cả thân và miệng.

Có tội không do thân và miệng: Như các tội từ tâm sinh. Đó gọi là tội không do thân và miệng.

Có tội từ thân mình, không phải từ thân người khác: Như nổi giận tự đánh vào mình. Đó gọi là tội từ thân mình không phải từ thân người khác.

Có tội từ thân người khác không phải từ thân mình: Như thấy người khác phạm tội dâm, trộm, giết người mà che giấu. Đó gọi là tội từ thân người khác, không phải từ thân mình.

Có tội vừa từ thân mình vừa từ thân người khác phát sinh: Như ngủ cùng nhà với phụ nữ, ngủ với người chưa thọ cụ túc quá ba đêm, ngủ cùng giường, ngồi cùng giường với người khác, ăn nhiều chỗ, ăn riêng chúng, ăn chung bát. Đó gọi là tội vừa từ thân mình vừa từ thân người khác phát sinh.

Có tội không từ thân mình, cũng không từ thân người khác: Như tất cả những tội thuộc lĩnh vực miệng, ngoại trừ việc dạy người chưa thọ cụ túc đọc bài. Đó gọi là tội không từ thân mình, cũng không từ thân người khác.

Có tội từ miệng mình, không phải từ miệng người khác: Tất cả tội thuộc về miệng, trừ việc dạy người chưa thọ cụ túc đọc bài. Đó gọi là tội từ miệng mình, không phải từ miệng người khác.

Có tội từ miệng người khác không phải từ miệng mình: Nếu Tăng giải quyết sự việc phi pháp mà Tỉ-kheo không gởi dục, cũng không cho người khác biết mình không đồng ý, im lặng lắng nghe. Đó gọi là tội từ miệng người khác, không phải từ miệng mình.

Có tội vừa từ miệng mình vừa từ miệng người khác: Như cùng đọc chung từng câu với người chưa thọ cụ túc. Đó gọi là tội vừa từ miệng mình, vừa từ miệng người khác.

Có tội không do miệng mình, cũng không do miệng người khác: Như các tội từ thân và tâm phát sinh. Đó gọi là tội không do miệng mình, cũng không do miệng người khác.

Có tội căn cứ vào tâm không căn cứ vào sự: Như trường hợp nên hỏi: dùng tâm gì để trộm cắp? Dùng tâm gì để giết người? Dùng tâm gì để xúc chạm phụ nữ? Dùng tâm gì để làm hại cỏ tươi? Dùng tâm gì để đào đất? Đó gọi là căn cứ vào tâm, không căn cứ vào sự.

Có tội căn cứ vào sự, không căn cứ vào tâm: Chẳng hạn không nên hỏi: Dùng tâm gì để hành dâm? Dùng tâm gì để ăn phi thời? Dùng tâm gì để uống rượu? Dùng tâm gì để ngủ cùng nhà với người nữ? Dùng tâm gì để ngủ cùng phòng với người chưa thọ cụ túc quá ba đêm? Nếu phạm thì nên trị phạt đúng pháp. Đó gọi là căn cứ vào sự, không căn cứ vào tâm.

Có tội sự nặng, không phải tâm nặng: Như Tỉ-kheo phi thời mà cho là đúng thời để ăn thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là sự nặng, không phải tâm nặng.

Có tội tâm nặng, không phải sự nặng: Tỉ-kheo đúng thời mà cho là phi thời rồi ăn, thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là tội tâm nặng, không phải sự nặng.

Có tội sự nặng, tâm cũng nặng: Như phi thời tưởng là thời để ăn thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là sự nặng, tâm cũng nặng.

Có tội sự nhẹ, tâm cũng nhẹ: Như các pháp thuộc chúng học và oai nghi. Đó gọi là sự nhẹ, tâm cũng nhẹ.

Có tội từ vật của mình phát sinh, không phải từ vật người khác: Như Tỉ-kheo cố lấy trộm nhằm vật của chính mình, thì phạm tội Thâu-lan-giá. Đó gọi là từ vật của mình phát sinh, không phải từ vật của người khác.

Có tội từ vật của người khác, không phải từ vật của mình: Như Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp lấy vật của người khác dưới năm tiền, thì phạm tội Thâu-lan-giá, nếu đủ năm tiền thì phạm tội Ba-la-di. Đó gọi là từ vật của người khác phát sinh, không phải từ vật của mình.

Có tội vừa từ vật của mình vừa từ vật của người khác phát sinh: như Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp lấy vật chung của mình và người khác dưới năm tiền, thì phạm tội Thâu-lan-giá, đủ năm tiền thì phạm tội Ba-la-di. Đó gọi là tội từ vật của mình và của người phát sinh.

Có tội không phải từ vật của mình, cũng không phải từ vật của người: Như Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp lấy vật không có chủ, thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là tội không phải từ vật của mình, cũng không phải từ vật của người khác.

Có tội tại một chỗ mà phạm nhiều tội: Như Tỉ-kheo xin tại một chỗ mà được tám món ăn ngon, rồi ăn mỗi thứ tại mỗi chỗ, thì phạm tám tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là tại một chỗ mà phạm nhiều tội.

Có trường hợp tại nhiều chỗ mà phạm một tội: Như Tỉ-kheo xin tại nhiều chỗ được tám Thức ăn ngon, rồi ngồi ăn tại một chỗ thì phạm một tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là tại nhiều chỗ mà phạm một tội.

Có trường hợp tại nhiều chỗ phạm nhiều tội: Như Tỉ-kheo xin tại tám chỗ được tám món ăn ngon, rồi ăn tám lần, phạm tám tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là tại nhiều chỗ phạm nhiều tội.

Tại một chỗ phạm một tội: Như tại một chỗ xin được tám món ăn ngon, rồi ngồi ăn tại một chỗ. Đó gọi là tại một chỗ phạm một tội.

Từ nguyên nhân vô tội mà thành có tội: Như Tỉ-kheo vô tội mà xin sám hối về tội phạm thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là từ nguyên nhân vô tội mà thành có tội.

Từ nguyên nhân có tội mà thành vô tội: Như làm phòng lớn, phòng nhỏ, tất cả các loại vải vóc, rồi được ba lần khuyên can. Đó gọi là từ nguyên nhân có tội mà thành ra vô tội.

Từ nguyên nhân có tội dẫn đến có tội: Khi Tăng tụng giới, được hỏi đến ba lần rằng ai có tội thì sám hối như pháp, ai không có tội thì im lặng, mà bấy giờ người có tội không làm đúng pháp, lại không nói cho người khác biết, cũng không thầm nghĩ: “Để rồi tôi sẽ sám hối đúng pháp với người Thanh tịnh và thông cảm”, vẫn cứ im lặng, thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là từ nguyên nhân có tội dẫn đến có tội.

Từ nguyên nhân không có tội dẫn đến không có tội: Như trường hợp không làm, không phạm. Đó gọi là từ nguyên nhân không có tội dẫn đến không có tội.

Từ nguyên nhân tội nặng dẫn đến tội nhẹ: Như Tỉ-kheo phạm tội Ba-dạ-đề mà đến sám hối với người ác tà kiến, biên kiến, người bắt buộc phải học (người đang sám hối tội Ba-la-di). Đó gọi là từ nguyên nhân tội nặng dẫn đến tội nhẹ.

Từ tội nhẹ dẫn đến tội nặng: Như Tỉ-kheo phạm tội Việt-tì-ni mà đến sám hối với người hủy báng khế kinh, người bắt buộc phải học, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là từ tội nhẹ dẫn đến tội nặng.

Từ tôi nặng dẫn đến tôi nặng: Như Tỉ-kheo phạm tội Ba-dạ-đề mà đến sám hối với người hủy báng khế kinh, người bắt buộc phải học, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là từ tội nặng dẫn đến tội nặng.

Từ tội nhẹ dẫn đến tội nhẹ: Tỉ-kheo phạm tội Việt-tì-ni mà đến sám hối với người chưa thọ cụ túc, thì không được gọi là sám hối mà còn phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là từ tội nhẹ dẫn đến tội nhẹ.

Khi nhận phạm tội: Như nhận thịt sống, lúa thóc, vàng bạc, voi, ngựa, lạc đà, lừa, bò, dê, nô tì, phụ nữ, ruộng đất, nhà cửa. Đó gọi là khi nhận phạm tội.

Có trường hợp khi ăn phạm tội: Như ăn riêng chúng, ăn nhiều chỗ, ăn cùng bát, ăn trái cây không hợp pháp. Đó gọi là khi ăn phạm tội.

Việc thành tựu mà có tội: Như làm phòng nhỏ, phòng lớn, được khuyên can đến ba lần. Đó gọi là việc thành tựu mà có tội.

Có trường hợp không thọ thì có tội, thọ thì không có tội: Như khi thọ y Ca-thi-na thì được giải tỏa năm giới là: ăn riêng chúng, ăn nhiều chỗ, đi đâu không cần thưa với người cùng ăn với mình, cất y dư lâu ngày, rời y mà ngủ. Đó gọi là không thọ thì có tội, thọ thì không có tội.

Không thực hiện thì có tội, thực hiện thì không có tội: Khi Tỉ-kheo được y mới mà không dùng ba màu để nhuộm cho hoại sắc, hoặc dùng một màu để nhuộm, tác tịnh rồi thọ dụng, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là không thực hiện thì có tội, thực hiện thì không có tội.

Có tội tại xóm làng không phải tại chỗ hoang vắng: Khi vào xóm làng không mặc y tăng-già-lê, không buộc đai, không cột dây lưng, không cầm bát, không thưa với người cùng ăn chung, vào xóm làng lúc phi thời. Đó gọi là tội tại xóm làng, không phải tại nơi hoang vắng.

Có tội tại nơi hoang vắng không phải tại xóm làng: Tỉ-kheo làm bạn với kẻ trộm, hẹn với phụ nữ, Tỉ-kheo-ni cùng đi chung đường. Đó gọi là tội tại nơi hoang vắng, không phải tại xóm làng.

Có tội vừa tại nơi hoang vắng, vừa tại xóm làng: Đấm người bằng nắm tay, đưa tay dọa đánh người. Đó gọi là tội vừa tại nơi hoang vắng, vừa tại xóm làng.

Có tội không phải nơi hoang vắng, không phải xóm làng: Tội xảy ra ở nơi cửa vua. Đó gọi là tội không phải nơi hoang vắng, cũng không phải tại xóm làng.

Có tội đúng thời chứ không phải phi thời: Như ăn riêng chúng, ăn tại nhiều nơi, ăn chung một bát, moi dưới bát mà ăn, ăn tám món ngon, ăn trái cây chưa tác tịnh. Đó gọi là tội đúng thời, chứ không phi thời.

Có tội phi thời chứ không phải đúng thời: Phi thời đi vào xóm làng mà không bạch, ăn phi thời, đi giáo giới Tỉ-kheo-ni đến chiều tối. Đó gọi là tội phi thời chứ không phải đúng thời.

Có tội vừa đúng thời, mà vừa phi thời: Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Đó gọi là tội vừa đúng thời, vừa phi thời.

Có tội vừa phi thời, vừa không phải phi thời: như phạm tội đúng vào giữa trưa. Đó gọi là tội vừa phi thời, vừa không phải phi thời.

Có tội thuộc ban đêm, không phải ban ngày: Như ngủ cùng một nhà với người nữ, ngủ với người chưa thọ cụ túc quá ba đêm, giáo giới Tỉ-kheo-ni cho đến chiều tối. Đó gọi là tội thuộc ban đêm, không thuộc ban ngày.

Có tội thuộc ban ngày, không thuộc ban đêm: Như ăn riêng chúng, cho đến ăn trái cây không hợp pháp. Đó gọi là tội thuộc ban ngày, không thuộc ban đêm.

Có tội vừa thuộc ban ngày, vừa thuộc ban đêm: Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Đó gọi là tội vừa thuộc ban ngày, vừa thuộc ban đêm.

Có tội vừa không thuộc ban ngày, vừa không thuộc ban đêm: Như tội xảy ra lúc rạng đông. Đó gọi là tội vừa không thuộc ban ngày, vừa không thuộc ban đêm.

Có tội tại chỗ khuất, không phải tại chỗ trống: Như ngủ cùng nhà với người nữ, ngủ với người chưa thọ cụ túc quá ba đêm, trải đồ ở giữa phòng, ngồi ở chỗ người ta dùng hành lạc, ngồi ở chỗ khuất kín. Đó gọi là tội tại chỗ khuất, không phải tại chỗ trống.

Có tội tại chỗ trống, không phải chỗ khuất: Hoặc tự mình, hoặc sai người đem giường nệm của chúng Tăng ra trải ở chỗ trống, mà khi đi không thưa với chúng Tăng, đi chừng hai mươi lăm khuỷu tay, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là tội tại chỗ trống, không phải tại chỗ khuất.

Có tội vừa tại chỗ khuất, vừa tại chỗ trống: Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh.

Thế nào là tội không ở chỗ khuất, cũng không ở chỗ trống?

—Đó là tội xảy ra ở dưới Thềm nhà.

Thế nào là tội khi đi, không phải khi đứng?

—Tỉ-kheo kết bạn với bọn cướp, cùng với người nữ và Tỉ-kheo-ni hẹn đi chung đường; Tăng, Hòa Thượng, A-xà-lê bảo đừng đi mà cứ đi thì phạm tội. Đó gọi là do đi, không do đứng.

Thế nào là tội khi đứng, không phải khi đi?

- Như đứng ở bên dâm nữ, đứng nơi quán rượu, đứng tại chỗ đánh bạc, đứng bên nhà tù, đứng giữa cửa, rồi được Tăng, Hòa Thượng, A-xà-lê bảo đừng đứng mà cứ đứng, thì phạm tội. Đó gọi là tội do đứng, không phải do đi.

Thế nào là tội vừa do đi, vừa do đứng?

- Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh.

Thế nào là tội không phải khi đi, không phải khi đứng?

—Như khi ngồi, khi ngủ.

