LUẬT MA HA TĂNG KỲ

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 5.

PHÉP BỐ-TÁT.

Khi Phật an trú tại Thành Vương Xá, nói rộng như trên. Bấy giờ, chín mươi sáu loại người xuất gia đều cử hành Bố-tát, mà Tỉ-kheo không Bố-tát. Vì thế, bị người đời chê bai:

—Vì sao chín mươi sáu loại người xuất gia đều có Bố-tát mà Sa-môn Thích tử không Bố-tát?

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo:

—Như thế thật đáng bị người ta chê trách. Từ nay về sau phải Bố-tát, gồm các việc: 1. Đọc kệ; 2. Ngày 14 ngày 15; 3. Chỉ chỗ Bố-tát; 4. Bố-tát ban ngày; 5. Trong nhà; 6. Bọn cướp; 7. Vua; 8. A Na Luật; 9. Hai cách đếm; 10. Không tụng thuộc; 11. Không tụng thuộc tất cả; 12. Thuận nghịch; 13. Muốn nghe từ đầu; 14. Người chưa Thọ cụ túc; 15. Tụng giới sớm quá; 16. Một trú xứ; 17. Hai chúng; 18. Hai chúng đã tụng, hai chúng chưa tụng; 19. Gởi dục; 20. Nhận dục; 21. Gởi dục nhiều; 22. Gởi dục bằng; 23. Cù-sư-la; 24. Đại Ái Đạo; 25. Xiển-đà; 26. Bệnh; 27. A-luyện-nhã; 28. Không nên cho mà cho; 29. Sông A-chi-la; 30. Mười một việc không được gọi là gởi dục: Chuyển dục; gởi dục ban đêm; ở ngoài giới; Tỉ-kheo-ni; người chưa Thọ cụ túc; Nhận dục rồi ra đi; gởi dục rồi ra đi; Nhận dục rồi trả giới; gởi dục rồi trả giới; mất dục; phá hoại chúng; 31. Bốn cách Bố-tát; 32. Bốn cách tụng giới; 33. Bảy việc nên ngăn cản; 34. hai việc nên ngăn cản.

1. Đọc kệ:

Phật nói với các Tỉ-kheo:

(1. Đức Phật Tì Bà Thi Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, nói giới bản đầu tiên:

“Nhẫn, khổ hạnh bậc nhất,
Niết-bàn, đích tối thượng.
Tu hành còn hại người,
Không thể gọi Sa-môn”.

(2. Đức Phật Thi-Khí Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản:

“Ví như người sáng mắt,
Tránh được đường nguy hiểm.
Bậc thông minh trên đời,
Tránh được mọi điều ác”.

(3. Đức Phật Tì Bát Thi Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản:

“Không nói dối, hại người,
Vâng hành theo giới pháp.
Ăn uống có điều độ,
Thường thích nơi thanh vắng.
Tâm thanh tịnh chuyên cần,
Đó là lời Phật dạy”.

(4. Đức Phật Câu Lưu Tôn Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản:

“Tỉ-kheo vào thôn xóm,
Như ong đi tìm hoa.
Lấy mật rồi bay đi,
Không hại gì hương sắc.
Không nhìn việc người khác,
Xem có làm hay không.
Chỉ xét hành vi mình,
Có tốt hay không tốt”.

(5. Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản:

“Muốn tâm mình tốt chớ buông lung,
Thiện pháp Thánh nhân luôn gắng học.
Những người trí tuệ tâm chuyên chú,
Khổ não ưu sầu dứt tuyệt ngay”.

(6. Đức Phật Ca Diếp Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản:

“Không làm các việc ác,
Tuân hành các hạnh lành.
Giữ tâm ý trong sạch,
Chư Phật dạy như vậy”.

(7. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản:

“Lành thay gìn giữ thân,
Gìn giữ miệng cũng vậy.
Lành thay giữ tâm ý,
Giữ vẹn toàn tất cả.
Tỉ-kheo giữ tất cả,
Ắt xa lìa khổ não.
Tỉ-kheo giữ miệng ý
Thân không làm điều ác,
Ba nghiệp đều thanh tịnh,
Sẽ đạt được Thánh quả”.

Đó gọi là đọc kệ khi Bố-tát.

2. Ngày 14, ngày 15:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ đệ tử đồng hành của tôn giả A-nan đang hành Ma Na đỏa, tôn giả bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Đệ tử đồng hành của con muốn đến một căn lều nhỏ ở thôn xóm để hành Ma-na-đỏa vào ngày 14.

Phật nói với A-nan:

—Hôm nay nhằm ngày 14 tinh tú thuận hòa, thời tiết thuận hòa, Tăng chúng thuận hòa, nên Bố-tát xong rồi mới đi.

Ngày 14: Lần Bố-tát thứ ba và thứ bảy của mùa Đông, lần Bố-tát thứ ba và thứ bảy của mùa Xuân và lần Bố-tát thứ ba, thứ bảy của mùa Hạ.

Ngày 15: Gồm có mười tám lần Bố-tát. Trong một năm có hai mươi bốn kỳ Bố-tát, sáu kỳ vào ngày 14 và 18 kỳ vào ngày 15.

Đó gọi là Bố-tát ngày 14, ngày 15.

3. Chỉ chỗ Bố-tát:

Khi Phật an trú trong núi Kỳ Xà Quật nơi thành Vương Xá, lúc ấy các Tỉ-kheo không biết chỗ Bố-tát, nên có người thì được Bố-tát, có người thì không. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo:

—Nên làm yết-ma chỉ rõ chỗ Bố-tát trong núi Kỳ Xà Quật.

Người làm yết-ma nên bạch:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Nếu thời gian của Tăng đã đến, kể từ hôm nay Tăng dùng nơi này trong núi Kỳ Xà Quật làm chỗ Bố-tát thường xuyên. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tăng nay dùng nơi này trong núi Kỳ Xà Quật làm chỗ Bố-tát thường xuyên. Các đại đức nào bằng lòng Tăng dùng nơi này làm chỗ Bố-tát thường xuyên thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.

Tăng đã bằng lòng dùng nơi này làm chỗ Bố-tát thường xuyên, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Đó gọi là chỉ chỗ Bố-tát.

4. Bố-tát ban ngày:

Khi Phật an trú trong núi Kỳ Xà Quật nơi Thành Vương Xá, lúc ấy các Tỉ-kheo Bố-tát vào ban đêm. Vì đường sá hiểm trở, triền dốc khó đi, đến nơi Bố-tát cực khổ, các Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn, rồi hỏi:

—Bạch Thế Tôn, có thể Bố-tát ban ngày được không?

Phật dạy:

—Được. Nếu Bố-tát ban ngày mà Tăng ở xa thì nên tuyên bố: “Thưa các trưởng lão, kỳ này Tăng sẽ Bố-tát vào ngày 14, hoặc ngày 15, hoặc trước bữa ăn, hoặc sau bữa ăn, vào lúc bóng mặt trời chừng ấy, phải tập họp tại chỗ mỗ xứ, hoặc tại giảng đường, phòng Thiền, phòng sưởi, dưới gốc cây (để Bố-tát)”. Nếu không tuyên bố thì phạm tội Việt-tì-ni”. Đó gọi là Bố-tát ban ngày.

5. Nhà:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy vua A Xà Thế làm nhà Bố-tát trong núi Kỳ Xà Quật, rồi trang trí bằng các cánh sen dát vàng. Sau khi Tăng ngồi xong, đức Thế Tôn mới đến ngồi. Các Tỉ-kheo vào hết, chuẩn bị Bố-tát, thì bỗng dưng một cánh hoa sen dát vàng rơi xuống đất. Lúc ấy, một ác Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp, bèn lấy cánh sen kẹp dưới nách. Vì Phật và Tỉ-kheo Tăng ngồi lâu mà không Bố-tát nên tôn giả A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn, đầu đêm đã qua, Tăng ngồi lâu mỏi mệt, kính xin Thế Tôn vì các Tỉ-kheo mà thuyết giới Bố-tát.

Khi ấy Thế Tôn im lặng. Tình hình như thế kéo dài sang nửa đêm rồi đến cuối đêm, tôn giả lại bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn rạng đông đã xuất hiện, chúng Tăng ngồi lâu, kính xin Thế Tôn thuyết giới Bố-tát.

Phật liền nói với A-nan:

—Chúng Tăng không thanh tịnh.