Thế nào là tội do đứng, không phải do ngồi?

—Như đứng bên dâm nữ, rồi được Hòa Thượng, A-xà-lê bảo đừng đứng mà vẫn đứng, thì phạm tội.

Thế nào là tội do ngồi, không phải do đứng?

—Như ngồi trên giường lớn quá cỡ, dùng bông dồi làm nệm, dùng da làm tọa cụ và ngồi bên cạnh dâm nữ, bên quán rượu, bên chỗ đánh bạc, bên cạnh nhà tù, rồi được Tăng, Hòa Thượng, A-xà-lê bảo đừng ngồi mà vẫn ngồi thì phạm tội.

Thế nào là tội vừa do đứng, vừa do ngồi?

- Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh.

Thế nào là tội không phải do đứng, cũng không phải do ngồi?

—Đó là tội xảy ra khi đi và khi ngủ.

Thế nào là tội khi ngồi, không phải khi ngủ?

—Như ngồi trên giường quá lượng, rồi được Tăng, Hòa Thượng, A-xà-lê bảo đừng ngồi mà cứ ngồi, thì có tội.

Thế nào là tội khi ngủ, không phải khi ngồi?

—Ngủ cùng nhà với phụ nữ, ngủ với người chưa thọ cụ túc quá ba đêm, ngồi giường lớn quá lượng, dùng bông dồi vào nệm để ngồi, dùng da làm tọa cụ.

Thế nào là tội khi ngồi cũng như khi ngủ?

—Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh.

Thế nào là tội không phải khi ngồi, cũng không phải khi ngủ?

- Như phạm tội khi đi, khi đứng.

Thế nào là phạm tội khi ngủ, không phải khi đi?

—Như ngủ cùng một nhà với phụ nữ, cho đến ngủ trên nệm bằng da.

Thế nào là phạm tội khi đi, không phải khi ngủ?

—Như Tỉ-kheo làm bạn với kẻ cướp, với phụ nữ (cùng đi chung đường), rồi được Hòa Thượng, A-xà-lê bảo đừng đi mà cứ đi, thì phạm tội.

Thế nào là phạm tội khi ngủ cũng như khi đi ?

—Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh.

Thế nào là phạm tội không phải khi ngủ, cũng không phải khi đi?

—Như phạm tội khi ngồi, khi đứng.

Thế nào là phạm tội không phải chỗ vắng, cũng không phải chỗ nhiều người?

—Như được khuyên can ở chỗ vắng ba lần mà không bỏ.

Thế nào là phạm tội ở chỗ nhiều người, không phải ở chỗ vắng?

- Như được khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ.

Thế nào là phạm tội ở chỗ vắng, cũng như ở chỗ nhiều người?

—Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh.

Thế nào là phạm tội không phải chỗ vắng, không phải chỗ nhiều người?

- Như ở giữa chúng Tăng.

Thế nào là phạm tội ở chỗ nhiều người, không phải ở giữa chúng Tăng?

—Như được khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần không bỏ.

Thế nào là phạm tội ở giữa chúng Tăng, không phải ở chỗ nhiều người?

—Như được khuyên can ở giữa chúng Tăng ba lần mà không bỏ.

Thế nào là phạm tội ở chỗ nhiều người cũng như ở giữa chúng Tăng?

- Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh.

Thế nào là tội không ở chỗ nhiều người, không ở giữa Tăng?

—Như được khuyên can ba lần ở chỗ vắng mà không bỏ.

Thế nào là tội ở giữa Tăng, không phải ở chỗ vắng?

—Như được khuyên ở giữa Tăng ba lần mà không bỏ.

Thế nào là tội ở chỗ vắng, không phải ở giữa Tăng?

—Như được khuyên ở chỗ vắng ba lần mà không bỏ.

Thế nào là tội vừa ở giữa Tăng, vừa ở chỗ vắng?

- Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh.

Thế nào là tội không phải ở giữa Tăng, không phải ở chỗ vắng?

—Như được can ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ.

Thế nào là tội thuộc mùa đông, không phải mùa Xuân?

—Tỉ-kheo đến ngày 15 tháng 8 mà không xả y tắm mưa tới ngày 16 mới xả, thì phạm tội Việt-tì-ni.

Thế nào là tội thuộc mùa Xuân, không phải mùa Đông?

- Tỉ-kheo thọ y Ca-thi-na đến ngày 15 tháng chạp thì nên xả, nếu không xả, để đến ngày 16 thì phạm tội Việt-tì-ni.

Thế nào là tội thuộc mùa Đông, cũng thuộc mùa Xuân?

—Như dùng tay đánh người, dơ tay dọa đánh.

Thế nào là tội không thuộc mùa Đông, không thuộc mùa Xuân?

—Như thời gian an cư (tức mùa Hạ)

Thế nào là tội thuộc mùa Xuân, không thuộc mùa Ha ï?

—Tỉ-kheo thọ y Ca-thi-na mà không xả để đến ngày 16 tháng chạp thì phạm tội Việt-tì-ni.

Thế nào là tội thuộc mùa Hạ, không phải mùa Xuân?

—Tỉ-kheo đến ngày 16 tháng tư phải an cư, mà không an cư thì phạm tội Việt-tì-ni; đến hậu an cư cũng không an cư, thì phạm hai tội Việt-tì-ni.

Thế nào là tội thuộc mùa Xuân, cũng thuộc mùa Hạ?

—Như đánh người bằng tay, dơ tay dọa đánh.

Thế nào là tội không thuộc mùa Xuân, không thuộc mùa Hạ?

- Như tội phạm vào mùa Đông.

Thế nào là tội thuộc mùa Hạ, không thuộc mùa Đông?

Vào hai thời an cư mà không an cư, thì phạm hai tội Việt-tì-ni.

Thế nào là tội thuộc mùa Đông, không phải mùa Hạ?

- Đến ngày 15 tháng 8 nên xả y tắm mưa mà không xả, để đến ngày 16 thì phạm tội.

Thế nào là tội thuộc mùa Hạ, cũng thuộc mùa Đông?

—Như dùng tay đánh người, dơ tay dọa đánh.

Thế nào là tội không thuộc mùa Hạ, cũng không thuộc mùa Đông?

—Đó là tội vào mùa Xuân, tức là tội không thuộc vào mùa Hạ, không thuộc mùa Đông.

Lại có tội do không kiềm chế thân, không kiềm chế miệng, không kiềm chế thân miệng; thân phạm, miệng phạm, thân miệng đều phạm; thân làm ác, miệng làm ác, thân miệng đều làm ác. Đó gọi là tội.

Trái lại, vô tội nghĩa là kiềm chế thân, kiềm chế miệng, kiềm chế thân miệng; thân không phạm, miệng không phạm, thân miệng đều không phạm; thân không làm ác, miệng không làm ác, thân miệng không làm ác. Đó gọi là không có tội.

Phật nói với các Tỉ-kheo:

—Tỉ-kheo giữ luật khi cho người xuất tội, thì có tội cũng biết,, không có tội cũng biết, che giấu cũng biết, không che giấu cũng biết.

CHE GIẤU CŨNG BIẾT.

Tỉ-kheo khi hừng đông phạm tội Tăng già bà thi sa, biết đó là tội, không cố ý che giấu, nhưng đến lúc mặt trời mọc lại cố tình che giấu cho đến hừng đông sáng mai. Đó gọi là che giấu một đêm.

Lại có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là có tội, không cố tâm che giấu, nhưng đến giờ ăn lại cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là che giấu một đêm. Đến lúc giữa trưa, vào buổi xế, lúc mặt trời lặn, đầu đêm, nửa đêm, cũng như vậy.

Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa biết là có tội mà không cố tâm che giấu, cho đến cuối đêm, vẫn biết là có tội nhưng cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là hai thời một đêm che giấu.

Lại có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa mà không biết là phạm tội, đến lúc mặt trời mọc mới biết là phạm tội mà không cố tâm che giấu, nhưng đến giờ ăn lại cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là một đêm che giấu. Vào giữa trưa, buổi xế, lúc mặt trời lặn và đầu đêm, cũng như vậy.

Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa mà không biết là phạm tội, cho đến nửa đêm mới biết là phạm tội nhưng không cố tâm che giấu, đến cuối đêm lại cố tình che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là ba thời một đêm che giấu.

Lại có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa mà không biết là có tội, đến giờ ăn mới biết là có tội nhưng không cố tâm che giấu, đến giữa trưa lại cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là che giấu một đêm. Vào buổi xế, lúc mặt trời lặn, đầu đêm cũng như vậy.

Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa, không biết là phạm tội, cho đến giữa đêm biết là có tội, mà không có tâm che giấu, đến cuối đêm lại cố tình che giấu cho đến rạng đông thì gọi là bốn thời một đêm che giấu.

Lại có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, nhưng do dự không biết nên che giấu hay không, đến lúc mặt trời mọc quyết tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là che giấu một đêm. Cũng vậy, vào giờ ăn, giữa trưa, buổi xế, lúc mặt trời lặn, đầu đêm, giữa đêm, cho đến cuối đêm quyết tâm che giấu đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là hai thời che giấu một đêm.

Lại có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa mà không biết phạm tội, đến lúc mặt trời mọc mới biết là phạm tội, nhưng do dự không biết nên che giấu hay không, tới bữa ăn thì quyết tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là che giấu một đêm. Cũng vậy, giữa trưa, buổi xế, khi mặt trời lặn, đầu đêm cũng thế.

Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa mà không biết là phạm tội, cho đến nửa đêm mới biết là phạm tội, nhưng do dự không biết nên che giấu hay không, đến cuối đêm mới quyết định che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là ba thời che giấu một đêm.

Lại có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa, mà không biết phạm tội, mãi đến giờ ăn mới biết là phạm tội, nhưng do dự không biết nên che giấu hay không, tới giữa trưa mới quyết định che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là che giấu một đêm. Vào buổi xế, lúc mặt trời lặn, đầu đêm, cũng như vậy.

Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa mà không biết là phạm tội, cho tới giữa đêm mới biết là phạm tội, nhưng do dự không biết nên che giấu hay không, đêán cuối đêm mới quyết định che giấu cho tới rạng đông hôm sau. Đó gọi là bốn thời che giấu một đêm.

Lại có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, đến khi mặt trời mọc lại quyết định không che giấu, cho đến cuối đêm lại quyết tâm che giấu cho tới rạng đông hôm sau. Đó gọi là che giấu một đêm.

Lại có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, rồi lại ở cách vách, cách hào, ở chỗ tối nói nhỏ, xưng tên một Tỉ-kheo mỗ giáp khác phạm tội Tăng già bà thi sa. Đó không gọi là phát lồ, vì biết mà nói dối, phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là che giấu.

Trường hợp không che giấu: Nếu ở chỗ ngăn cách, hoặc cách hào, ở chỗ tối nói nhỏ, tự xưng tên của người khác phạm tội Tăng già bà thi sa, thì được gọi là phát lồ, nhưng xảo trá, phạm tội Việt-tì-ni.

Lại có trường hợp không che giấu: Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, không ở chỗ cách vách, cách hào, chỗ tối, không nói nhỏ, không xưng tên người khác mà tự xưng tên mình phạm tội. Đó gọi là không che giấu.

Lại có trường hợp không che giấu: Không phải tội mà tưởng là tội, sinh nghi, nghi không biết nên che giấu hay không, nghi đêm (?). Nếu phát lồ thì gọi là không che giấu.

Lại có trường hợp không che giấu: Không cố tâm che giấu, chưa phát lồ được, rồi hoặc quên, hoặc bỏ đạo, hoặc nhập định, hoặc mệnh chung. Đó gọi là không che giấu.

Phật nói với các Tỉ-kheo:

—Tỉ-kheo giữ luật khi cho ai xuất tội, thì có tội nên biết, không có tội nên biết, che giấu nên biết, không che giấu nên biết, phát lồ nên biết, không phát lồ nên biết; hoặc là che giấu không phát lồ, hoặc là phát lồ không che giấu, hoặc là vừa che giấu vừa phát lồ, hoặc là không che giấu cũng không phát lồ đều nên biết.

Thế nào là che giấu không phát lồ ?

—Tỉ-kheo phạm tội Việt-tì-ni, biết là phạm tội mà cố tâm che giấu không nói với người khác. Đó gọi là che giấu không phát lồ.

Thế nào là phát lồ, không che giấu?

—Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội mà không cố tâm che giấu, nói với người khác. Đó gọi là phát lồ, không che giấu.

Thế nào gọi là vừa che giấu, vừa phát lồ?

- Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, định che giấu, nhưng sau đó nói với người khác. Đó gọi là vừa che giấu, vừa phát lồ.

Thế nào là vừa không che giấu, vừa không phát lo?

- Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, không cố tâm che giấu, suy nghĩ: “Đợi đúng lúc, đúng chỗ, đúng người ta sẽ sám hối đúng pháp”. Đó gọi là vừa không che giấu vừa không phát lồ.

PHÁP BIỆT TRỤ.

Phật bảo các Tỉ-kheo:

—Tỉ-kheo giữ luật khi cho ai xuất tội, thì có tội phải biết, không có tội phải biết, che giấu phải biết, không che giấu phải biết, phát lồ phải biết, không phát lồ phải biết, nên cho Biệt trụ phải biết, không nên cho Biệt trụ phải biết”.

Thế nào là không nên cho Biệt trụ?

- Không có tội thì không nên cho; không che giấu, không nên cho; tội không quyết định, che giấu không quyết định, đêm không quyết định, đương sự không yêu cầu, không đòi hỏi, thì không nên cho Biệt trụ.

Thế nào là nên cho Biệt trụ?

—Có tội thì nên cho; che giấu thì nên cho; chắc chắn có tội, chắc chắn che giấu, chắc chắn qua đêm, đương sự có yêu cầu thì nên cho.

Cho Biệt trụ không đúng pháp, cho Biệt trụ đúng pháp.

Thế nào là cho Biệt trụ không đúng pháp?

- Tội không chắc chắn, che giấu không chắc chắn, đêm không chắc chắn, đương sự không yêu cầu, không đòi hỏi, chúng Tăng không thành tựu, tác bạch không thành tựu, yết-ma không thành tựu. Đó gọi là cho Biệt trụ không đúng pháp.

Thế nào là cho biệt trụ đúng pháp?

—Có tội, tội chắc chắn, chắc chắn che giấu, chắc chắn trải qua đêm, đương sự có yêu cầu, chúng Tăng thành tựu, tác bạch thành tựu, yết-ma thành tựu. Nếu mỗi thứ đều thành tựu, đó gọi là cho Biệt trụ đúng pháp.

Hành Ba-lợi-bà-sa không đúng pháp, hành Ba-lợi-bà-sa đúng pháp.

Thế nào là hành Ba-lợi-bà-sa không đúng pháp?

- Tại chùa không có Tỉ-kheo, nửa chừng phạm tội bị phát giác, cùng ở chung với Tỉ-kheo khác đồng phòng, đồng có ngăn cách, Tỉ-kheo khách đến không bạch, Tăng tập họp đúng thời, phi thời không bạch. Đó gọi là hành Ba-lợi-bà-sa không đúng pháp.

Thế nào là hành Ba-lợi-bà-sa đúng pháp?

- Tại chùa có Tỉ-kheo đang sống, trong thời gian hành Ba-lợi-bà-sa không tái phạm, không bị cử tội, ở phòng riêng, ngăn cách riêng với Tỉ-kheo khác, khi Tỉ-kheo khách đến có bạch, khi Tăng tập họp đúng thời hay phi thời đều bạch. Đó gọi là hành Ba-lợi-bà-sa đúng pháp.

Đêm không gián đoạn, đêm có gián đoạn.

Thế nào là đêm không gián đoạn?

- Trong chùa có Tỉ-kheo đang ở, cho đến khi Tăng tập họp đúng thời, phi thời đều có bạch. Đó gọi là đêm không gián đoạn.

Thế nào là đêm có gián đoạn?

—Trong chùa không có Tỉ-kheo ở, cho đến khi Tăng tập họp đúng thời, phi thời đều không bạch. Đó gọi là ø đêm có gián đoạn.

Ngoài ra còn có nửa chừng phạm tội, nửa chừng không phạm tội.

Thế nào gọi là nửa chừng phạm tội ?

—Sau khi phát lồ, Tăng chưa cho hành Ba-lợi-bà-sa, bèn phạm lại, hành Ba-lợi-bà-sa nửa chừng rồi tái phạm. Đó gọi là nửa chừng phạm tội.

Thế nào gọi là nửa chừng không phạm tội? -Trong khoảng thời gian ấy không tái phạm. Đó gọi là nửa chừng không phạm tội.

Tỉ-kheo hành Ba-lợi-bà-sa nên tùy thuận hành bảy việc sau đây: 1. Việc thuộc Tỉ-kheo; 2. Việc thuộc Tỉ-kheo-ni; 3. Việc thuộc quyến thuộc; 4. Việc vào làng xóm; 5. Làm việc nhọc trong chúng; 6. Việc nhận người khác lễ bái; 7. Việc vương gia.

1. Thế nào là việc thuộc Tỉ-kheo?

—Không được nhận sự lễ bái của Tỉ-kheo; không được nói tội của Tỉ-kheo; không được bàn luận với Tỉ-kheo; không được nói tội của Sa-di; không được thưởng phạt Sa-di; không được bàn luận với Sa-di; không được làm sứ giả cho Tỉ-kheo; không được đi trước sau cùng hàng với Tỉ-kheo vào thôn xóm; khi Tăng chúng tập họp không được thay mặt cho chúng thuyết pháp, trừ khi sống một mình. Đó gọi là việc thuộc Tỉ-kheo.

2. Thế nào là việc thuộc Tỉ-kheo-ni?

—Không được nhận sự lễ bái của Tỉ-kheo-ni; không được nói tội của Tỉ-kheo-ni; không được bàn luận với Tỉ-kheo-ni; không được nói tội của Thức-xoa-ma-ni, Sa-di-ni; không được Thưởng phạt Thức-xoa-ma-ni, Sa-di-ni; không được luận bàn với Thức-xoa-ma-ni, Sa-di-ni; không được ngăn Tỉ-kheo-ni Bố-tát tự tứ; không được chận Tỉ-kheo-ni đứng ngoài cổng; không được đến dạy bảo Tỉ-kheo-ni, dù trước đó Tăng đã sai cũng không được đến. Đó gọi là việc thuộc Tỉ-kheo-ni.

3. Thế nào là việc thuộc về quyến thuộc?

- Không được độ người, không được cho người thọ cụ túc, không được nhận sự nương tựa của người khác và nuôi Sa-di, không được nhận sự cung cấp của Tỉ-kheo, không được đưa kinh cho người khác, không được theo người khác nhận những bản kinh, khi tụng kinh phải tụng nhỏ tiếng. Nếu trước đó đã có đệ tử nên bảo họ nương tựa người khác, phải cắt đứt sự thân thiết. Đó gọi là việc thuộc về quyến thuộc.

4. Thế nào là việc đi vào xóm làng?

—Không được đi vào xóm làng quá sớm, trở về quá trễ, không được đi trước hay sau trong hàng ngũ của Sa-môn vào xóm làng, không được đến nhà đàn việt quen biết, không được ở những ngôi già-lam không có Tăng, khi ngồi, khi ăn đều ở dưới Tỉ-kheo, không được sai người đi đón Thức ăn, không được cùng người đi đón Thức ăn, trừ khi đến phiên mình. Đó gọi là việc vào xóm làng.

5. Thế nào là làm những việc nhọc trong chúng?

—Sáng sớm thức dậy quét Tháp, viện, phòng Tăng, đem nước đến cho Tăng, rửa ráy chỗ đại tiểu tiện của Tăng. Tất cả những việc có thể làm được như thế phải tùy sức mà làm. Không được gởi dục, không được nhận sự gởi dục của người khác, trừ khi đến phiên mình. Đó gọi là làm những việc nhọc trong chúng.

6. Thế nào là nhận sự lễ bái?

—Không được nhận tất cả sự lễ bái; bạch nhất yết-ma, bạch tam yết-ma đều không được nhận. Đó gọi là nhận sự lễ bái.

7. Thế nào là việc thuộc nhà vua?

- Không được ỷ thế lực của vua, đại thần, cư sĩ, kẻ hung ác; không được chê Phật, chê pháp, chê Tăng, chê người làm yết-ma; chỉ tự trách mình, không được chê người khác. Đó gọi là việc thuộc nhà vua.

Tỉ-kheo hành Ba-lợi-bà-sa phải chấp hành bảy việc này. Đó gọi là tùy thuận hành. Nếu không làm thì gọi là không tùy thuận chấp hành.

PHÁP MA-NA-ĐỎA.

Ngoài ra, có các việc: không nên cho Ma-na-đỏa, nên cho Ma-na-đỏa.

Thế nào là không nên cho ma-na-đỏa?

—Không có tội thì không nên cho; che giấu mà chưa cho pháp Biệt trụ thì không nên cho; một nửa che giấu, một nửa không che giấu thì không nên cho; tội chưa quyết định, che giấu chưa quyết định, đêm chưa quyết định, thì không nên cho; Ba-lợi-bà-sa chưa quyết định thì không nên cho. Đương sự không đòi hỏi, không yêu cầu thì không nên cho Ma-na-đỏa.

Thế nào là nên cho Ma-na-đỏa?

—Có tội, che giấu, hành Ba-lợi-bà-sa xong; tội quyết định, che giấu quyết định, đêm quyết định, Ba-lợi-bà-sa quyết định, đương sự có yêu cầu thì nên cho Ma-na-đỏa. Nhưng cho có hai trường hợp cho không đúng pháp và cho đúng pháp.

Thế nào là cho không đúng pháp?

—Không có tội, cho đến đương sự không yêu cầu, không đòi hỏi; chúng không thành tựu, bạch không thành tựu, yết-ma không thành tựu. Nếu mỗi một việc nào không thành tựu thì gọi là cho không đúng pháp.

Thế nào là cho đúng pháp?

—Có tội, cho đến đương sự có yêu cầu đòi hỏi, chúng thành tựu, bạch thành tựu, yết-ma thành tựu, mỗi thứ đều thành tựu. Đó gọi là cho đúng pháp.

Hành Ma-na-đỏa không rốt ráo và hành Ma-na-đỏa rốt ráo.

Thế nào là hành Ma-na-đỏa không rốt ráo?

- Tăng chúng không đủ số thì không gọi là hành Ma-na-đỏa; nửa chừng tái phạm bị phát hiện; cùng ở với Tỉ-kheo trong một phòng, một chỗ có che chắn; không bạch với Tỉ-kheo khách; khi Tăng tập họp đúng thời hay phi thời không bạch; hằng ngày không bạch với chúng tăng trong cương giới. Đó gọi là thi hành Ma-na-đỏa không rốt ráo.

Thế nào là hành Ma-na-đỏa rốt ráo?

—Chúng Tăng đủ số; nửa chừng không tái phạm, không bị cử tội; không ở với Tỉ-kheo khác cùng một phòng, một chỗ có che chắn; Tỉ-kheo khách đến có bạch; khi Tăng tập họp đúng thời hay phi thời có bạch; hằng ngày có bạch với Tăng trong cương giới. Đó gọi là hành Ma-na-đỏa rốt ráo.

Đêm (6 đêm Ma-na-đỏa) bị dở dang, đêm không bị dở dang.

Thế nào là đêm bị dở dang?

—Trong khoảng 6 đêm Ma-na-đỏa chúng Tăng không đủ số, cho đến hằng ngày không bạch với Tăng trong cương giới. Đó gọi là 6 đêm Ma-na-đỏa bị dở dang.

Thế nào là 6 đêm Ma-na-đỏa không dở dang?

- Trong khoảng 6 đêm Ma-na-đỏa chúng Tăng đủ số, cho đến hằng ngày có bạch với Tăng trong cương giới. Đó gọi là đêm Ma-na-đỏa không dở dang.

Nửa chừng phạm tội, nửa chừng không phạm tội.

Thế nào là nửa chừng phạm tội?

- Trong khoảng thời gian chưa cho pháp Ma-na-đỏa mà phạm tội; trong lúc cho Ma-na-đỏa rồi, phạm tội; trong khoảng thời gian gần xong, phạm tội. Đó gọi là nửa chừng phạm tội.

Thế nào là nửa chừng không phạm tội?

- Không có các việc kể trên, đó gọi là nửa chừng không phạm tội.

Tỉ-kheo hành Ma-na-đỏa phải tùy thuận chấp hành 7 việc như trên đã nói. Đó gọi là Ma-na-đỏa. Tỉ-kheo phải tùy thuận chấp hành, nếu không chấp hành thì gọi là không tùy thuận hành.

PHÁP XUẤT TỘI.

Có trường hợp không nên cho xuất tội, có trường hợp nên cho xuất tội.

Trường hợp không nên cho:

—Không có tội thì không nên cho; che giấu, chưa cho pháp Biệt trụ thì không nên cho; hành Ma-na-đỏa chưa xong thì không nên cho; chưa hành Ma-na-đỏa thì không nên cho; vừa che giấu, vừa không che giấu thì không nên cho; tội chưa quyết định, che giấu không quyết định, đêm không quyết định, biệt trụ không quyết định, Ma-na-đỏa không quyết định, đương sự không yêu cầu, không đòi hỏi, thì không nên cho xuất tội.

Trường hợp nên cho:

—Có tội thì nên cho; che giấu tội thì nên cho hành biệt trú, và khi hành Ma-na-đỏa xong thì nên cho; không che giấu, hành Ma-na-đỏa xong, thì nên cho; tội quyết định, che giấu quyết định, đêm quyết định, biệt trú quyết định, Ma-na-đỏa quyết định và đương sự có yêu cầu, thì nên cho xuất tội.

Cho xuất tội đúng pháp, cho xuất tội không đúng pháp.

Cho xuất tội không đúng pháp:

—Không có tội, không nên cho, cho đến chúng không thành tựu, bạch không thành tựu, yết-ma không thành tựu. Nếu mỗi một thứ không thành tựu thì đó gọi là cho xuất tội không đúng pháp.

Cho xuất tội đúng pháp:

—Có tội, trường hợp nên cho, cho đến chúng thành tựu, bạch thành tựu, yết-ma thành tựu. Nếu mỗi mỗi việc đều thành tựu thì đó gọi là cho xuất tội đúng pháp.

Trường hợp cùng che giấu:

—Tỉ-kheo vào ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội mà không cố tâm che giấu, cũng thế, đến ngày Mồng hai, Mồng ba cho đến Mồng mười, tất cả đều biết là có tội, rồi cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Đó là mười tội. Tất cả các tội ấy đều có cùng một đêm che giấu, nên làm mười lần yết-ma Biệt trụ, mười lần xuất tội; nhưng cũng được làm một lần yết-ma Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Đó gọi là cùng chung che giấu.

Lại có trường hợp cùng chung che giấu:

Tỉ-kheo, ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội mà không cố tâm che giấu, cũng thế, ngày Mồng hai phạm hai tội, ngày Mồng ba phạm ba tội, cho đến ngày Mồng Mười phạm mười tội Tăng già bà thi sa. Tất cả đều biết là phạm tội và đều cố tâm che giấu tất cả cho đến rạng đông hôm sau. Đó gọi là 55 tội Tăng già bà thi sa. Tất cả đều có một đêm che giấu, nên làm 55 lần yết-ma biệt trụ, 55 lần Ma-na-đỏa, 55 lần xuất tội; nhưng cũng được làm một lần yết-ma Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Đó gọi là cùng chung che giấu.