Khi ấy tôn giả Đại Mục-liên suy nghĩ:

—Vì ai mà Thế Tôn nói rằng chúng Tăng không thanh tịnh?

Đoạn, Mục-liên nhập định, liền thấy được ác Tỉ-kheo đang ngồi xếp ro trong chúng. Tôn giả bèn từ chỗ ngồi đứng dậy đến chỗ vị ấy, dùng tay trái nắm cổ lôi đến cửa, rồi dùng tay phải đẩy ra, nói:—Này ác Tỉ-kheo, từ hôm nay ông không phải là Sa-môn, không phải là Tỉ-kheo, không được ở trong chúng nữa.

Sau khi Thầy đuổi đi, Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép lôi người đi.

Rồi Phật nói với A-nan:

—Từ nay về sau, các Thầy hãy tự tụng giới. Vì sao vậy? Vì Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri không tụng giới cho một chúng không thanh tịnh. Này A Nan, trong pháp luật của Như Lai cũng giống biển lớn có tám việc chưa từng có, như trong Tuyến Kinh đã nói rõ. Do thế, các đệ tử của ta thấy rồi, liền sinh tâm thích thú. Đó gọi là nhà.

6. Bọn cướp:

Khi Phật an trú tại núi Kỳ Xà Quật nơi Thành Vương Xá, lúc ấy các Tỉ-kheo Bố-tát tụng giới. Khi tụng đến phần cuối của Ba-dạ-đề, đọc: “Cắt bỏ rồi Ba-dạ-đề, phá bỏ rồi Ba-dạ-đề, lôi ra rồi Ba-dạ-đề”, thì bọn cướp đến. Người tụng giới liền im lặng. Bọn cướp đứng một lát rồi bỏ đi. Người tụng giới lại tiếp tục; như vậy đến ba lần. Bọn cướp suy nghĩ: “Đây là ác Sa-môn, nên nói như sau: Cắt bỏ, phá bỏ, lôi ra rồi Ba-dạ-đề. Họ đang định cắt chúng ta, phá chúng ta, lôi chúng ta đây”, bèn xông vào đánh các Tỉ-kheo.

Các Tỉ-kheo sinh tâm nghi hoặc, hay là bọn cướp vừa rồi đã nghe tụng giới? Thế rồi, họ đem sự kiến ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Bọn cướp là vua ở trong rừng, chúng có thể làm những việc bất lợi, vì sao các ông lại tụng lại những lời cũ? Từ nay về sau khi Tỉ-kheo Bố-tát tụng giới mà có bọn cướp đến thì Ta cho phép được đọc sang kinh khác, hoặc là kinh Ba-la-diên, hoặc kinh Bát bạt-kỳ, hoặc kệ Mâu-ni, hoặc kinh Pháp cú.

Nếu bọn cướp biết phép tắc của Tỉ-kheo, nói: “Này Sa-môn, chúng tôi đã biết rồi”, thì hãy tụng tiếp giới đã tụng trước. Khi ấy, Tỉ-kheo nên tụng gấp, khiến không thể phân biệt được chương cú, để cho bọn chúng không biết là đoạn đầu, đoạn giữa hay đoạn cuối. Nếu tụng lại những lời cũ thì phạm tội Việt-tì-ni.

Đó gọi là bọn cướp.

7. Vua:

Khi Phật an trú tại vườn Kỳ-xà Am-bà-la nơi Thành Vương Xá, như trong kinh Sa-môn đã nói rõ, cho đến tự nhủ:

—Không biết có thể tụng giới trước nhà vua hay không?

Rồi họ đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Vua có thể làm những việc bất lợi.

Như trong trường hợp bọn cướp ở trên đã nói rõ. Đó gọi là vua.

8. A Na Luật:

Khi Phật an trú trong núi Kỳ Xà Quật, nơi Thành Vương Xá, lúc ấy các Tỉ-kheo làm yết-ma Bố-tát thì tôn giả A Na Luật không đến. Các Tỉ-kheo bèn cho sứ giả đến gọi:

—Thưa trưởng lão A Na Luật, các Tỉ-kheo đang vân tập định làm yết-ma Bố-tát.

Thầy đáp:

—Đức Thế Tôn dạy rằng Thanh tịnh tức là Bố-tát. Kẻ thanh tịnh trong đời này chính là tôi đây. Tôi không đi.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Ông hãy đi gọi A Na Luật lại đây. Nhưng không được dùng Thiên nhãn mà đến.

Vì trưởng lão này đã hỏng nhục nhãn nên phải vượt qua núi non hiểm trở đến một cách cực khổ.

Phật liền nói với A Na Luật:

—Ông không tôn kính Bố-tát thì ai sẽ tôn kính? Từ nay về sau, khi Bố-tát thì tất cả đều phải đến. Nếu không đến, hoặc bị bệnh mà không gởi dục thì phạm tội Việt-tì-ni.

Đó gọi là A Na Luật.

9. Hai cách đếm:

Khi ấy Phật hỏi Ưu-ba-li:

—Ông tụng giới được không?

—Bạch Thế Tôn, tụng được, nhưng những câu chi li rất khó ghi nhớ.

—Nên làm thẻ đếm để mà tụng.

Thế rồi, Ưu-ba-li liền làm thẻ đếm mỗi khi tụng. Phật lại hỏi:

—Ông có làm thẻ để đếm mỗi khi tụng giới không?

—Bạch Thế Tôn, khi tụng những câu chi li con có đếm thẻ, nhưng cũng khó nhớ.

—Từ nay về sau hãy làm hai loại thẻ, một loại năm trăm và một loại bảy trăm. Khi muốn tụng, phải rửa tay sạch rồi cầm thẻ bỏ xuống đếm đến năm, lại rửa tay nữa. Nếu còn thẻ thì phải dùng nước thơm để rửa. Người khác muốn cầm thẻ cũng phải như vậy.

Đó gọi là hai cách đếm.

10. Không tụng thuộc:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy trong Thôn có các Tỉ-kheo đang sống, khi Tăng vân tập sắp làm yết-ma Bố-tát, liền thưa với Thượng Tọa:

—Xin Thượng Tọa tụng giới.

Thầy đáp:

—Tôi không thuộc.

Vị thứ hai, thứ ba cũng thế, cho đến Hạ tọa cũng nói như thế. Các Tỉ-kheo sinh tâm nghi hoặc, bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay về sau, thọ cụ túc rồi nên đọc hai bộ Luật. Nếu không thể đọc cả hai bộ thì nên đọc một bộ. Nếu cũng không thể đọc được thì nên đọc năm thiên giới. Nếu cũng không thể đọc được thì nên đọc bốn, ba, hai hay một thiên. Khi Bố-tát nên đọc rộng năm bộ Diên Kinh. Nếu có nhân duyên không thể đọc được, thì nên đọc bốn, ba, hai hay một, cho đến bốn Ba-la-di và các bài kệ, (rồi nói) các phần khác như Tăng đã thường nghe. Nếu Bố-tát mà không tụng giới thì phạm tội Việt-tì-ni. Giả như cả chúng đều không có ai tụng thuộc, thì nên bảo Thượng Tọa ra ngoài giới trường, tâm nghĩ, miệng nói:

—Kẻ dư thừa khi Bố-tát.

Rồi ba người còn lại trong giới trường nói ba lần Bố-tát. Làm như vậy là phạt Thượng tọa. Đó gọi là không tụng thuộc.

11. Không tụng thuộc tất cả:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo đang ở trong thôn xóm tập họp định Bố-tát, liền thưa với Thượng Tọa:

—Xin Thượng Tọa hãy tụng giới.

Thầy đáp:

—Tôi chỉ tụng thông thạo có một thiên.

Tăng lại thưa Thượng Tọa thứ hai, thì Thầy đáp:

—Tôi chỉ tụng thuộc có hai thiên.

Như vậy, mỗi người chỉ tụng thuộc có một thiên, họ bèn tuần tự tụng mỗi người một thiên để Bố-tát. Nhưng khi Bố-tát xong sinh nghi, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Từ nay về sau, ta không cho phép cùng lần lượt tụng để Bố-tát. Nếu gặp trường hợp như thế thì cùng ủy thác cho một người Thông minh tụng thuộc để tụng. Khi tụng đến chỗ nào mà quên, thì người khác được tụng tiếp. Nếu phối hợp nhau lần lượt tụng để Bố-tát thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là không tụng thuộc tất cả.