Lại có trường hợp cùng chung che giấu:

—Tỉ-kheo ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa, không biết là phạm tội, cũng thế, ngày Mồng hai, ngày Mồng ba cho đến ngày Mồng mười, tất cả đều biết là phạm tội, và cố tâm che giấu tất cả đến rạng đông hôm sau. Đó là mười tội cùng chung một đêm che giấu, cho đến… cũng được làm yết-ma Biệt trụ một lần, Ma-na-đỏa một lần, xuất tội một lần. Đó gọi là cùng chung che giấu.

Lại có trường hợp cùng chung che giấu:

Tỉ-kheo ngày Mồng một trong tháng, phạm một tội Tăng già bà thi sa, không biết là phạm tội, không có tâm che giấu, cho đến ngày Mồng mười phạm mười tội Tăng già bà thi sa, tất cả đều biết là phạm tội, cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Trong 55 tội ấy đều có cùng một đêm che giấu, cho đến… cũng có thể làm yết-ma Biệt trụ một lần, Ma-na-đỏa một lần, xuất tội một lần. Đó gọi là cùng chung che giấu.

Trường hợp che giấu sai khác:

- Tỉ-kheo vào ngày mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, tới ngày thứ hai đến nói với người khác, rồi lại phạm tội Tăng già bà thi sa, cho đến ngày thứ mười tới nói với người khác rồi lại phạm tội và biết là phạm tội, nhưng cố tâm che giấu cho đến ngày 11 mới nói với người khác. Như vậy, trong mười tội Tăng già bà thi sa ấy tất cả đều có một đêm che giấu sai khác, nên làm mười lần yết-ma Biệt trụ, mười lần Ma-na-đỏa, mười lần xuất tội; nhưng cũng có thể làm một lần yết-ma Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Đó gọi là che giấu sai khác.

Lại có trường hợp che giấu sai khác: Tỉ-kheo vào ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, đến ngày Mồng hai nói với người khác, rồi lại phạm tội như vậy, cho đến ngày mười phạm mười tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, đến ngày 11 tới nói với người khác. Trong 55 tội Tăng già bà thi sa này tất cả đều có một đêm che giấu sai khác, nên làm 55 lần yết-ma Biệt trụ, 55 lần Ma-na-đỏa, 55 lần xuất tội; nhưng cũng có thể làm một lần yết-ma Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Đó gọi là trường hợp che giấu sai khác.

Trường hợp che giấu vô lượng:

Hoặc nhớ tội, không nhớ số đêm; hoặc nhớ số đêm, không nhớ tội; hoặc vừa nhớ tội, vừa nhớ số đêm; hoặc không nhớ tội cũng không nhớ số đêm.

1. Nhớ tội, không nhớ số đêm: Nhớ biết có phạm tội nhiều hay ít, nhưng không nhớ là mấy đêm.

2. Nhớ số đêm, không nhớ tội: Nhớ biết bao nhiêu đêm, nhưng không nhớ tội nhiều hay ít.

3. Vừa nhớ tội, vừa nhớ số đêm: Nhớ biết số tội nhiều hay ít, đồng thời cũng nhớ bao nhiêu đêm.

4. Không nhớ tội, cũng không nhớ số đêm: Không nhớ phạm tội nhiều hay ít, cũng không nhớ là bao nhiêu đêm.

Trong trường hợp nhớ tội mà không nhớ số đêm này, nên hỏi:

—Ông phạm tội khi nào, từ lúc chưa có tuổi (hạ) phải không?

Nếu đương sự im lặng, thì tùy theo năm (thọ giới) mà cho pháp Biệt trụ.

—Nếu đáp: “Không phải vậy”, thì hỏi tiếp: “Một tuổi chăng? Hai tuổi chăng? Năm tuổi chăng?”. Nên tùy theo họ im lặng ở khoảng nào mà cho pháp Biệt trụ ở khoảng đó. Đó là trường hợp nhớ tội mà không nhớ số đêm.

Trong trường hợp nhớ số đêm mà không nhớ tội thì tùy theo đêm nhiều ít mà cho pháp Biệt trụ vô lượng tội. Đó gọi là nhớ đêm mà không nhớ tội.

Trong trường hợp vừa nhớ tội vừa nhớ đêm thì khi đã nhớ tội nhiều hay ít, tùy theo nhớ đêm bao nhiêu mà cho pháp Biệt trụ. Đó gọi là vừa nhớ tội, vừa nhớ đêm.

Trong trường hợp không nhớ tội cũng không nhớ đêm, thì nên hỏi: “Ông phạm tội khi chưa có tuổi (hạ) phải không?”.

Nếu im lặng, thì tùy theo số năm mà cho pháp Biệt trụ vô lượng tội.

Nếu đáp: “Không phải vậy”, thì hỏi tiếp: “Từ lúc chưa có tuổi hạ phải không? hay một tuổi, hai, ba, bốn, năm tuổi?”.

Tùy theo họ im lặng ở chỗ nào thì cho pháp Biệt trụ vô lượng tội ở chỗ đó. Đó gọi là che giấu vô lượng.

Cùng chung che giấu, che giấu sai khác, che giấu vô lượng, ba loại này đều gọi là che giấu.

Che giấu riêng:

Tỉ-kheo ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác, ngày thứ hai lại phạm, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác, cho đến ngày thứ mười lại phạm, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác. Mười tội này mỗi tội đều che giấu riêng, nhưng tội cuối cùng chỉ có một đêm che giấu, như vậy hai đêm, ba đêm tính ngược lên đến tội đầu tiên thành mười đêm che giấu, do vậy nên làm mười pháp yết-ma Biệt trụ, mười Ma-na-đỏa, mười lần xuất tội; nhưng cũng có thể làm một lần Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội.

Lại có trường hợp che giấu riêng: Tỉ-kheo ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác, cho đến ngày thứ mười phạm mười tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác. Trong 55 tội này mỗi tội đều che giấu riêng, nhưng tội cuối cùng chỉ che giấu có một đêm, như vậy hai đêm, ba đêm, tính ngược lên đến tội đầu tiên thành ra 55 đêm che giấu, do đó, nên cho pháp yết-ma Biệt trụ 55 đêm, 55 Ma-na-đỏa, 55 lần xuất tội; nhưng cũng có thể cho một pháp Biệt trụ, một Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Đó gọi là che giấu riêng.

Hai loại cùng che giấu, che giấu riêng này đều gọi là che giấu.

Tỉ-xá-già-cước:

Hoặc là tội dài không phải đêm dài; hoặc đêm dài không phải tội dài; hoặc tội dài, đêm cũng dài; hoặc không phải tội dài cũng không phải đêm dài.

1. Có trường hợp tội dài, không phải đêm dài: Tỉ-kheo suốt ngày phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, đến nói với người khác. Đó gọi là tội dài, không phải đêm dài.

2. Có trường hợp đêm dài, không phải tội dài: Tỉ-kheo phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không đến nói với người khác. Đó gọi là đêm dài, không phải tội dài.

3. Có trường hợp tội dài, đêm cũng dài: Tỉ-kheo hằng ngày đều phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là có tội, nhưng che giấu một nửa, phát lồ một nửa. Đó gọi là tội dài, đêm cũng dài.

4. Có trường hợp không phải tội dài cũng không phải đêm dài: Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là có tội, không cố tâm che giấu, đến nói với người khác, rồi không phạm nữa. Đó gọi là không phải tội dài cũng không phải đêm dài.

Ở đây hai trường hợp tội dài đêm không dài và tội dài đêm cũng dài thì khi hành Ba-lợi-bà-sa nên cho ăn ít mà bắt làm việc nhiều, nếu cố tình không chấm dứt, thì nên bảo tịnh nhân cột tay chân, đặt trên giường, rồi nói: “Nếu còn tái phạm thì Tăng sẽ trị tội ông nặng hơn nữa”. Đó gọi là Tỉ-xá-già-cước.

Hoặc có trường hợp tội hợp, không phải đêm hợp; hoặc có trường hợp đêm hợp, không phải tội hợp; hoặc có trường hợp tội hợp mà đêm cũng hợp; hoặc có trường hợp không phải tội hợp cũng không phải đêm hợp:

1. Tội hợp, không phải đêm hợp: Tỉ-kheo phạm mười tội Tăng già bà thi sa, tất cả đều che giấu mười đêm. Tăng gom lại làm yết-ma cho một trăm đêm Biệt trụ.

Tỉ-kheo liền thưa: “Thưa trưởng lão, tôi bị bệnh hoạn ốm yếu không thể kham nổi, có thể cho hành tóm lược pháp Ba-lợi-bà-sa được không?”. Tăng nên nói: “Được”, rồi làm yết-ma gom một trăm đêm Biệt trụ thành mười đêm Biệt trụ. Đó gọi là tội hợp, không phải đêm hợp.

2. Đêm hợp, không phải tội hợp: Tỉ-kheo phạm mười tội Tăng già bà thi sa, tất cả đều che giấu mười đêm. Tăng gom lại cho mười đêm Biệt trụ. Tỉ-kheo bèn thưa: “Thưa trưởng lão, tôi thấy xấu hổ, muốn hành Ba-lợi bà-sa đầy đủ”. Tăng nên nói: “Được”. Đó gọi là đêm hợp, không phải tội hợp.

3. Tội hợp, đêm cũng hợp: Tỉ-kheo phạm mười tội Tăng già bà thi sa, tất cả đều che giấu mười đêm. Tăng gom lại cho mười đêm Biệt trụ. Đó gọi là tội hợp, đêm cũng hợp.

4. Không phải tội hợp, cũng không phải đêm hợp: (Như trường hợp trên) nhưng tất cả đều làm yết-ma cho pháp ba-lợi-bà-sa riêng. Đó gọi là không phải tội hợp, cũng không phải đêm hợp.

Hết quyển thứ hai mươi lăm

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 4.

TỘI CŨ.

Tỉ-kheo che giấu tội rồi xin Biệt trụ, đoạn, nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, tôi còn có tội Tăng già bà thi sa khác.

—Tội cũ hay tội trung gian?

—Tội cũ.

—Có che giấu hay không che giấu?

—Có che giấu.

—Này trưởng lão, pháp Biệt trụ trước Thầy đã hành đúng pháp, còn tội mà hôm nay nói có che giấu phải xin lại pháp Biệt trụ, rồi gộp lại hai tội cùng hành Ba-lợi-bà-sa, cùng hành Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, hành chung Ba-lợi-bà-sa, hành chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội, xin pháp Biệt trụ, làm được một nửa, bèn nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, tôi còn có tội Tăng già bà thi sa khác.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội cũ.

—Có che giấu hay không?

—Có che giấu.

—Pháp Biệt trụ của thầy đã làm đúng pháp còn tội che giấu hôm nay phải xin lại pháp Biệt trụ, rồi gộp hai tội lại hành chung Ba-lợi-bà-sa, hành chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, hành chung Ba-lợi-bà-sa, hành chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội rồi xin Biệt trụ, khi làm xong lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, tôi lại có tội Tăng già bà thi sa.

—Tôi cũ hay tội trung gian?

—Tội cũ.

—Có che giấu hay không?

—Có che giấu.

—Pháp biệt trụ trước thầy đã làm đúng pháp, tội che giấu hôm nay phải xin lại Biệt trụ, khi làm xong, gộp hai tội lại cùng xin Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, hành riêng Ba-lợi-bà-sa, hành chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội rồi hành Ba-lợi-bà-sa xong, đồng thời xin Ma-na-đỏa xong, lại nói:

—Thưa trưởng lão, Tôi lại có tội Tăng già bà thi sa.

—Tội cũ hay tội trung gian?

—Tội cũ.

—Có che giấu hay không?

—Có che giấu.

—Pháp Ba-lợi-bà-sa và Ma-na-đỏa trước đã làm đúng pháp, còn tội che giấu hôm nay phải xin lại pháp Ba-lợi-bà-sa, khi làm xong, lại xin Ma-na-đỏa, hai tội này gộp lại làm chung, rồi cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, hành Ba-lợi-bà-sa, xin riêng, làm chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội, làm xong Ba-lợi-bà-sa, xin Ma-na-đỏa, làm được nửa chừng, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, tôi lại có tội Tăng già bà thi sa. (cho đến nên nói):

—Pháp Ma-na-đỏa trước đã làm đúng pháp, còn tội che giấu hôm nay phải xin lại pháp Ba-lợi-bà-sa, khi làm xong lại xin Ma-na-đỏa. Hai tội này hợp lại làm chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, làm chung Ba-lợi-bà-sa, xin riêng, làm chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội, rồi làm Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, tôi lại có tội Tăng già bà thi sa. (cho đến nên nói):

—Pháp Ba-lợi-bà-sa và Ma-na-đỏa trước đã làm đúng pháp, còn tội che giấu hôm nay phải xin lại pháp Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa, khi làm xong sẽ xin xuất tội một lần.

Đó gọi là xin riêng Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa và xuất tội chung.

Tỉ-kheo che giấu tội, rồi hành Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa và xuất tội xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, tôi lại có tội Tăng già bà thi sa. (cho đến nên nói):

—Các pháp Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa, xuất tội trước đã làm đúng pháp, còn tội che giấu hôm nay phải xin lại pháp Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa và xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, hành riêng Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa và xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội, được cho pháp Ba-lợi-bà-sa xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, tôi lại có hai tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tọâi trung gian?

—Đó là tội cũ.

—Có che giấu hay không?

—Một tội che giấu, một tội không che giấu.

—Pháp Ba-lợi-bà-sa trước đã làm đúng pháp, còn nay tội không che giấu thì để yên, tội có che giấu thì phải xin lại pháp Ba-lợi-bà-sa, hợp lại làm xong, rồi cùng hành Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Như vậy, pháp Biệt trụ đoạn giữa và đoạn cuối, pháp Ma-na-đỏa đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, pháp xuất tội đoạn cuối, cũng nói như trên.

Tỉ-kheo che giấu tội, được cho pháp Ba-lợi-bà-sa xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, Tôi lại có ba tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Đó là tội cũ.