12. Tụng xuôi, tụng ngược:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, có các Tỉ-kheo đang sống trong Thôn xóm, vân tập Bố-tát. Có một Tỉ-kheo tụng thuộc giới bản xuôi và ngược. Thầy bắt đầu tụng từ bài tựa cho đến pháp tùy thuận, rồi tụng ngược từ pháp tùy thuận lên giới bản để Bố-tát. Nhưng khi Bố-tát xong tâm sinh nghi ngờ, các Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay về sau Ta không cho phép tụng ngược mà phải tụng xuôi. Nếu lúc tụng mà lỡ quên thì được tụng bổ khuyết. Người nào tụng xuôi rồi tụng ngược để Bố-tát thì phạm tội Việt-tì-ni.

Đó gọi là tụng xuôi, ngược.

13. Muốn nghe từ đầu:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo vân tập Bố-tát, tụng giới bản cho đến pháp tùy thuận thì có Tỉ-kheo khách tới, nói:

—Thưa trưởng lão, tôi sống trong xóm làng này mà chưa từng nghe tụng giới bản đầy đủ, xin trưởng lão tụng đầy đủ cho tôi nghe.

Người tụng bèn đọc lại từ bài tựa của giới cho đến pháp tùy thuận. Các Tỉ-kheo sinh tâm nghi ngờ, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật khiển trách:

—Vì sao các ông tụng lại giới bản cho người muốn nghe lại từ đầu? Từ nay về sau ta không cho phép làm như thế. Nếu Tỉ-kheo Tăng vân tập Bố-tát tụng giới đến pháp tùy thuận mà có Tỉ-kheo khách đến rồi vào ngồi nghe, tức được gọi là Bố-tát. Nếu Tỉ-kheo khách nói: “Tôi sống trong xóm làng này mà chưa từng nghe tụng giới bản đầy đủ, xin trưởng lão tụng đầy đủ cho tôi nghe”, thì hãy đợi Tăng giải tán rồi hãy tụng cho vị ấy. Nếu Tăng chưa giải tán mà tụng thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là muốn nghe từ đầu.

14. Chưa Thọ cụ túc:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo nói cho người chưa Thọ cụ túc về năm thiên tội từ tội Ba-la-di, đến tội Việt-tì-ni. Sau đó, vị Tỉ-kheo ấy vào Thôn xóm, người thế tục nói:

—Trưởng lão, Thầy phạm tội Ba-la-di cho đến tội Việt-tì-ni.

Các Tỉ-kheo nghe thế lấy làm xấu hổ, bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật khiển trách:

—Vì sao các ông lại nói giới bản năm Thiên tội cho người chưa thọ cụ túc nghe? Từ nay về sau ta không cho phép đem nói với người chưa thọ cụ túc. Chỉ được nói: “Ông không được làm điều phi phạm hạnh, không được trộm cắp, không được sát sinh, không được nói dối v.v…”, như vậy mà thôi. Nếu ai đem nói tên của năm Thiên tội thuộc giới bản cho người chưa thọ cụ túc nghe thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là chưa Thọ cụ túc.

15. Tụng giới quá sớm:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một Tỉ-kheo sống trong Thôn xóm, sáng sớm thức dậy liền Bố-tát. Khi làm xong, có Tỉ-kheo khách đến, nói:

—Trưởng lão hãy đến cùng tôi Bố-tát.

Thầy đáp:

—Tôi đã Bố-tát rồi.

Tỉ-kheo khách nói:

—Trưởng lão Bố-tát như thế là quá sớm.

Rồi thầy đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay về sau không nên Bố-tát quá sớm. Nếu một Tỉ-kheo sống trong thôn xóm thì đến ngày Bố-tát nên quét tháp và trú xứ của Tăng.

Nếu có người đến thì dùng nước hoa rưới trên đất, rải hoa, đốt đèn, đợi Tỉ-kheo khách đến rồi cùng nhau Bố-tát. Nếu không có Tỉ-kheo khách đến mà bản thân mình có tội thì nên suy nghĩ: “Nếu gặp được Tỉ-kheo Thanh tịnh thì sẽ đoạn trừ tội này đúng như pháp”.

Sau khi nghĩ thế xong, nên tâm niệm, miệng nói:

—Hôm nay ngày 15, Tăng Bố-tát, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp thanh tịnh Thọ Bố-tát.

Nói như vậy ba lần. Nếu khi Bố-tát xong mà có Tỉ-kheo khách đến, thì vị này nên nói lời tùy hỉ:—Trưởng lão đã Bố-tát, tôi là mỗ giáp xin tùy hỉ.

Nếu không thể tùy hỉ thì phải ra ngoài cương giới Bố-tát. Nếu ai Bố-tát lúc sáng sớm thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là Bố-tát quá sớm.

16. Một trú xứ:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo đang đi trên đường, vì trời u ám, tưởng trời đã tối nên vào trú xứ của Tỉ-kheo trong thôn Bố-tát. Khi Bố-tát xong thì trời quang tạnh, thấy mặt trời hãy còn sớm, các Tỉ-kheo thầm nghĩ: “Chúng ta nên ra đi”. Khi họ đi rồi, bỗng chốc chúng thứ hai lại đến. Thế rồi, họ Bố-tát tại đó, đồng thời nghỉ đêm luôn ở đây đến sáng hôm sau mới đi. Lúc đi trên đường bèn gặp nhóm Tỉ-kheo Bố-tát trước, liền hỏi:

—Thưa trưởng lão, đêm rồi trưởng lão nghỉ ở đâu?

—Nghỉ tại mỗ xứ.

—Vậy chứ Bố-tát nơi nào?

—Tại mỗ xứ.

—Chúng tôi cũng Bố-tát tại nơi đó.

Các Tỉ-kheo sinh tâm nghi hoặc, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay về sau tại một chỗ không được Bố-tát hai lần. Nếu Tỉ-kheo đi xa, đến ngày Bố-tát vào trú xứ của Tỉ-kheo trong Thôn để Bố-tát, thì lúc Bố-tát xong không được im lặng bỏ đi, mà phải dặn lại Sa-di, hoặc người làm vườn, hoặc kẻ chăn bò rằng: “Nếu có Tỉ-kheo đến thì nên nói cho họ biết rằng ở đây đã có Bố-tát rồi”.

Nếu không có ai cả thì nên viết nơi cột hay cánh cửa, hoặc rải hoa làm dấu. Nếu mình đến sau thì nên hỏi, nên tìm dấu vết, không được Bố-tát liền. Nếu đoàn người trước không dặn, không làm dấu, đoàn người sau không hỏi, không tìm dấu vết, thì cả hai đều phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là một trú xứ.

17. Hai chúng:

Nếu hai chúng Tỉ-kheo khách đến, một chúng Bố-tát vào ngày 14, một chúng Bố-tát vào ngày 15, vậy thì nên theo ai?

—Nên theo chúng đến trước.

Nếu hai chúng cùng vào một lúc thì nên theo chúng có Thượng tọa. Nếu không phân biệt lớn nhỏ được thì nên theo người giữ luật.

Nếu hai chúng cùng có người giữ luật như nhau thì nên theo chúng nào ngõ lời trước, hoặc là ngày 14, hoặc ngày 15, nên theo họ Bố-tát. Đó gọi là hai chúng.

18. Cả hai đều đã tụng, cả hai đều chưa tụng: Khách Tỉ-kheo Bố-tát ngày 14, còn cựu Tỉ-kheo Bố-tát ngày 15. Nếu khách Tỉ-kheo đến chỗ cựu Tỉ-kheo, cựu Tỉ-kheo nói với khách Tỉ-kheo: “Thưa trưởng lão, chúng ta cùng hợp tác Bố-tát”, thì lúc đó, khách Tỉ-kheo không được nói: “Chúng tôi đã Bố-tát xong”, (rồi ở yên trong trú xứ), mà nên đi ra ngoài cương giới để giữ tính chất hòa hợp.

Nếu cựu Tỉ-kheo Bố-tát ngày 14, khách Tỉ-kheo Bố-tát ngày 15 mà khách Tỉ-kheo nói: “Trưởng lão, hãy Bố-tát”, thì cựu Tỉ-kheo nên nói:

—Chúng tôi đã Bố-tát rồi.

Lúc ấy, khách Tỉ-kheo nên nói lời tùy hỉ:

—Trưởng lão đã Bố-tát rồi, chúng tôi xin tùy hỉ.

Nếu không tùy hỉ thì nên ra ngoài cương giới Bố-tát. Đó gọi là cả hai đều đã tụng hoặc cả hai đều chưa tụng.

19. Gởi dục:

Khi chúng tăng vân tập Bố-tát, thì có một Tỉ-kheo vì việc y bát không đến dự được, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Từ này về sau, Ta cho phép gởi dục. Người gởi dục nên nói thế này:

—Xin Trưởng lão hãy lắng nghe. Hôm nay (hoặc ngày 14, hoặc ngày 15. chúng Tăng Bố-tát, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp xin gởi dục Bố-tát Thanh tịnh. Xin trưởng lão hãy nói giúp tôi. (Nói như vậy ba lần).

Khi gởi dục, không được gởi cho người mù mờ, mà nên gởi cho người có thể nhận dục vào giữa chúng Tăng nói rành mạch. Nếu vì bận việc y bát mà lúc Bố-tát không gởi dục, thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là gởi dục.

20. Nhận dục:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo Tăng vân tập làm yết-ma Bố-tát, thì có một Tỉ-kheo đang bệnh và lo việc y bát, gởi dục cho Tỉ-kheo khác, nhưng vị này không nhận. Do đó, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay về sau phải nhận dục. Khi nhận dục phải tự suy nghĩ xem mình có thể truyền dục được không. Không được nhận dục nhiều người, chỉ nhận tối đa ba người. Khi gởi dục, nên nói như sau:—Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm nay chúng Tăng Bố-tát, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp xin gởi dục Bố-tát thanh tịnh.

Nếu quên tên thì nên nhớ số tuổi, rồi nói:

—Vị Tỉ-kheo chừng ấy tuổi.

Nếu đó là Tỉ-kheo khách thì nói là khách; bệnh thì nói là bệnh, rằng:

—Tỉ-kheo… gởi dục Bố-tát thanh tịnh.

Nếu ai đang bệnh và lo việc y bát gởi dục mà không nhận thì phạm tội Việt-tì-ni. Đó gọi là nhận dục.

21. Gởi dục nhiều:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo Tăng Bố-tát, những người gởi dục thì nhiều mà những người tập họp thì ít. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay về sau Ta không cho phép khi Bố-tát mà những người gởi dục thì nhiều, còn những người tập họp thì ít. Nếu Bố-tát trong trường hợp ấy thì phạm tội Việt-tì-ni.

Đó gọi là gởi dục nhiều.

22. Gởi dục bằng số người kia:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo Tăng Bố-tát, thì số người gởi dục bằng số người tập họp làm Bố-tát. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay về sau Ta không cho phép làm Bố-tát mà số người gởi dục bằng số người tập họp. Số người tập họp phải nhiều hơn, nếu bằng số người gởi dục mà Bố-tát thì phạm tội Việt-tì-ni.

Đó gọi là số người gởi dục bằng số người tập họp.

23. Cù-sư-la:

Khi Phật an trú tại vườn Cù-sư-la ở Câu-diệm-di, lúc ấy Tỉ-kheo Tăng vân tập Bố-tát, vị làm yết-ma xử đoán nói lớn tiếng, cư sĩ Cù-sư-la nghe thế bèn đi vào giới trường. Tăng liền im lặng. Chốc lát, ông ta bước ra, thì Tăng tiếp tục giải quyết sự việc lại nói lớn tiếng như trước. Đến ba lần như vậy, rồi cư sĩ thầm nghĩ: “Khi Ta vào thì im lặng, khi Ta ra thì lại lớn tiếng, giờ ta hãy vào mà không trở ra nữa”, như trường hợp Cù-sư-la hỏi tôn giả A Nan, mà trong Lục Nhập diên Kinh đã nói rõ.

Lúc ấy các Tỉ-kheo sinh tâm nghi hoặc, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Nếu đó là người có đức hạnh cao quí muốn nghe chúng Tăng giải quyết công việc thì nên để cho ông ta nghe. Đồng thời, nếu trong chúng có người tài giỏi, nói năng lưu loát, giải quyết sự việc phân minh thì cứ tự nhiên tiến hành. Trái lại, nếu giải quyết sự việc trước kẻ phàm phu tầm thường thì phạm tội Việt-tì-ni:.

Đó gọi là Cù-sư-la cư sĩ.

24. Đại Ái Đạo:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Đại Ái Đạo Cù Đàm Di gởi dục mà Tỉ-kheo không nhận. Thế rồi, Đại Ái Đạo Cù Đàm Di đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi đứng hầu một bên, đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn:

—Bạch Thế Tôn, Tỉ-kheo không nhận dục con gởi thì ai nhận?

Bấy giờ Thế Tôn tùy thuận thuyết pháp cho Đại Ái Đạo Cù Đàm Di khiến bà sinh tâm hoan hỉ, bèn cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật rồi cáo lui. Phật liền bảo gọi vị Tỉ-kheo kia đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi:

—Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Từ nay về sau, Tỉ-kheo-ni gởi dục thì nên nhận. Nếu mình là Thượng Tọa thì nên nói:

—Tôi là Thượng Tọa của chúng Tăng nên không nhận dục.

Hoặc là người dạy bảo Ni, hoặc là người tụng giới thì phải tự trình bày rõ, không nên nhận dục. Nếu là người coi phòng, người có bệnh thì nên nói:

—Tôi không đến trong Tăng, nên gởi dục người khác.

Trái lại nếu nói: “Tôi là Tỉ-kheo khất thực, tôi là người ở A-luyện-nhã, tôi là người mặc y phấn tảo, tôi là hàng đại đức, rồi không nhận dục”, thì phạm tội Việt-tì-ni.

Nhưng nếu nói: “Tôi là Thượng tọa, là người dạy bảo Ni, là người tụng giới”, rồi không nhận dục, thì không có tội. Đó gọi là Cù Đàm Di Đại Ái Đạo.

25. Xiển-đà:

Khi Phật an trú tại vườn Cù Sư La ở Câu Diệm Di, lúc ấy Tăng vân tập Bố-tát, thì Tỉ-kheo Xiển Đà không chịu đến. Các Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch với Thế Tôn, rồi hỏi:

—Bạch Thế Tôn, trường hợp ấy phạm vào tội gì?

Phật dạy:

—Phạm tội Thâu-lan. Nếu Bố-tát mà Tỉ-kheo không chịu đến như thế thì phạm Thâu-lan. Nếu vì việc y bát nên không đến mà không gởi dục, thì phạm tội Việt-tì-ni.

26. Bị bệnh:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc Tỉ-kheo vân tập định Bố-tát thì có một Tỉ-kheo bệnh phong lên cơn động kinh, bèn nói với người ở phòng bên cạnh:

—Thưa trưởng lão, tôi bị bệnh phong đang lên cơn, xin gởi dục thanh tịnh cho trưởng lão.

Nhưng Tỉ-kheo ấy không nhận, thầy bèn đi đến trước Thượng tọa, cởi dép, quỳ gối chắp tay, bạch như sau:

—Con là Mỗ giáp, Thanh tịnh, xin Thượng Tọa ghi nhớ cho.

Nói như vậy ba lần, rồi đi. Các Tỉ-kheo sinh tâm nghi ngờ, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn, rồi hỏi:

—Bạch Thế Tôn, như vậy có được không? Phật dạy:

—Gởi dục như thế là tốt, đã làm đúng pháp. Nhưng người không nhận dục thì phạm tội Việt-tì-ni.

Đó gọi là bị bệnh.

27. A-luyện-nhã:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, các Tỉ-kheo ở A-luyện-nhã và trong thôn xóm thường làm Bố-tát chung. Khi ấy, các Tỉ-kheo ở A-luyện-nhã vào trong Thôn Bố-tát xong, liền đi. Họ đi không bao lâu thì có Tỉ-kheo khách đến, lại cũng Bố-tát tại đó, rồi nghỉ đêm luôn ở đây. Sáng hôm sau, hai bên gặp nhau, liền hỏi:

—Đêm hôm qua trưởng lão nghỉ ở đâu?

—Nghỉ tại đây.

—Thế còn Bố-tát tại đâu?

—Cũng tại đây.