—Có che giấu hay không?

—Một tội che giấu, một tội không che giấu và một tội còn nghi ngờ.

—Pháp Ba-lợi-bà-sa trước đã làm đúng pháp, giờ đây tội không che giấu thì để yên, tội nghi ngờ thì hãy quyết định, còn tội che giấu thì phải xin lại pháp Ba-lợi-bà-sa, rồi cùng hành Ma-na-đỏa và cùng xuất tội. Như vậy, đoạn giữa Biệt trụ, đoạn cuối biệt trụ, đoạn đầu, giữa và cuối Ma-na-đỏa, đoạn cuối xuất tội cũng nói như trên.

Đó gọi là tội cũ.

TỘI TRUNG GIAN.

Tỉ-kheo che giấu tội, rồi hành Biệt trụ xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, tôi lại có tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Đó là tội trung gian.

—Phạm vào khi nào?

—Phạm trong lúc hành Biệt trụ.

—Có che giấu hay không?

—Có che giấu.

—Này trưởng lão, pháp Biệt trụ trước đã làm đúng pháp, nhưng còn thiếu một đêm, nay tội che giấu phải xin lại pháp Biệt trụ, rồi hợp lại mà làm, và cùng làm Ma-na-đỏa, cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, làm chung Biệt trụ, làm chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội, làm Biệt trụ xong, khi hành Ma-na-đỏa lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, Tôi lại có tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội trung gian.

—Phạm vào lúc nào?

—Phạm trong lúc hành Ma-na-đỏa.

—Có che giấu hay không?

—Có che giấu.

—Này trưởng lão, pháp Biệt trụ và Ma-na-đỏa trước đã làm đúng pháp, nhưng trong Ma-na-đỏa còn thiếu một đêm. Giờ đây tội che giấu phải xin lại pháp Biệt trụ, rồi khi làm xong lại xin pháp Ma-na-đỏa, họp lại mà làm, rồi cùng xuất tội. Đó gọi là xin riêng, hành Biệt trụ riêng, xin riêng Ma-na-đỏa, làm chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội, rồi hành Biệt trụ, Ma-na-đỏa và xuất tội xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão! Tôi lại có tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội trung gian.

—Phạm vào lúc nào?

—Phạm trong lúc Biệt trụ.

—Có che giấu hay không?

—Có che giấu.

—Này trưởng lão! Pháp Biệt trụ đầu tiên hành đúng pháp, nhưng còn thiếu một đêm, do đó, Ma-na-đỏa và xuất tội không thành tựu; giờ đây tội che giấu phải xin lại Biệt trụ, rồi hợp lại mà làm, làm xong lại hợp xin pháp Ma-na-đỏa rồi cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, hành chung Biệt trụ, xin chung Ma-na-đỏa, rồi cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội rồi hành Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa và xuất tội xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão! Tôi lại có tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội trung gian.

—Phạm vào lúc nào?

—Phạm trong lúc Ma-na-đỏa.

—Có che giấu hay không?

—Có che giấu.

—Pháp Biệt trụ và Ma-na-đỏa trước đã làm đúng pháp, nhưng trong Ma-na-đỏa còn thiếu một đêm. Do đó, việc xuất tội không thành. Giờ đây, tội che giấu phải xin lại pháp Biệt trụ. Khi làm xong, xin lại Ma-na-đỏa rồi hợp lại mà làm, làm xong cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, làm riêng Biệt trụ, xin riêng, làm chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội, rồi trong khi hành Biệt trụ, nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão! Tôi lại có hai tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội trung gian.

—Phạm vào lúc nào?

—Phạm trong lúc Biệt trụ.

—Có che giấu hay không?

—Một tội che giấu, một tội không.

—Pháp biệt trụ đầu đã làm đúng pháp, nhưng còn thiếu một đêm. Tội không che giấu thì để yên, còn tội che giấu phải xin lại Biệt trụ, hợp lại mà làm, và hành chung Ma-na-đỏa, rồi cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, hợp hành Biệt trụ, hành chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội, rồi hành Biệt trụ xong, đến lúc hành Ma-na-đỏa thì nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão! Tôi lại có hai tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội trung gian.

—Phạm vào lúc nào?

—Phạm trong lúc Ma-na-đỏa.

—Có che giấu hay không?

—Một tội che giấu, một tội không.

—Pháp Biệt trụ và Ma-na-đỏa trước đã làm đúng pháp, nhưng trong Ma-na-đỏa còn thiếu một đêm. Tội không che giấu thì để yên, còn tội che giấu phải xin lại Biệt trụ. Khi hành xong lại hợp xin Ma-na-đỏa, rồi cùng xuất tội.

Đó gọi là xin riêng, làm riêng Biệt trụ, xin chung, làm chung Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội rồi hành Biệt trụ, Ma-na-đỏa và xuất tội xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão! Tôi lại có hai tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội trung gian.

—Phạm vào lúc nào?

—Phạm trong lúc Biệt trụ.

—Có che giấu hay không?

—Một tội che giấu, một tội không.

—Pháp Biệt trụ đầu làm như pháp, nhưng còn thiếu một đêm, do đó, Ma-na-đỏa và xuất tội không thành. Giờ đây, tội không che giấu thì để yên, còn tội che giấu thì phải xin lại pháp Biệt trụ rồi hợp lại mà làm. Khi làm xong, lại hợp xin Ma-na-đỏa, rồi cùng xuất tội.

Tỉ-kheo che giấu tội, rồi hành Biệt trụ, Ma-na-đỏa và xuất tội xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão! Tôi lại có hai tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội trung gian.

—Phạm vào lúc nào?

—Phạm vào lúc Ma-na-đỏa.

—Có che giấu hay không?

—Một tội che giấu, một tội không.

—Pháp Biệt trụ và Ma-na-đỏa đầu đã làm đúng pháp, nhưng trong Ma-na-đỏa còn thiếu một đêm, do đó, việc xuất tội không thành. Giờ đây, tội không che giấu thì để yên, tội có che giấu phải xin lại Biệt trụ, khi làm xong, hợp xin Ma-na-đỏa rồi cùng xuất tội.

Lại có Tỉ-kheo che giấu tội, rồi trong khi hành Biệt trụ, nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão! Tôi lại có ba tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội trung gian.

—Phạm vào lúc nào?

—Phạm trong lúc Biệt trụ.

—Có che giấu hay không?

—Một tội che giấu, một tội không và một tội còn ngờ.

—Phần Biệt trụ đầu đã làm đúng pháp, nhưng còn thiếu một đêm. Giờ đây, tội không che giấu thì để yên, tội nghi ngờ cần phải quyết định, còn tội che giấu phải xin lại Biệt trụ, hợp lại mà làm, rồi cùng làm Ma-na-đỏa và cùng xuất tội.

Đến phần Ma-na-đỏa cũng nói như thế.

Tỉ-kheo che giấu tội, rồi hành Biệt trụ, Ma-na-đỏa và xuất tội xong, lại nói với Tỉ-kheo khác:

—Thưa trưởng lão, tôi lại có ba tội Tăng già bà thi sa.

—Đó là tội cũ hay tội trung gian?

—Tội trung gian.

—Phạm vào lúc nào?

—Phạm trong lúc Biệt trụ.

—Có che giấu hay không?

—Một tội che giấu, một tội không và một còn ngờ.

—Phần Biệt trụ đầu đã làm đúng pháp, nhưng còn thiếu một đêm, do đó, Ma-na-đỏa và xuất tội không thành tựu. Tội không che giấu thì để yên, tội nghi ngờ cần phải quyết định, còn tội che giấu phải xin lại Biệt trụ, gộp lại mà làm, đồng thời làm chung Ma-na-đỏa, rồi cùng xuất tội.

Nếu trong phần Ma-na-đỏa mà phạm lại ba tội thì cũng như trên. Đó gọi là xin riêng, hành Biệt trụ riêng, hành Ma-na-đỏa và xuất tội chung.

Trên đây gọi là tội Trung gian.

Nếu Tỉ-kheo cố ý xuất tinh, phạm tội Tăng già bà thi sa rồi che giấu, nhưng sau đó muốn hành Biệt trụ, thì nên xin với một Tỉ-kheo thông thạo yết-ma như sau: “Thưa trưởng lão! Xin trưởng lão cho tôi pháp yết-ma Ba-lợi-bà-sa”. Đoạn, đưa vị Tỉ-kheo mà mình tâm đắc đến giới trường để làm yết-ma cầu thính. Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp cố ý xuất tinh, phạm tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp – cố ý xuất tinh, phạm tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm—vào giữa Tăng xin mười đêm Biệt trụ.

Các đại đức đã bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—cố ý xuất tinh, phạm tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm—vào giữa Tăng xin mười đêm Biệt trụ, vì Tăng đã im lặng. Tôi ghi nhận việc này là như vậy.

Người này phải trịch vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay, nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp cố ý xuất tinh, phạm một tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, nay theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Kính mong Tăng xót thương cho tôi mười đêm Biệt trụ. (xin như vậy ba lần).

Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp cố ý xuất tinh, phạm một tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, đã theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho Tỉ-kheo mỗ giáp—cố ý xuất tinh, phạm một tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm—mười đêm Biệt trụ. Đây là lời tác bạch.

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp cố ý xuất tinh, phạm một tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Tăng nay cho Tỉ-kheo mỗ giáp—cố ý xuất tinh, phạm một tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm—mười đêm Biệt trụ. Đại đức nào bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—cố ý xuất tinh, phạm một tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm—mười đêm Biệt trụ thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—cố ý xuất tinh, phạm một tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm-mười đêm Biệt trụ đã xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này là như vậy.

Khi yết-ma xong, người này liền vào trong giới trường, trật vai áo phải, quỳ gối chắp tay, bạch Tăng như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp cố ý xuất tinh, phạm một tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm. Tôi đã theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Tăng đã thương xót cho tôi mười đêm Biệt trụ.

Thưa đại đức Tăng! Tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp, cố ý xuất tinh, phạm một tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, nay tôi thi hành pháp Biệt trụ, xin Tăng ghi nhớ cho. (nói như vậy ba lần rồi bạch): Tôi xin tùy thuận chấp hành bảy việc.

Nếu phạm hai, ba cho đến mười tội thì đều hợp xin một lần yết-ma Biệt trụ như vậy. Rồi người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười, tất cả đều che giấu mười đêm—theo Tăng xin Tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, muốn theo Tăng xin tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ.

Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng, tôi ghi nhận việc này là như vậy.

Thế rồi, người này nên trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay, xin như sau:

—Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười, tất cả đều che giấu mười đêm, nay theo Tăng xin tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ. Kính xin Tăng xót thương cho tôi tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ. (xin như vậy ba lần )

Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, đã theo Tăng xin tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm—tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười, tất cả đều che giấu mười đêm, theo Tăng xin tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ. Tăng nay cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa—tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ. Các đại đức nào bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp-phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm—tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế.)

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm—tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này là như vậy.

Nếu muốn làm liền thì ngay trong ngày ấy trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay, bạch Tăng như sau:

—Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, theo Tăng xin tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ. Tăng đã thương xót cho tôi tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ.

Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm—nay tôi làm chung pháp Biệt trụ, xin Tăng ghi nhớ cho. (nói như vậy ba lần, rồi tiếp). Tôi xin tùy thuận làm bảy việc.

Thế rồi, người này nên nhớ đếm từng ngày, khi làm đủ, nên bạch như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm. Tôi đã theo Tăng xin tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ. Tăng đã cho tôi mười đêm Biệt trụ. Tôi đã làm mười đêm Biệt trụ xong, xin Tăng ghi nhớ cho. (nói như vậy ba lần).

Nếu nơi đây Tăng chúng đủ số thì nên hành Ma-na-đỏa. Nếu không đủ thì nên xin nơi nào Tăng đủ số, rồi mời một Tỉ-kheo thông thạo yết-ma mà mình tâm đắc, đưa đến giới trường. Nếu không có giới trường, không có đất làm yết-ma thì việc của Tăng không làm được. Đất làm yết-ma như trên đã nói.

Rồi người làm yết-ma nên hỏi: “Hành Biệt trụ đủ chưa? Không làm Biệt trụ tại già-lam không có Tăng đấy chứ? Không phạm tội cũ và tội trung gian đấy chứ? Không ở cùng một phòng, một nơi được che kín với Tỉ-kheo đấy chứ? Khách Tỉ-kheo đến có bạch không? Khi Tăng tập họp đúng thời và phi thời có bạch không?”. Khi kiểm tra như vậy mà thấy đúng pháp, thì nếu phạm một tội, hai tội, ba tội cho đến mười tội, nên hợp lại xin (một lần) Ma-na-đỏa. Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Tỉ-kheo mỗ giáp đã làm xong mười đêm Biệt trụ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, làm Biệt trụ xong—theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, đã hành xong Biệt trụ, muốn theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa.

Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng, tôi ghi nhận việc này như thế.

Thế rồi, người này nên trật vai áo bên phải, quỳ gối chắp tay, xin Tăng như sau:

—Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm. Tôi đã theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ, và tôi đã làm xong mười đêm Biệt trụ, nay theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Kính mong Tăng xót thương cho tôi tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. (xin như vậy ba lần).

Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, đã theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Tỉ-kheo mỗ giáp đã làm xong mười đêm Biệt trụ, đã theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười, tất cả đều che giấu mười đêm, làm Biệt trụ xong—tổng hợp tất cả sáu đêm Ma-na-đỏa. Đây là lời tác bạch.

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, đã theo Tăng xin tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ. Tỉ-kheo mỗ giáp đã làm xong mười đêm Biệt trụ, đã theo Tăng xin tổng hợp tất cả sáu đêm Ma-na-đỏa. Tăng nay cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, làm xong Biệt tru ï-tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Các đại đức nào bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, làm xong Biệt trụ—tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp-phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, làm xong Biệt trụ—tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Khi yết-ma xong, ngay trong ngày ấy nên vào trong Tăng, bạch như sau:

—Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, đã theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Tôi đã làm xong mười đêm Biệt trụ, đã theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Tăng đã cho tôi sáu đêm Ma-na-đỏa.

Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, đã làm xong Biệt trụ, tổng hợp làm sáu đêm Ma-na-đỏa, xin Tăng ghi nhớ cho. (nói như thế ba lần rồi tiếp). Tôi xin tùy thuận làm bảy việc. (nói như thế ba lần).

Đến ngày thứ hai, nên bạch như sau:

—Thưa đại đức Tăng! Tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm. Tôi đã theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Tăng đã cho tôi mười đêm Biệt trụ. Tôi đã làm xong mười đêm Biệt trụ, đã theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Tăng đã cho tôi sáu đêm Ma-na-đỏa. Tôi đã làm xong một đêm Ma-na-đỏa, còn lại năm đêm, xin Tăng ghi nhớ cho. (nói như vậy ba lần).

Thế rồi hằng ngày nên bạch như thế, cho đến đêm thứ sáu nên bạch như sau:

—Thưa đại đức Tăng! Tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm. Tôi đã theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Tăng đã cho tôi mười đêm Biệt trụ. Tôi đã làm xong mười đêm Biệt trụ, và đã xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Tăng đã cho tôi sáu đêm Ma-na-đỏa. Tôi đã làm xong sáu đêm Ma-na-đỏa, giờ đến lúc xuất tội, xin Tăng ghi nhớ cho.

Nếu nơi đây Tăng đủ số thì nên mời một vị thông thạo yết-ma rồi bạch như sau: “Thưa trưởng lão, xin trưởng lão làm yết-ma cho tôi”.

Người làm yết-ma nên hỏi: “Khi hành Ma-na-đỏa Tăng không thiếu túc số đấy chứ? Ma-na-đỏa đã rốt ráo chưa? Có phạm lại tội cũ và tội trung gian không? Không ở với Tỉ-kheo cùng một phòng, một nơi có ngăn che đấy chứ? Khi Tỉ-kheo khách đến có bạch không? Khi Tăng tập họp đúng thời và phi thời có bạch không? Hằng ngày có bạch với Tăng trong trú xứ không?”. Nếu mỗi mỗi việc đều làm đúng pháp thì người làm yết-ma nên bạch như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, đã theo Tăng xin mười đêm Biệt trụ. Tăng đã cho mười đêm Biệt trụ. Mỗ giáp đã làm xong mười đêm Biệt trụ và đã theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Tăng đã cho sáu đêm Ma-na-đỏa. Tỉ-kheo mỗ giáp đã làm xong sáu đêm Ma-na-đỏa. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, đã làm xong mười đêm Biệt trụ và Ma-na-đỏa—theo Tăng xin tổng hợp xuất tội.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp -phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, tổng hợp làm Biệt trụ và Ma-na-đỏa xong—theo Tăng xin tổng hợp xuất tội.

Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng, tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi, người này nên trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay, đến trước Tăng xin như sau:

—Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp, phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh cho đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, đã theo Tăng xin tổng hợp mười đêm Biệt trụ. Tăng đã cho tôi mười đêm Biệt trụ. Tôi đã làm xong mười đêm Biệt trụ, và đã theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Tăng đã cho tôi sáu đêm Ma-na-đỏa. Tôi đã làm xong sáu đêm Ma-na-đỏa. Nay theo Tăng xin tổng hợp xuất tội về các tội đã che giấu mười đêm. Kính mong Tăng xót thương cho tôi xuất tội về các tội đã che giấu mười đêm . (xin như vậy ba lần).

Người làm yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, đã theo Tăng xin tổng hợp mười đêm Biệt trụ. Tăng đã cho mười đêm Biệt trụ. Tỉ-kheo mỗ giáp đã làm xong mười đêm Biệt trụ, và đã theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Tăng đã cho sáu đêm Ma-na-đỏa. Tỉ-kheo mỗ giáp đã làm xong sáu đêm Ma-na-đỏa, đã theo Tăng xin tổng hợp xuất tội về các tội đã che giấu mười đêm. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười, tất cả đều che giấu mười đêm, đã tổng hợp làm xong Biệt trụ và Ma-na-đỏa—tổng hợp xuất tội. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, đã theo Tăng xin tổng hợp mười đêm Biệt trụ. Tăng đã cho mười đêm Biệt trụ. Tỉ-kheo mỗ giáp đã làm xong mười đêm Biệt trụ, và đã theo Tăng xin tổng hợp sáu đêm Ma-na-đỏa. Tăng đã cho sáu đêm Ma-na-đỏa. Tỉ-kheo mỗ giáp đã làm xong sáu đêm Ma-na-đỏa và đã theo Tăng xin tổng hợp xuất tội về các tội đã che giấu mười đêm. Tăng nay cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, từ tội cố ý xuất tinh đến tội thứ mười tất cả đều che giấu mười đêm, đã tổng hợp làm xong mười đêm Biệt trụ và sáu đêm Ma-na-đỏa—tổng hợp xuất tội. Các đại đức nào bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—phạm mười tội Tăng già bà thi sa, che giấu mười đêm, đã làm xong mười đêm Biệt trụ và Ma-na-đỏa—tổng hợp xuất tội thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp—mười đêm che giấu, tổng hợp tất cả mười đêm Biệt trụ và Ma-na-đỏa—xuất tội xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận viêïc này như vậy.

Bấy giờ người làm yết-ma xoay qua nói với người phạm tội: “Thiện nam tử hãy lắng nghe. Thầy đã được xuất tội đúng pháp, một lần bạch, ba lần yết-ma, chúng Tăng đủ hai mươi người hòa hợp. Việc tập hợp Tăng làm yết-ma rất khó khăn. Thầy phải cẩn thận, chớ có tái phạm”.

Đó gọi là Biệt trụ, Ma-na-đỏa và xuất tội thuộc về Tỉ-kheo, đã xong.

VIỆC NÊN LÀM YẾT-MA. VÀ KHÔNG NÊN LÀM YẾT-MA.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba tranh chấp cãi vã nhau, sống không hòa hợp. Một người cử tội một người, hai người cử tội hai người, nhiều người cử tội nhiều người. Các Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn:

—Bạch Thế Tôn! Các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba sống phi pháp. Một Tỉ-kheo cử tội một Tỉ-kheo, hai Tỉ-kheo cử tội hai Tỉ-kheo, nhiều Tỉ-kheo cử tội nhiều Tỉ-kheo”.

Phật liền bảo các Tỉ-kheo:

—Có bốn pháp yết-ma. Thế nào là bốn? Đó là:

1. Yết-ma phi pháp, không hòa hợp;

2. Yết-ma phi pháp hòa hợp;

3. Yết-ma như pháp không hòa hợp;

4. Yết-ma như pháp hòa hợp”.

1. Yết-ma phi pháp không hòa hợp: Tỉ-kheo không có việc gì mà Tăng làm yết-ma chiết phục. Các Tỉ-kheo biết là phi pháp nên ngăn cản. Những Tỉ-kheo không đến thì không gởi dục, còn người nhận dục đến thì không nói.

Tỉ-kheo không có việc gì mà Tăng làm yết-ma chiết phục, rồi không tùy thuận làm mà cho xả (tội). Các Tỉ-kheo biết là phi pháp nên ngăn cản. Những Tỉ-kheo không đến thì không gởi dục, còn người nhận dục đến thì không nói.

Hai trường hợp trên được gọi là yết-ma phi pháp không hòa hợp.

2. Yết-ma phi pháp hòa hợp: Tỉ-kheo không có việc gì mà Tăng làm yết-ma chiết phục. Các Tỉ-kheo không biết là phi pháp nên không ngăn cản. Các Tỉ-kheo không đến thì gởi dục, người nhận dục đến thì trình bày.

Tỉ-kheo không có việc gì mà Tăng làm yết-ma chiết phục, rồi không tuân hành mà cho xả (tội). Các Tỉ-kheo không biết là phi pháp nên không ngăn cản. Các Tỉ-kheo không đến thì gởi dục, còn người nhận dục đến thì trình bày.

Hai trường hợp trên đều gọi là yết-ma phi pháp hòa hợp.

3. Yết-ma như pháp không hòa hợp: Tỉ-kheo có việc nên Tăng làm yết-ma chiết phục. Các Tỉ-kheo không biết là đúng pháp nên ngăn cản. Các Tỉ-kheo không đến mà không gởi dục, còn người nhận dục đến thì không trình bày.

Tỉ-kheo có việc nên Tăng làm yết-ma chiết phục, tùy thuận chấp hành và được xả (tội). Các Tỉ-kheo không biết là đúng pháp nên ngăn cản. Những Tỉ-kheo không đến mà không gởi dục, còn người nhận dục đến thì không trình bày.

Hai trường hợp trên đều gọi là yết-ma như pháp không hòa hợp.

4. Yết-ma như pháp hòa hợp: Tỉ-kheo có tội, Tăng làm yết-ma chiết phục. Các Tỉ-kheo biết là đúng pháp nên không ngăn cản. Những Tỉ-kheo không đến thì gởi dục, còn người nhận dục đến thì trình bày.

Tỉ-kheo có việc, Tăng làm yết-ma chiết phục, tùy thuận chấp hành rồi được xả (tội). Các Tỉ-kheo biết là đúng pháp nên không ngăn cản. Những Tỉ-kheo không đến thì gởi dục, còn người nhận dục đến thì trình bày.

Hai trường hợp trên đều gọi là yết-ma như pháp hòa hợp.

Ở đây, yết-ma như pháp hòa hợp thì gọi là yết-ma thích hợp. Ngoài ra, các yết-ma khác thì không thích hợp.

Lại có yết-ma không thích hợp:

Tỉ-kheo không có việc đáng chiết phục mà làm yết-ma chiết phục. Các Tỉ-kheo biết là phi pháp nên ngăn cản. Đương sự không hiện diện, không hỏi, không dẫn chứng lỗi lầm, làm phi pháp không hòa hợp, chúng không thành tựu, bạch không thành tựu, yết-ma không thành tựu. Nếu mỗi một việc nào không thành tựu thì gọi là yết-ma không thích hợp.

Nếu tùy thuận làm xong thì nên xả. Xả có sáu việc:

1. Làm yết-ma chiết phục;

2. Làm yết-ma không nói chuyện;

3. Làm yết-ma tẫn xuất;

4. Làm yết-ma phát hỉ;

5. Làm yết-ma cử tội;

6. Làm yết-ma Biệt trụ, Ma-na-đỏa.

1. Làm yết-ma chiết phục : Nên tùy thuận làm năm việc: Việc thuộc Tỉ-kheo; Việc thuộc Tỉ-kheo-ni; Việc thuộc quyến thuộc; Việc thuộc Yết-ma; Việc thuộc nhà vua. Sau khi làm yết-ma xong, nên nói: “Này trưởng lão, Thầy chớ có tái phạm. Nếu tái phạm thì Tăng sẽ trị phạt nặng hơn. Năm việc này nên tùy thuận làm tất cả”. Khi làm xong, tâm ý đã được chiết phục nhũn nhặn thì Tăng nên cho yết-ma xả (tội). Đó gọi là xả tác (Không làm nữa).

2. Làm yết-ma không nói chuyện: Nên tùy thuận làm năm việc: Việc thuộc Tỉ-kheo; Việc thuộc Tỉ-kheo-ni; Việc thuộc quyến thuộc; Việc thuộc yết-ma; Việc thuộc nhà vua. Khi làm yết-ma xong, nên tùy thuận làm năm việc trên. Tuy người một trăm tuổi cũng phải theo y chỉ với vị Tỉ-kheo trì giới, biết hai bộ luật, ít nhất mười tuổi (hạ). Sáng sớm thức dậy phải vấn an, đem đổ bô đại tiểu tiện, ống nhổ, rồi cất lại chỗ cũ, đưa đồ chà răng, quét phòng, đưa Thức ăn, giặt y, hong bát; cung cấp tất cả mọi thứ, chỉ trừ việc lễ bái, xoa bóp. Nhưng nếu Thầy y chỉ bệnh thì được sai xoa bóp. Thầy y chỉ nên dạy hai bộ luật. Nếu không có khả năng thì dạy một bộ. Nếu không có khả năng nữa, thì nên dạy rõ về năm thiên tội, nên dạy cho biết rõ về ấm, giới, nhập, mười hai nhân duyên, nên dạy cho biết thế nào là tội, thế nào là không phải tội, khi thấy có oai nghi nên khích lệ, trái oai nghi nên ngăn cản. Nếu học xong thì được gọi là xả.

3. Làm yết-ma tẫn xuất : Nên tùy thuận làm năm việc, từ việc thuộc Tỉ-kheo, cho đến việc thuộc nhà vua. Khi làm yết-ma xong, nên cho ở bên cạnh Tăng già-lam, để tùy thuận làm năm việc. Nếu mỗi mỗi việc đều làm đúng pháp xong thì nên cho xả tội. Đó gọi là xả tẫn xuất.

4. Làm yết-ma phát hỉ : Nên tùy thuận làm năm việc, từ việc thuộc Tỉ-kheo cho đến việc thuộc nhà vua. Khi làm yết-ma xong, nên sai đến nhà thế tục mà đương sự đã sai phạm xin lỗi. Nếu người thế tục hỏi: “Tôn giả vẫn còn ở tinh xá cũ sao? Tôi sẽ cắt đứt thực phẩm, y phục, tiền bạc và các phẩm vật khác tại nơi đó”, thì Tăng nên nói (với người phạm lỗi): “Đây không phải là lỗi của Tăng, thầy nên trở lại chỗ người ấy làm cho họ nguôi giận, khiến họ vui vẻ”. Nếu người ấy hoan hỉ thì gọi là xả.