Họ nghe thế, lòng sinh nghi, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép tại một chỗ mà Bố-tát hai lần. Nếu ở A-luyện-nhã vào trong Thôn Bố-tát thì khi ra đi không được làm thinh mà phải dặn lại Sa-di, hoặc người làm vườn, hoặc kẻ chăn bò, rằng: “Nếu sau đó có Tỉ-kheo đến thì nói cho họ biết là ở đây đã làm Bố-tát rồi”. Nếu không có người, thì nên viết trên cột hoặc trên cánh cửa, hoặc rải hoa làm dấu. Người đến sau thì nên hỏi, tìm dấu vết. Nếu người ra đi không dặn dò, không làm dấu, còn người đến sau không hỏi, không tìm dấu vết thì cả hai đều phạm tội Việt-tì-ni.

Đó gọi là a-luyện-nhã.

28. Không nên gởi dục mà gởi:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo tập họp đúng lúc thì gởi dục yết-ma, tập họp phi thời thì gởi dục thanh tịnh. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Từ nay về sau Ta không cho phép khi tập họp đúng thời thì gởi dục yết-ma, khi tập họp phi thời thì gởi dục thanh tịnh; trái lại, khi tập họp phi thời nên gởi dục yết-ma, khi tập họp đúng thời nên gởi dục thanh tịnh. Đồng thời khi tập họp đúng thời cũng có thể gởi cả hai loại dục, nói như sau: “Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm nay Tăng Bố-tát – ngày 14, hoặc ngày 15—tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp xin gởi dục Bố-tát thanh tịnh, mong trưởng lão nói giúp cho tôi”. (nói như vậy ba lần). Khi gởi dục yết-ma cũng nói ba lần. Nếu lúc tập họp phi thời mà gởi dục thanh tịnh, lúc tập họp đúng thời mà gởi dục yết-ma thì phạm tội Việt-tì-ni.

Đó gọi là không nên gởi dục mà gởi.

29. Sông A-chi-la:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, các Tỉ-kheo đi đến gần sông A-chi-la trải tọa cụ ngồi tụng giới. Thế rồi, nước sông dâng lên dần dần đến đầu gối, rồi lên cao ngang miệng, khiến họ cực khổ tột độ. Sau đó, họ trở về chỗ Phật, đem sự việc trên trình bày đầy đủ với Thế Tôn, rồi hỏi:

—Bạch Thế Tôn, có thể đứng Bố-tát được không?

Phật dạy:

—Được. Được đi, đứng, ngồi, nằm Bố-tát.

Đi Bố-tát: Nếu Tỉ-kheo đi với khách buôn, đến ngày Bố-tát mà gặp đoạn đường nguy hiểm, khách buôn không dám chờ, thì được vừa đi vừa Bố-tát. Trước hết phải trù tính xem đi đến chỗ nào mới tụng xong giới bản, hoặc dãy núi, hoặc tảng đá, thì lấy đó làm tiêu xí, rồi đưa cánh tay ra chạm vào nhau làm yết-ma định cương giới Bố-tát. Khi làm yết-ma xong mới Bố-tát. Đó gọi là Bố-tát khi đi.

Đứng Bố-tát: Nếu Tỉ-kheo đông mà không có giường ghế để ngồi thì tất cả đứng đưa cánh tay ra chạm vào nhau mà Bố-tát. Đó gọi là đứng Bố-tát.

Ngồi Bố-tát: Có giường ghế dùng để ngồi Bố-tát. Đó gọi là ngồi Bố-tát.

Nằm Bố-tát: Nếu Tỉ-kheo già bệnh không thể ngồi lâu, mà giường kê sát bên nhau, thì có thể nằm Bố-tát. Đó gọi là nằm Bố-tát.

Tóm lại, đó gọi là sông A-chi-la.

30. Mười một trường hợp không được gọi là gởi dục:

a. Chuyển dục: Chẳng hạn nói: “Thưa trưởng lão, trước đây tôi có nhận dục của mỗ giáp giờ xin chuyển lại trưởng lão, gồm luôn cả dục của tôi”. Đó gọi là chuyển dục.

b. Gởi dục qua đêm: Chẳng hạn ngày mai mới Bố-tát mà hôm nay đã gởi dục. Đó gọi là gởi dục qua đêm.

c. Ở ngoài cương giới: Ra ngoài cương giới gởi dục. Đó gọi là ở ngoài cương giới.

d. Tỉ-kheo-ni: Gởi dục cho Tỉ-kheo-ni. Đó gọi là Tỉ-kheo-ni.

đ. Chưa Thọ cụ túc: Gởi dục cho người chưa Thọ cụ túc. Đó gọi là chưa Thọ cụ túc.

e. Nhận dục rồi ra đi: Nhận dục rồi ra khỏi cương giới. Đó gọi là nhận dục rồi ra đi.

g. Gởi dục rồi ra đi: Gởi dục rồi ra khỏi cương giới. Đó gọi là gởi dục rồi ra đi.

h. Nhận dục rồi trả giới: Nhận dục xong rồi trả lại giới Cụ túc đã Thọ (hoàn tục). Đó gọi là nhận dục rồi trả giới.

i. Gởi dục rồi trả giới: Gởi dục cho người khác rồi trả giới cụ túc mà mình đã Thọ. Đó gọi là gởi dục rồi trả giới.

k. Mất dục: Tỉ-kheo bị bệnh gởi dục xong rồi, nghe trong Tăng có pháp sư thuyết pháp, luật sư giảng luật, liền thân hành đến nghe. Nhưng ngồi lâu mỏi mệt, liền lặng lẽ rời chỗ ngồi ra về, vì nghĩ rằng trước đây mình đã gởi dục rồi. Trường hợp này không thể gọi là gởi dục, phải gởi dục lại. Đó gọi là mất dục.

l. Hủy hoại chúng: Đến ngày Bố-tát, Tỉ-kheo Tăng vân tập, các Tỉ-kheo không đến liền gởi dục thanh tịnh. Thế rồi, gặp mưa gió dữ dội, hoặc bị lửa cháy, giặc cướp, do vậy, các Tỉ-kheo kinh hoàng bỏ đi hết. Trường hợp này không thể gọi là mang dục đến trong Tăng. Nhưng nếu còn một người ngồi lại, thì được gọi là mang dục đến trong Tăng.

Tóm lại, đó là mười một trường hợp không được gọi là gởi dục.

31. Bốn cách Bố-tát:

a. Một người thọ;

b. Hai người nói;

c. Ba người nói;

d. Bốn người tụng đầy đủ.

a. Một người thọ: Khi một Tỉ-kheo sống trong thôn xóm, đến ngày Bố-tát cần phải quét Tháp và Thiền viện của Tăng. Nếu có người khác đến, thì nên dùng nước thơm rưới trên đất, đốt đèn, rải hoa, rồi chờ Tỉ-kheo khách. Nếu không ai đến mà mình có tội thì nên thầm nghĩ: “Khi nào gặp Tỉ-kheo Thanh tịnh Ta sẽ đoạn trừ tội này đúng như pháp”. Thầm nghĩ thế rồi, quỳ gối, chắp tay, tâm niệm miệng nói: “Hôm nay Tăng Bố-tát (hoặc ngày thứ 14, hoặc ngày thứ 15), tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp Thanh tịnh Thọ Bố-tát”. (nói như thế ba lần). Đó gọi là một người thọ.

b. Hai người nói: Khi hai Tỉ-kheo ở trong Thôn xóm, đến ngày Bố-tát phải quét Tháp và Thiền viện của Tăng. Nếu có người đến thì nên dùng nước thơm rưới trên đất, rải hoa, đốt đèn. Nếu có tội thì phải sám hối lẫn nhau đúng pháp, rồi quỳ gối chắp tay, nói như sau: “Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm nay Tăng Bố-tát (hoặc ngày thứ 14, hoặc ngày thứ 15), tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp Thanh tịnh”. Đó gọi là hai người nói.

c. Ba người nói: Cũng như trường hợp hai người ở trên.

d. Bốn người tụng đầy đủ: Khi Bố-tát bốn người thì nên tụng đầy đủ giới bản. Đó gọi là tụng đầy đủ.

32. Bốn cách tụng giới:

a. Tụng từ bài tựa của giới cho đến hết bốn pháp Ba-la-di, (rồi nói: ) “Những vấn đề khác Tăng đã thường nghe”, đoạn, tụng kệ kết thúc.

b. Tụng từ đầu đến hết mười ba pháp Tăng tàn, hai pháp Bất định, (rồi nói: ) “Còn những giới khác như Tăng đã thường nghe”, đoạn, tụng kệ kết thúc.

c. Tụng từ đầu đến hết ba mươi pháp Ni-tát-kì, (rồi nói: ) “Còn những giới khác như Tăng đã thường nghe”, đoạn, tụng kệ kết thúc.

d. Tụng từ đầu đến chín mươi hai pháp Ba-dạ-đề, rồi tiếp tụng đầy đủ cho đến hết.

Đó gọi là bốn cách tụng.

33. Khi Bố-tát có bảy trường hợp nên ngăn cản:

a. Người không ở chung;

b. Người hành Biệt trụ;

c. Người chưa Thọ cụ túc;

d. Chưa Thuyết dục;

đ. Chưa điểm danh;

e. Vì vấn đề hòa hợp;

g. Sự hòa hợp chưa hoàn toàn.

Đó gọi là bảy trường hợp nên ngăn cản khi Bố-tát.

34. Khi Bố-tát có hai trường hợp nên ngăn cản:

a. Nếu thực hiện Bố-tát thì Tăng sẽ đấu tranh nhau;

b. Tăng bị phá.

Đó gọi là hai trường hợp nên ngăn cản.

Tóm lại, trên đây là vấn đề Bố-tát, gởi dục và nhận dục.

PHÉP AN CƯ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ các Tỉ-kheo du hành vào mùa mưa, dẫm đạp làm hại nhiều sinh vật, bị người đời chê trách rằng:

—Chín mươi sáu loại người xuất gia còn biết an cư, như chim ẩn mình nơi tổ, còn Sa-môn Thích tử tự cho mình là tốt đẹp mà không an cư.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Như thế thật đáng bị người đời chê trách. Từ nay về sau, vào mùa mưa nên an cư. Phép an cư, cứ đến ngày 16 tháng tư, Tỉ-kheo nên trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay, nói với Tỉ-kheo khác như sau:—Xin trưởng lão ghi nhớ cho, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp, sẽ an cư ba tháng đầu mùa mưa tại Tăng già-lam này. (nói như vậy ba lần). Nếu Tỉ-kheo đang đi đường chưa đến trú xứ mà tới ngày an cư, thì nên thọ an cư ở bên lề đường, hoặc nơi gốc cây, hoặc trên xe, rồi rạng Đông hôm sau sẽ đến trú xứ.

Khi đến sau ngày an cư, nên trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay, nói như sau:

—Xin trưởng lão ghi nhớ cho, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp, an cư ba tháng sau mùa mưa tại Tăng già-lam này. (nói như vậy ba lần).

Nếu Tỉ-kheo đi đường, đến ngày an cư mà không Thọ tiền an cư thì phạm một tội Việt-tì-ni. Khi đến trú xứ tới ngày hậu an cư mà không thọ an cư thì phạm hai tội Việt-tì-ni. Thế là người đó đã phá an cư, không được nhận y cúng dường.

Lại nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, bấy giờ có Tỉ-kheo nương tựa Thôn xóm để an cư mùa mưa, rồi người đàn việt trông coi công việc của Tăng cần xả nước vào ruộng, bèn nhờ Tỉ-kheo đến xin vua tháo nước.

Lúc ấy, Tỉ-kheo mang theo y bát bên mình, đến cửa vua mấy lần mà không được yết kiến. Hơn nữa, đường sá lại xa xôi, nên thầy càng sợ trễ thời gian an cư. Đức Thế Tôn thấy thế, tuy biết, nhưng vẫn hỏi:

—Ông là khách Tỉ-kheo phải không?

—Thưa không phải, bạch Thế Tôn.

—Ông là Tỉ-kheo ra đi phải không?

—Thưa không phải, bạch Thế Tôn.

—Thế thì vì sao mang theo y bát?

Tỉ-kheo bèn đem sự kiện kể trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Từ nay về sau, khi an cư mùa mưa, nếu có người bận công việc của Tháp, của Tăng thì nên làm yết-ma cầu thính. Người làm yết-ma nên bạch:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp an cư mùa mưa tại đây. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp an cư mùa mưa tại đây—Vì công việc của Tháp của Tăng—được đi ra ngoài cương giới lo công việc rồi trở về lại trú xứ này.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp vì công việc của Tháp, của Tăng đi ra ngoài cương giới lo công việc rồi trở về lại trú xứ này an cư.

Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Nếu có trường hợp như trên vì tháp, vì Tăng, đi tìm kiếm các thứ như y, bát, bát nhỏ, tô, dây thắc lưng và tất cả các vật khác, thì ít nhất cũng phải tìm được một vật. Nếu không được gì cả, thì phạm tội Việt-tì-ni. Khi công việc xong nên trở về, hoặc nửa tháng, một tháng, hai tháng, cho đến sau khi Tự tứ phải trở về. Nếu không trở về thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu trên đường có bọn cướp nguy hiểm vì sợ mất mạng, phải Tự tứ ở đó, thì không có tội.

Đó gọi là phép An cư.

PHÉP TỰ TỨ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ các Tỉ-kheo du hành đến nước Câu-tát-la, thấy một khu rừng ở gần sông Cừ-ma-đế. Trong rừng có một cây tát-la to lớn, rổng ruột, tàng cây rậm rạp sum sê, dưới cây bằng phẳng rộng rãi, cách Thôn xóm không xa, không gần. Thấy thế, các Tỉ-kheo thầm nghĩ: “Ở đây An cư rất tốt”. Kẻ trước, người sau, ai nấy trông thấy cũng đều nghĩ thế. Đến ngày An cư, một Tỉ-kheo đến đó trước, dọn dẹp xung quanh cây khoảng khoát, đặt y bát, rồi trải cỏ mà ngồi. Trong chốc lát lại có Tỉ-kheo khác đến, hỏi:

—Trưởng lão muốn An cư ở đây sao?

Thầy đáp:

—Vâng, ở đây rất tốt.

Cứ tiếp tục như vậy đến sáu mươi người. Thế rồi, người đến trước hỏi các Tỉ-kheo đến sau:

—Các trưởng lão đều muốn An cư ở đây cả sao?

Họ đáp:

—Vâng, ở đây rất tốt. Trong cây này có thể cất được y bát, còn xung quanh bên trái bên phải thì đủ chỗ để an cư.

Khi Thọ An cư xong, họ bàn nhau:

—Thưa các trưởng lão, chúng ta nên quy định điều gì để được sống an lạc?

Mọi người đáp:

—Đời sống phải lo âu khổ não đều do thân và miệng. Chúng ta đã được nơi yên tịnh thế này hãy cùng nhau im lặng, vậy hãy cam kết không được nói chuyện.

Sau khi cam kết không nói chuyện, họ tuân thủ suốt ba tháng, rồi an cư xong họ trở về Thành Xá-vệ, đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi:

—Này các Tỉ-kheo, các ông An cư ở đâu?

—Bạch Thế Tôn, tại mỗ xứ.

—Có ít bệnh, ít khổ não, khất thực không khó khăn, hành đạo đúng pháp, sống an lạc không?

—Bạch Thế Tôn, ít bệnh, ít khổ não, khất thực dễ dàng, sống an lạc, im lặng trong ba tháng, rồi từ biệt nhau ra đi.

—Đó là việc xấu. Như thế chẳng khác gì oan gia sống với nhau, lẽ ra nên nói chuyện với nhau mới phải.

Lại nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, A Na Luật, Kim-tì-lư, Bạt-đề cùng nhau An cư tại núi Tháp. Khi An cư xong, họ trở về thành Xá-vệ, đi đến chỗ Phật cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng hầu một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi:

—Các ông An cư ở đâu?

—Bạch Thế Tôn, tại mỗ xứ.

—Này các Tỉ-kheo, có ít bệnh, ít khổ não, khất thực không khó khăn, hành đạo đúng pháp, sống an lạc không?

—Bạch Thế Tôn, ít bệnh, ít khổ não, khất thực dễ dàng, sống im lặng an lạc ba tháng không nói chuyện, rồi từ biệt nhau.

—Đó là việc xấu, giống như oan gia sống với nhau. Từ nay về sau Ta không cho phép không nói chuyện với nhau. Nếu muốn thuận lợi, ít việc thì có thể không nói trong nửa tháng; nhưng đến ngày Bố-tát thì phải nói năng, chào hỏi, vấn an chúc tụng nhau. Qua ngày Bố-tát thì lại tiếp tục như trước. Nếu vì kiêu căng, giận dữ mà không nói chuyện với nhau thì phạm tội Việt-tì-ni.