5. Làm yết-ma cử tội : Nên tùy thuận làm năm việc, từ việc thuộc Tỉ-kheo đến việc thuộc nhà vua. Sau khi làm yết-ma xong, nên an trí tội nhân ở ngoài cửa Tăng già-lam, hướng về nơi hoang vắng. Nếu người ấy vào quét tước nơi Tháp, Viện, tăng phòng, thì Tỉ-kheo nên quét dấu chân của họ. Nếu người ấy đến múc nước đổ vào thùng nước dùng rửa chân, thùng nước dùng đi đại tiểu tiện thì nên múc đổ ra. Nếu là đệ tử đồng hành, đệ tử y chỉ thì không được gọi là đệ tử của Hòa Thượng, A-xà-lê. Không ai nên nói chuyện với người bị cử tội, chỉ nên nói với những người khác: “Hãy tùy thuận làm, hãy bỏ ác tà” nhưng không nên nói chuyện với Tỉ-kheo ác tà, không nên sống chung, không nên cùng ăn chung, không nên cùng sinh hoạt chung trong Phật, pháp, Tăng, không Bố-tát chung, không Tự túc chung, không yết-ma chung; có thể nói với ngoại đạo: “Ông muốn ngồi cứ ngồi”, mà không được bảo người bị cử tội ngồi. Nếu người ấy bị bệnh thì không nên chăm sóc, nhưng được bảo đàn việt hay thân quyến của người ấy: “Người bị cử tội đang lâm bệnh, ông hãy đến chăm sóc”. Nếu vô thường (sự chết) xảy đến thì không nên dùng hương hoa cúng dường tử thi, không nên sắm các thứ ẩm thực, nước uống phi thời để cúng dường. Tăng không nên chia y bát, không nên cho thiêu thân, lấy y bát buộc vào cổ tử thi, đặt tử thi trên giường mà ông ta ngủ rồi khiêng ra ngoài, nói: “Việc của chúng Tăng đã thanh tịnh, việc của chúng Tăng đã thanh tịnh”. Đối với Tỉ-kheo ác tà này không nên khởi ác tâm. Vì sao vậy? Vì dù bị thiêu đốt (?) cũng không nên khởi ác tâm. Nên suy nghĩ thế này: “Đừng để cho người đời sau bắt chước theo tà kiến này”. Nếu những kẻ chăn bò, những người đi lấy củi đem y bát (của người ấy) dến cúng dường thì được lấy, vì xem họ là thí chủ.

Nếu người bị cử tội tùy thuận làm năm việc, được chánh kiến, tâm ý nhu nhuyến thì nên cho họ xả tội. Tỉ-kheo hành Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa nên tùy thuận làm bảy việc, từ việc thuộc Tỉ-kheo cho đến việc thuộc nhà vua, đã được giải thích rõ ở trên. Đó gọi là xả (tội).

LÀM THA-LA-THA (Giải quyết việc bất hòa).

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, cư sĩ Tu Đạt nói với người chị:

—Chị ở trong thôn này hãy chăm sóc khách Tăng giúp tôi.

Khi thấy các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đến, bà rất hoan hỉ, niềm nở chào hỏi:

—Lành thay các đại đức đã đến đây.

Thế rồi, bà trải giường nệm, mời chư Tăng đến ngồi. Khi Tăng ngồi xong, bà đưa nước rửa chân, dầu thoa chân, nước giải khát, ban đêm bà đốt đèn, đoạn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, quỳ gối chắp tay, nói như sau: “Xin đại đức Tăng nhận lời mời của con ngày mai đến Thọ trai”.

Chư Tăng liền nhận lời mời. Bỗng chốc, chúng thứ hai lại đến, bà lại trải giường nệm, mời họ vào ngồi, rồi đưa nước rửa chân, dầu thoa chân và nước giải khát, đoạn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, quỳ gối chắp tay, nói như sau: “Xin đại đức Tăng nhận lời mời của con ngày mai đến nhà con Thọ trai”. Chúng này nói:

—Chúng tôi không ăn chung với những người ấy.

—Vì sao vậy?

—Vì họ là những người bị cử tội.

Các Tỉ-kheo ấy nói:

—Chúng tôi không phải là những người bị cử tội.

Chúng Tăng kia lại nói:

—Các ông là những người bị cử tội, tại sao bảo là không?

Cứ như vậy cãi nhau suốt đêm về việc bị cử hay không bị cử, khiến cho những người thế tục ở gần đó sinh tâm không vui. Bà chị ông cư sĩ nghe thế, liền trách cứ:

—Vì sao Sa-môn lại cãi nhau suốt đêm về việc bị cử hay không bị cử.

Rồi bà thấy lòng không vui. Do thế, buổi sáng, bà không cho bữa ăn trước, bữa ăn sau, rồi lên xe ngựa đi về thành Xá-vệ, đến chỗ cư sĩ Tu Đạt, trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên, cho đến việc bà không thếch đãi. Cư sĩ nghe rồi, lòng bồi hồi không vui, nói với chị:

—Đấy là việc ác, cứ cho (họ ăn), vì sao lại không cho? Việc đúng pháp hay phi pháp là chuyện của Sa-môn (chứ can hệ gì! ).

Thế rồi, Tu Đạt bèn đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, ngồi sang một bên, trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên, cho đến bị cử, không bị cử cho Thế Tôn nghe, rồi bạch:

—Bạch Thế Tôn! Chúng con phải cung kính cúng dường như thế nào đối với những người vị cử, kính xin Thế Tôn phân biệt dạy rõ?

Phật nói với cư sĩ:

—Đúng nghĩa nên biết, không đúng nghĩa cũng nên biết, đúng pháp, phi pháp, đúng luật, phi luật đều nên biết. Trong đây những ai làm đúng nghĩa, như pháp, như luật nên cung cấp. Nếu không có phương tiện thì đối với những Tỉ-kheo bị cử nên giúp bằng sức lực. Này cư sĩ, chỉ nên bố thí làm các công đức, còn việc đúng pháp hay phi pháp thì để các Sa-môn tự biết lấy.

Thế rồi, Tỉ-kheo-ni Đại Ái Đạo đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Chúng con phải làm sao… ?

Cuối cùng Phật dạy: “Nếu không có phương tiện thì đối với những Tỉ-kheo bị cử nên giúp họ bằng sức lực”.

Bấy giờ, tôn giờ A Nan, Ưu-ba-li đi đến chỗ Thế Tôn, cũng hỏi như thế.

Khi ấy, tôn giả Xá-lợi-phất bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Những Tỉ-kheo bị cử tội chúng con làm sao biết được?

Cho đến (Phật dạy: ) “Nếu không có phương tiện thì đối với những Tỉ-kheo bị cử nên giúp họ bằng công việc”.

Thế rồi, Xá-lợi-phất bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Tha-la-tha? Phật nói với Xá-lợi-phất:

—Có bảy việc, bao gồm chẳng phải Tha-la-tha mà tợ hồ Tha-la-tha và nhị Tha-la-tha. Bảy việc đó là: Hoặc do điên cuồng nên không bênh vực chúng này cũng không bênh vực chúng kia. Đó là Tha-la-tha sớm nhất, thuộc loại không phải Tha-la-tha mà tợ hồ Tha-la-tha. Cũng thế, hoặc do tâm loạn, đần độn, ngu si, bị bệnh nên không bênh vực chúng này hay chúng kia.

Lại nữa Xá-lợi-phất, hoặc có người vì muốn lợi ích, nên suy nghĩ:

—Nếu ta bênh vực chúng này thì chúng kia mất lợi ích. Nếu ta bênh vực cho chúng kia thì chúng này mất lợi ích.

Do đó, cả hai đều không bênh vực.

Lại nữa, có người vì được lợi ích cả hai bên nên suy nghĩ: “Vì ta được lợi cả hai bên nên không bênh vực chúng này, cũng không bênh vực chúng kia”.

Này Xá-lợi-phất! Đó gọi là bảy việc, không phải Tha-la-tha mà tợ Tha-la-tha.

Nhị tha-la-tha: Gồm có: Tự giữ lòng mình, đợi thời gian.

Tự giữ lòng mình: Khi thấy người ta thị phi, liền suy nghĩ: “Do nghiệp vận hành, ai làm nấy biết. Ví như khi bị lửa cháy, ta chỉ lo tự cứu mình, hơi đâu lo việc người khác”. Đó gọi là tự giữ lòng mình.

Đợi thời gian: Có người khi thấy kẻ khác tranh chấp cãi nhau, liền suy nghĩ: “Việc tranh chấp cãi vã này khi nào đến lúc, nó sẽ tự kết thúc”.

Đó gọi là Nhị tha-la-tha.

Bấy giờ Xá-lợi-phất bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Trung tha-la-tha?

Phật nói với Xá-lợi-phất:

—Có một người cùng hưởng chung pháp vị và thức ăn với chúng này, đồng thời cũng hưởng chung pháp vị và thức ăn với chúng kia, rồi được mời đứng ra giải quyết việc (tranh chấp).

Lại nữa này Xá-lợi-phất, có người cùng hưởng chung pháp vị và thức ăn với chúng này, đồng thời cũng hưởng chung pháp vị và thức ăn với chúng kia, người ta không mời mà đứng ra giải quyết việc tranh chấp. Đó gọi là Trung Tha-la-tha.

Khi ấy, Xá-lợi-phất bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Tỉ-kheo Tha-la-tha muốn xử lý Tỉ-kheo bị cử thì phải làm sao?

Phật nói với Xá-lợi-phất:

—Nếu người bị cử tỏ ra tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến mà mình muốn xử lý họ thì không nên xử lý vào lúc Tăng tập hợp đúng thời và phi thời mà trước hết nên vào nơi phòng riêng hay tại phòng sưởi, trên giảng đường, hay tại chỗ đông người tụ tập, hỏi Tỉ-kheo trẻ tuổi:

—Trưởng lão có nghe Hòa Thượng A-xà-lê của thầy nói: “Nếu trung gian có người đứng ra giải quyết, thì người bị cử nên nghe lời”, hay không? Nếu đáp:

—Tôi nghe Hòa Thượng A-xà-lê nói rằng nếu người bị cử tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến mà có người còn moi móc thì phải trừng trị người này.

Nếu nghe nói như thế thì cứ làm thinh để yên. Còn nếu đáp:

—Tôi nghe Hòa Thượng A-xà-lê nói rằng người bị cử đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến đáng thương mà không có ai giúp giải quyết.

Khi nghe nói như thế thì này Xá-lợi-phất, không được cố ý tập họp chúng, mà hãy nhân lúc chúng tập họp đúng thời hay phi thời, hoặc vào những ngày Bố-tát tự tứ, người bị cử nên đến trước Tăng xin như sau:

—Tôi là Tỉ-kheo bị cử đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến, xin xả (tội) cho tôi.

Nói như thế ba lần, rồi đi ra. Nhưng lúc đi ra, không được im lặng mà nên trịch vai áo bên phải, chắp tay lại mà đi. Nếu trong chúng có người còn bới móc thì Tỉ-kheo Tha-la-tha nên hỏi:

—Này trưởng lão, người này vốn do việc gì mà bị cử?

Nếu có người trách: “Người này bị cử mà vì sao không biết?”, thì nên phối hợp trị tội cả hai. Còn nếu nghe mình chất vấn mà im lặng, hay nói: “hưa trưởng lão! Người này bị cử tội, đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến mà không có người giúp giải quyết xả tội”, thì Tỉ-kheo Tha-la-tha nên nói: “Thưa trưởng lão! Đức Thế Tôn dạy rằng có hai hạng người cương cường, chưa trị thì nên trị, đã trị mà nhu nhuyến thì nên xả”.

Nếu trường hợp được Tăng chúng đồng tình thì nên làm yết-ma cầu thính, khi đã cho phép xin thì người làm yết-ma nên nói:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp có việc như thế, Tăng muốn được lợi ích nên đã làm yết-ma cử tội. Vị ấy đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp theo Tăng xin bỏ pháp yết-ma cử tội.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp muốn theo Tăng xin bỏ pháp yết-ma cử tội.

Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng, tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi, người này nên trật vai áo bên phải, quỳ gối chắp tay, xin như sau:

—Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp có việc như thế, Tăng vì muốn được lợi ích đã làm yết-ma cử tội. Tôi đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến, bỏ ác kiến cũ, nay theo Tăng xin bỏ pháp yết-ma cử tội. Kính mong Tăng xót thương cho tôi pháp yết-ma bỏ việc cử tội. (xin như vậy ba lần)

Người làm yết-ma nên nói:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp có tội như thế, Tăng muốn được lợi ích nên đã làm yết-ma cử tội. Vị ấy đã tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến, bỏ ác kiến cũ, đã theo Tăng xin phép yết-ma bỏ việc cử tội. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử tội. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp có việc như thế, Tăng muốn được lợi ích nên đã làm yết-ma cử tội. Vị ấy đã tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến, bỏ ác kiến cũ, đã theo Tăng xin pháp yết-ma bỏ việc cử tội. Tăng nay cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử tội. Các đại đức nào bằng lòng Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử tội thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử tội, vì Tăng đã im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Đó gọi là tha-la-tha.

DỊ TRỤ (Phá Yết-ma Tăng).

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ cư sĩ Tu Đạt nói với người chị:

—Chị ở thôn này, vậy khi có khách Tăng đến nhờ chị cung cấp giúp cho tôi.

Thế rồi, các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đến. Thấy họ, bà hoan hỉ mời vào chỗ ngồi, rồi tùy nghi cung cấp. Đoạn, bà quỳ gối chắp tay thưa:

—Kính xin các đại đức ngày mai đến thọ bữa cúng dường của con.

Trong chốc lát, chúng thứ hai lại đến, bà cũng mời vào nhà ngồi, rồi cung cấp các thứ, đồng thời mời họ ngày mai thọ trai. Chúng này nói:

—Chúng tôi không ăn chung với những người ấy.

Bà hỏi:

—Vì cớ sao?

Họ đáp:

—Vì những người ấy phá Tăng.