Thế rồi, Phật nói với các Tỉ-kheo:

—Kể từ hôm nay vì các đệ tử ta chế định phép Tự tứ gồm các vấn đề: 1. Ba tháng; 2. Nói ba việc; 3. Kết thúc an cư; 4. An cư ở đâu Tự tứ ở đó; 5. Từ Thượng tọa; 6. Hòa hợp.

1. Ba tháng: Từ ngày 16 tháng Tư đến ngày 15 tháng bảy.

2. Nói ba việc: Thấy, nghe và nghi.

3. Kết thúc an cư: Tiền an cư từ ngày 16 tháng Tư đến ngày 15 tháng bảy. Hậu an cư từ ngày 16 tháng năm đến ngày 15 tháng tám. Nếu trong chúng an cư có một người tiền an cư thì đến ngày 15 tháng bảy tất cả chúng đều đồng loạt Thọ tự tứ với người này. Nhưng khi Tự tứ xong phải ở lại cho đến ngày 15 tháng tám. Nếu tất cả đều hậu an cư thì tất cả đều phải Tự tứ vào ngày 15 tháng tám. Đó gọi là kết thúc an cư.

4. An cư ở đâu Tự tứ ở đó: Nếu Tỉ-kheo An cư trong Thôn xóm rồi nghe trong thành đến ngày Tự tứ có cúng dường các phẩm vật và Thuyết pháp suốt đêm, mà cả chúng đều muốn đến dự thì nên Tự tứ ngày 14 xong rồi mới đi. Nếu An cư nơi này mà Tự tứ nơi khác thì phạm tội Việt-tì-ni.

5. Từ Thượng Tọa: Không được theo thứ tự ngược từ nhỏ trở lên mà phải theo thứ tự từ Thượng Tọa trở xuống; không được đặt người từng hàng theo lối sớt thêm Thức ăn; không được việt vị; không được xướng tổng quát rằng:

—Tất cả đại đức Tăng nếu thấy nghe nghi tội thì tự do nói. Đó gọi là từ Thượng tọa.

Tăng nên cử một người thành tựu năm pháp làm người nhận Tự tứ. Hoặc một, hoặc hai người, không thể nhiều hơn. Rồi người làm yết-ma nên bạch:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp, mỗ giáp thành tựu năm pháp. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cử Tỉ-kheo mỗ giáp, mỗ giáp làm người nhận Tự tứ.

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp mỗ giáp làm người nhận Tự tứ, vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Người nhận yết-ma rồi nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Thời gian Tự tứ đã đến. Nếu thời gian của Tăng thích hợp thì tất cả Tăng đều Thọ Tự tứ. Đây là lời tác bạch.

Thế rồi, người Tự tứ trước nhất bắt đầu từ Thượng tọa. Thượng Tọa phải trật vai áo bên phải quỳ gối, chắp tay nói (với người nhận Tự tứ) như sau:

—Xin trưởng lão ghi nhớ cho. Hôm nay ngày 15 Tăng Tự tứ. Tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp, nếu có tội do thấy, nghe hay nghi xin trưởng lão và Tăng xót thương nói cho Tôi biết. Nếu thấy biết mình có tội, tôi sẽ đoạn trừ đúng pháp”. (nói như thế ba lần).

Kế tiếp đến người thứ hai. Người thứ hai này nếu là Hạ tọa thì phải cúi đầu sát dưới chân, nói (như trên, chỉ có tiếng Đại đức là khác). Nếu hai người cùng làm người nhận Tự tứ, thì một người nhận Thượng Tọa Tự tứ, còn một người nên rời khỏi chỗ ngồi xuống đứng phía trước. Khi Thượng Tọa nói Tự tứ xong thì tiếp đến Hạ tọa nói. Cứ như thế lần lượt theo thứ tự đến người cuối cùng. Bản thân người nhận Tự tứ phải Tự tứ trước, chứ không được nhận Tăng Tự tứ rồi mình mới Tự tứ sau.

6. Hòa hợp: Không được Thọ Tự tứ trong lúc Tăng không hòa hợp. Không được gởi dục thọ Tự tứ. Nếu có người bệnh thì phải đem họ đến. Nếu đem đến e nguy đến tính mạng thì Tăng nên tề tựu bên giường (để Tự tứ). Nếu bệnh nhân nhiều thì nên khiêng cả giường đến, rồi đặt cạnh giường liên tiếp nhau. Nếu khiêân giường đến e lâm nguy đến tính mạng, thì các Tỉ-kheo không bệnh nên ngồi nối tiếp nhau (từ chỗ người bệnh đến chỗ Tự tứ). Nếu ngồi không tiếp giáp, thì những Tỉ-kheo không bệnh nên ra ngoài cương giới Tự tứ; còn Tỉ-kheo bệnh thì Tự tứ trong cương giới. Trong trường hợp đại chúng đông, hoặc một vạn, hai vạn, thì nên vân tập tất cả một chỗ, hoặc là giảng đường, trai đường, nhà tắm để Thọ Tự tứ. Còn những người khác thì vừa xỉa răng, vừa đi đại Tiểu tiện, vừa ăn, cứ như thế suốt ngày thông qua đêm, đều phải ở nơi đó mà Tự tứ cho đến trước rạng đông hôm sau, không được rời khỏi chỗ, không được đi xa. Nếu đại chúng đông đến sáu vạn, tám vạn người, sợ làm không rốt ráo, thì nên đem bớt một số ra ngoài cương giới Tự tứ. Hoặc một người Thọ Tự tứ, hoặc hai người nói, hoặc ba người, bốn người nói Tự tứ. Còn trường hợp năm người thì phải Tự tứ đầy đủ.

Một người Thọ: Khi một Tỉ-kheo An cư trong Thôn xóm, đến ngày Tự tứ phải quét Tháp và Tăng viện. Nếu có người đến thì nên dùng nước thơm rưới trên đất, rải hoa, đốt đèn. Nếu bản thân có tội thì nên thầm nhủ: “Nếu gặp được Tỉ-kheo thanh tịnh đến thì ta sẽ đoạn trừ tội này đúng như pháp”. Thầm nhủ như thế rồi, phải quỳ gối, chắp tay, tâm niệm, miệng nói: “Nay Tăng Tự tứ ngày 15, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp Thanh tịnh Thọ Tự tứ”. (nói như vậy ba lần).

Hai người nói: Khi có tội thì sám hối với nhau đúng pháp, rồi trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay, nói: “Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm nay Tăng Tự tứ ngày 15, nếu tôi có tội do thấy, nghe hoặc nghi, xin trưởng lão xót thương nói cho tôi biết. Nếu tôi tự thấy hay biết mình có tội, tôi sẽ đoạn trừ đúng pháp”. (nói như thế ba lần).

Trường hợp ba người, bốn người cũng nói như trên. Nhưng trường hợp năm người thì nên Tự tứ đầy đủ.

Tóm lại, trên đây là phép Tự tứ.

Hết quyển thứ hai mươi bảy.

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 6.

VẤN ĐỀ Y CA-HI-NA.

Khi Phật an trú tại Câu Thiểm Di, vườn Cù Sư La, được Chư Thiên và người đời cúng dường. Bấy giờ, phu nhân của vua Câu Thiểm Di đem 500 tấm lụa dâng cúng cho Thế Tôn. Phật bèn bảo A-nan:

—Ông đem các tấm lụa này cho các Tỉ kheo.

Nhưng các Tỉ kheo không lấy, nói với A Nan:

—Đức Thế Tôn không cho phép cất vải thừa, dùng lụa này để làm gì? Hơn nữa, nó cũng chưa được giặt nhuộm, lại càng không hợp pháp.

A-nan bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền nói với A-nan:

—Từ nay trở về sau, Ta cho phép cất vải thừa trong 10 ngày.

Thế rồi, các Tỉ kheo cất các vải ấy đủ 10 ngày, bèn cầm đến bạch với Phật:

—Các vải này đã cất đủ 10 ngày, bạch Thế Tôn!