Chúng này liền đáp:

—Chúng tôi không phá Tăng.

Chúng kia nói lại:

—Các vị phá Tăng thật, vì sao nói là không? Cứ như thế cãi nhau suốt đêm, khiến những người thế tục ở gần nghe xong phát chán. Bà chị ông cư sĩ không vui, nên không cung cấp thứ gì cả. Sáng sớm bà thức dậy, ngồi xe ngựa trở lại thành Xá-vệ, trình bày lại đầy đủ sự việc trên với Tu Đạt. Cư sĩ nghe xong, liền đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, đem việc trên trình bày lại đầy đủ với Thế Tôn; rồi bạch:

—Bạch Thế Tôn! Những người phá Tăng này chúng con có nên cung kính cúng dường hay không, kính xin Thế Tôn phân biệt chỉ rõ?

Phật nói với cư sĩ:

—Những người hợp nghĩa nên biết, những người không hợp nghĩa cũng nên biết, như pháp, phi pháp, như luật, phi luật, tất cả đều nên biết. Trong đây, những ai hợp nghĩa, như pháp, như luật thì nên cung cấp. Nếu không có phương tiện thì đối với những người phá Tăng nên cho họ ở chung. Này cư sĩ, chỉ nên bố thí, làm các công đức, còn việc đúng pháp hay phi pháp thì mặc Sa-môn.

Bấy giờ, Tỉ-kheo-ni Đại Ái Đạo bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Những người phá Tăng này chúng con làm sao biết được?

Như ở trên đã nói rõ.

Khi ấy, tôn giả A Nan, Xá-lợi-phất và Ưu-Ba Li đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng sang một bên, bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Những người phá Tăng chúng con làm sao biết được?

Phật nói với Ưu-ba-li:

—Những ai hợp nghĩa nên biết, không hợp nghĩa cũng nên biết, hoặc như pháp phi pháp, đúng luật phi luật, đều nên biết. Trong đây, những người hợp nghĩa, như pháp, như luật thì nên cung cấp. Nếu không có phương tiện thì đối với những người phá Tăng nên cho họ ở chung.

Thế rồi, tôn giả Ưu-ba-li bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là phá Tăng? Phật nói với Ưu-ba-li:

—Có hai việc gọi là phá Tăng. Đó là: 1. Thêm pháp ác; 2. Thêm người ác.

—Chúng phi pháp đông người, chúng như pháp ít người, có gọi là phá Tăng không?

—Không.

—Chúng như pháp đông người, chúng phi pháp ít người, có gọi là phá Tăng không?

—Không.

—Chúng phi pháp đông người, chúng như pháp hoặc thiếu mười người, hoặc thiếu mười lăm người, có gọi là phá Tăng không?

—Không.

—Chúng phi pháp đủ người, chúng như pháp cũng đủ người, nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người mà trong số những người còn ngồi lại tất cả đều nói đúng pháp, có gọi là phá Tăng không?

—Không.

—Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số, nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người, mà trong đó tất cả những người nói đúng pháp không ngồi, không gởi dục, cũng không cho biết là mình không bằng lòng, thì có gọi là phá Tăng không?

—Không.

—Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số, nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người mà tất cả những người nói đúng pháp không ngồi, không gởi dục, cũng không cho biết là mình không bằng lòng, rồi miễn cưỡng đem những người chưa thọ cụ túc vào cho đủ số, thì có gọi là phá Tăng không?

—Không.

—Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số, nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người, mà tất cả những người nói đúng pháp không ngồi, không gởi dục, cũng không cho biết là mình không bằng lòng, không miễn cưỡng đem những người chưa thọ cụ túc vào cho đủ số, nhưng tất cả đều muốn phá Tăng, thì có gọi là phá Tăng không?

—Không. Này Ưu-ba-li! Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số, hoặc thiếu mười, mười lăm người, mà tất cả những người nói đúng pháp không ngồi lại, không gởi dục, không cho biết là mình không bằng lòng, không miễn cưỡng đem người chưa thọ cụ túc vào tính cho đủ số, cũng không phải tất cả đều muốn phá Tăng; nhưng nếu một trú xứ, cùng một cương giới mà Bố-tát riêng, tự tứ riêng, làm việc tăng riêng, thì gọi là phá Tăng. Nếu biết người kia muốn phá Tăng, thì các Tỉ-kheo nên khuyên: “Này trưởng lão! Thầy đừng phá Tăng, phá Tăng là tội rất nặng, sẽ đọa vào đường ác, rơi xuống địa ngục. Tôi sẽ cho Thầy y bát, trao cho kinh, dạy kinh, hỏi han công việc, chỉ bảo Thầy”. Nếu đã khuyên như thế mà vẫn cố tình không bỏ thì nên nói với người Ưu-bà-tắc có thế lực: “Này lão trượng! Người này muốn phá Tăng. Ông nên đến khuyên để ông ta hiểu, bảo phải chấm dứt”.

Thế rồi, Ưu-bà-tắc nên khuyên:

—Này tôn giả! Thầy đừng phá Tăng, phá Tăng là trọng tội, sẽ đọa vào đường ác, rơi xuống địa ngục. Tôi sẽ cho tôn giả y bát và cung cấp thuốc thang chữa bệnh. Nếu không thích tu phạm hạnh nữa thì có thể hoàn tục. Tôi sẽ cưới vợ cho thầy và cung cấp những thứ cần thiết.

Nếu vẫn cố tình không chấm dứt thì nên rút thăm rồi đuổi đi. Đuổi rồi cần phải tuyên bố như sau:

—Này các đại đức! Có người phá Tăng đến đấy, các vị nên coi chừng.

Nếu đã làm đủ cách như vậy mà vẫn cố tình phá Tăng thì gọi là phá Tăng. Nhưng nếu bố thí cho họ thì gọi là việc phước điền tốt. Nếu thọ giới với họ thì gọi là khéo thọ cụ túc. Nếu đã biết họ phá Tăng thì nên bỏ đi. Nếu không bỏ đi tức là bạn của kẻ phá Tăng, là bè đảng phá Tăng. Do thế, Tăng suốt đời không nên cùng nói chuyện với họ, không cùng ăn chung, không cùng sinh hoạt chung trong Phật pháp Tăng, không Bố-tát, an cư, Tự tứ chung và không làm yết-ma chung.

Có thể nói với những người xuất gia của ngoại đạo:

—Có các chỗ ngồi, các vị muốn ngồi cứ ngồi.

Nhưng không được mời những người phá Tăng ngồi.

Đó gọi là dị trụ.

CHO PHÁP HỌC HỐI BA-LA-DI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có Nan Đề không thích sống ở nhà, bỏ nhà xuất gia, đi cũng Thiền, đứng cũng Thiền, ngồi cũng Thiền, nằm cũng Thiền. Lúc ấy cũng có nhiều Nan Đề khác làm như vậy, cho nên những người này được gọi là Thiền Nan Đề, như trong giới Ba-la-di đã nói rõ. Do thế, các Tỉ-kheo bèn đuổi đi. Sau khi bị đuổi, họ ra đứng trước cổng tinh xá Kỳ Hoàn khóc lóc, nói với Tỉ-kheo:

—Thưa trưởng lão, tôi phạm giới Ba-la-di, nhưng không có một chút tâm ý che giấu. Tôi thích mặc Ca-sa, không muốn rời bỏ Phật pháp.

Thế rồi, mẹ của Nan Đề đến, cũng khóc, nói:

—Con tôi thích xuất gia nhưng đức Thế Tôn đuổi đi.

Rồi chị Nan Đề đến, cũng khóc, nói:

—Em tôi thích làm Sa-môn mà Thế Tôn đuổi đi.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo:

—Ông Nan Đề này phạm giới Ba-la-di nhưng không hề có một chút tâm niệm che giấu, vậy, Tăng nên cho pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Người này nên trịch vai áo bên phải, quỳ gối chắp tay, theo Tăng xin như sau:

—Thưa đại đức Tăng! Tôi là Nan Đề, phạm giới Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu. Nay theo Tăng xin pháp học hối Ba-la-di. Kính mong Tăng xót thương cho tôi pháp yết-ma học hối Ba-la-di. (xin như vậy ba lần).

Người làm yết-ma nên nói:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Nan Đề phạm giới Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu, đã theo Tăng xin pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Nan Đề pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Nan Đề phạm giới Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu, đã theo Tăng xin pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Tăng nay cho Tỉ-kheo Nan Đề pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Các đại đức nào bằng lòng Tăng cho Tỉ-kheo Nan Đề pháp yết-ma học hối ba-la-di thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo Nan Đề pháp yết-ma học hối Ba-la-di xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi, người này nên ngồi dưới tất cả Tỉ-kheo, ngồi trên tất cả Sa-di, không được ngủ cùng phòng với Tỉ-kheo quá ba đêm, cũng không được ngủ với Sa-di quá ba đêm. Những món ăn nào không hợp pháp đối với Tỉ-kheo, thì với vị này cũng không hợp pháp. Những món ăn nào không hợp pháp đối với vị này, thì với Tỉ-kheo cũng không hợp pháp. Vị này được Tỉ-kheo trao cho Thức ăn, ngoại trừ năm thứ thực vật hỏa tịnh và vàng bạc. Vị này được theo Sa-di nhận thức ăn. Tỉ-kheo không được nói với vị này về giới bản, về tội Ba-la-di, Tăng già bà thi sa, cho đến tội Việt-tì-ni. Nhưng được nói:

—Không được làm điều phi phạm hạnh, không được trộm cắp, không được sát sinh, không được nói dối, không được uống rượu; tất cả đều được dạy bảo như thế.

Nếu trước đó là người tụng giới thì (giờ đây) không được tụng lớn tiếng.

Nếu tôn kính pháp thì được tụng thầm. Tăng không được cho Bố-tát tự tứ. Vào ngày Bố-tát, tự tứ, vị này nên vào giữa Tăng nói như sau:

—Tôi thanh tịnh, xin Tăng ghi nhận cho.

Nói như vậy ba lần rồi lui ra. Trong bốn giới Ba-la-di, nếu vị này vi phạm thì phải đuổi đi; còn các giới Tăng già bà thi sa trở xuống mà phạm thì tất cả đều cho sám hối tội Đột-cát-la.

Đó gọi là cho pháp yết-ma học hối Ba-la-di.

TÙY THUẬN HÀNH MÍCH TỘI TƯỚNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà thường phạm tội Tăng già bà thi sa. Tăng tập họp định làm yết-ma thì Thi Lợi Da Bà không đến. Tăng bèn sai sứ đến gọi:

—Trưởng lão! Chúng Tăng tập họp định làm yết-ma vì sao không đến?

Thi Lợi Da Bà nói: “Ắt hẳn Tăng vì ta mà làm yết-ma chứ gì!”, liền cảm thấy trong lòng hoảng sợ, rồi đi đến. Các Tỉ-kheo hỏi:

—Trưởng lão! Thầy phạm tội Tăng già bà thi sa phải không?

Thầy đáp:

—Phạm.

Rồi, trong lòng sinh hoan hỉ, thầm nghĩ:

—Các vị phạm hạnh khởi từ tâm đối với ta, nêu ra tội có thể sám hối, chứ không phải không thể sám hối.

Liền bạch:

—Cho tôi ra ngoài một lát.

Sau khi thầy ra rồi, các Tỉ-kheo bàn nhau:

—Vị Tỉ-kheo này khinh suất, không quyết định, đi rồi, lát nữa thế nào cũng nói dối, cần phải hỏi lại ba lần cho chắc chắn rồi mới làm yết-ma.

Thi Lợi Da Bà ra ngoài rồi suy nghĩ: “Vì sao ta lại nhận tội ấy? Các Tỉ-kheo thường thường trị tội ta, ta không nên nhận”.

Các Tỉ-kheo liền gọi Thi Lợi Da Bà vào, rồi hỏi:

—Thầy có phạm tội Tăng già bà thi sa thật không?

—Không phạm.

—Vì sao lúc ở giữa Tăng Thầy nói có tội đó, mà giờ lại bảo là không phạm?

—Tôi không nhớ việc đó.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thi Lợi Da Bà đến. Khi thầy đến, Phật liền hỏi lại đầy đủ sự việc trên:

—Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

Phật liền nói với các Tỉ-kheo:

—Ông Thi Lợi Da Bà này lúc ở giữa Tăng nói là thấy tội, rồi lại nói là không thấy, không thấy lại nói là thấy, còn nói rằng không nhớ. Vậy Tăng nên làm yết-ma mích tội tướng (tìm dấu vết của tội). Người làm yết-ma nên nói:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà khi ở giữa Tăng thấy tội thì nói là không thấy, không thấy lại nói là thấy, rồi nói không nhớ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma mích tội tướng. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà khi ở giữa Tăng thấy tội thì nói là không thấy, không thấy lại nói là thấy, rồi nói mình không nhớ. Tăng nay cho pháp yết-ma mích tội tướng. Các đại đức nào bằng lòng Tăng cho Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma mích tội tướng thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma mích tội tướng, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi, người này suốt đời nên làm tám việc sau đây:

1. Không được độ người;

2. Không được cho người thọ cụ túc;

3. Không được cho người y chỉ;

4. Không được nhận sự cung cấp và xoa bóp của Tỉ-kheo;

5. Không được làm sứ giả cho Tỉ-kheo;

6. Không được nhận Tăng sai theo thứ tự;

7. Không được làm người thuyết pháp cho Tăng;

8. Suốt đời không cho xả tội.

Khi Tăng hòa hợp làm yết-ma mích tội tướng xong thì phải thi hành tám việc này suốt đời mà không được bỏ. Đó gọi là Mích tội tướng tùy thuận làm.

Kệ tóm tắt:

“Cử yết-ma, Biệt trụ,
Ma-na-đỏa, xuất tội.
Nên, không nên tùy thuận,
Tha-la-tha, dị trụ.
Học hối, Mích tội tướng,
Kết thúc phẩm thứ hai”.