Phật liền dạy:

—Từ nay trở về sau, Ta cho phép thọ y Ca-hi-na. Y Ca-hi-na có các trường hợp: thời gian; chúng Tăng nhiều người, một người; năm việc lợi ích; mới; chưa thọ; bất đình, tiệt tịnh; nhiễm tịnh; điểm tịnh; đao tịnh.

1. Thời gian: Thời gian thọ y Ca-hi-na từ 16 tháng 7 đến 15 tháng 8. Đó gọi là thời gian.

2. Chúng Tăng: Chúng Tăng làm y Ca-hi-na thì không được cho nhiều người, không được cho một người; nhiều người làm y Ca-hi-na thì không được cho một người.

3. Năm việc lợi ích: Khỏi phạm năm tội sau đây: được ăn riêng chúng; được ăn nhiều chỗ; trước bữa ăn, sau bữa ăn đi đâu không cần bạch với chúng; được cất vải lâu ngày; được rời y mà ngủ. Đó gọi là năm việc lợi ích.

4. Mới: vải mới.

5. Chưa thọ: Chưa từng dùng làm ba y.

6. Bất đình: Y tịnh thí khi xả rồi được dùng làm y Ca-hi-na. Đồng thời các loại y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, y che ghẻ, y tắm mưa và những tấm vải được may thêu mà chưa sử dụng đều được dùng làm y Ca-hi-na.

7. Tiệt tịnh: Cắt các tua để tác tịnh.

8. Nhiễm tịnh: Nhuộm để tác tịnh.

9. Điểm tịnh: Chấm ở góc để tác tịnh.

10. Đao tịnh: Dùng dao cắt ba nhát, đứt ba sợi, cách đầu góc tấm vải chừng bốn ngón tay, đó gọi là đao tịnh.

Nếu đàn việt cúng dường cho Tăng vải may y Ca-hi-na, thì không được im lặng thọ nhận, mà người thọ nhận nên nói như sau:

—Nay tôi nhận vải để may y Ca-hi-na này cho Tăng.

Khi nhận xong, đem vào giữa Tăng, tay cầm tấm vải căng ra, dơ cao lên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Nay Tăng được tấm vải này, nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nhận lấy tấm vải may y Ca-hi-na này. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe! Nay Tăng được tấm vải này, Tăng nay nhận tấm vải may y Ca-hi-na này. Các đại đức nào bằng lòng nhận lấy tấm vải may y Ca-hi-na này thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói: Tăng đã bằng lòng nhận lấy tấm vải may y Ca-hi-na này xong, vì im lặng, tôi ghi nhận việc này như vậy.

Khi nhận xong, xem trong Tăng ai có thể may y Ca-hi-na được thì làm yết ma giao cho một, hai hoặc ba người. Người làm yết ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Nay Tăng được tấm vải này. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cử Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp và những người khác may y Ca-hi-na cho Tăng. Đây là lời tác bạch.

—Xin đại đức tăng lắng nghe. Nay Tăng được tấm vải này, Tăng nay cử Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp và những người khác may y Ca-hi-na cho Tăng. Các đại đức nào bằng lòng Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp và những người khác may y Ca-hi-na cho Tăng thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.

Tăng đã bằng lòng cử Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp may y Ca-hi-na cho Tăng xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Một người làm chủ trong số những người làm yết ma, khi nhận tấm vải này, nên nói như sau:

—Nhận tấm vải may y Ca-hi-na này, Tăng nên nhận.

(Nói như vậy ba lần)

Khi giặt nên nói như sau:

—Giặt y Ca-hi-na này, Tăng nên nhận.

Khi cắt, khi may, khi nhuộm, khi điểm tịnh tùy theo việc làm gì đều nói như trên.

Người dùng dao điểm tịnh, khi hạ dao cắt cách đầu góc tấm vải bốn ngón tay, nên nói như sau:

—Y Ca-hi-na này Tăng nên thọ.

(Nói ba lần như thế)

Khi làm các việc khác cũng phải nói như thế. Nếu tác tịnh mà không nói thì cũng được gọi là y Ca-hi-na, nhưng phạm tội Việt-tì-ni. Nếu làm các việc đều nói mà không tác tịnh, thì không được gọi là y Ca-hi-na, phạm tội Việt-tì-ni. Nếu mỗi việc làm đều khởi tâm tác tịnh, thì được gọi là y Ca-hi-na, không có tội.

Nếu Tăng được y đúng thời, làm xong, thì tất cả nên hòa hợp. Người làm yết ma nên cầm y xổ ra, đưa cao lên, nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Nay Tăng được y này đã làm xong. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay thọ y Ca-hi-na này. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức tăng lắng nghe. Nay Tăng được y này đã làm xong. Tăng nay thọ y Ca-hi-na này. Các đại đức nào bằng lòng thọ y Ca-hi-na này thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.

Tăng đã bằng lòng thọ y Ca-hi-na xong, vì im lặng; tôi ghi nhận việc này như vậy.

Khi thọ y xong, nên xếp lại bỏ vào rương, rải hoa lên trên, rồi từ Thượng Tọa trở xuống theo thứ tự, nói lời tùy hỷ như sau:

—Xin trưởng lão ghi nhớ cho, Tăng ở trú xứ này thọ y Ca-hi-na, tôi Tỉ kheo mỗ giáp xin tùy hỷ thọ cho đến hết bốn tháng mùa Đông. Khi ở trú xứ này hết thời hạn, tôi sẽ xả.

(Nói như vậy ba lần)

Nếu đại chúng đông đến một vạn, hai vạn người, tập họp khó khăn, thì nhiều người được thọ y Ca-hi-na riêng, nhưng tất cả phải làm như đại chúng, chỉ có gọi tiếng nhiều người là khác thôi. Tuy nhiên, từ bốn người trở lên thì không được làm riêng. Nếu chỉ có một người làm thì khi thọ nên nói:

—Nay tôi xin nhận tấm vải làm y Ca-hi-na này.

(Nói như vậy ba lần)

Khi cắt nên nói như sau:

—Y Ca-hi-na này nay tôi xin thọ.

Khi may, khi giặt, khi nhuộm, khi điểm tịnh, khi cắt làm dấu tác tịnh đều nói như trên.

Khi làm hoàn thành, tâm nghĩ miệng nói:

—Tôi là Tỉ kheo mỗ giáp, thọ y Ca-hi-na này.

(Nói như vậy ba lần)

Vấn đề thọ y Ca-hi-na có các trường hợp: Có trường hợp khi làm mà không phải khi thọ; Có trường hợp khi thọ mà không phải khi làm; Có trường hợp khi làm cũng là khi thọ; Có trường hợp không phải khi làm, cũng không phải khi thọ.

1. Khi làm mà không phải khi thọ: Trong đây có khi cầm để làm mà không phải cầm để thọ trì, cũng được gọi là thọ.

2. Khi thọ mà không phải khi làm: Khi cầm để thọ trì mà không phải cầm để làm, cũng được gọi là thọ.

3. Khi làm cũng là khi thọ: Khi cầm để làm cũng là khi cầm để thọ. Đó gọi là khi làm cũng là khi thọ.

4. Không phải khi làm, cũng không phải khi thọ: Không phải thọ ngay khi cầm để làm, cũng không phải thọ khi thọ.

Khi thọ nên tùy hỷ, nói:

—Xin trưởng lão ghi nhớ cho, trú xứ này Tăng thọ y Ca-hi-na, tôi là Tỉ kheo mỗ giáp xin tùy hỷ thọ đến hết bốn tháng mùa đông, tùy theo trú xứ này mãn hạn, tôi sẽ xả.

Đó là những vấn đề thuộc y Ca-hi-na.

CHẲNG PHẢI Y CA-HI-NA.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ tôn giả Tôn Đà La Nan-đà dùng vải thưa làm y Ca-hi-na. Phật dạy:

—Ta không cho phép dùng vải thưa làm y Ca-hi-na.

Khi ấy tôn giả A Nan-đà dùng nhung kiếp bối làm y Ca-hi-na. Lại có Tỉ kheo dùng một miếng vải nhỏ để làm. Lại có Tỉ kheo dùng vải cũ để làm. Lại có Tỉ kheo dùng mền bằng lông dê để làm Lại có Tỉ kheo dùng mền bằng tóc để làm. Lại có Tỉ kheo dùng áo bằng cỏ để làm. Lại có Tỉ kheo dùng áo bằng da để làm. Lại có Tỉ kheo dùng áo bằng vỏ cây để làm. Lại có Tỉ kheo dùng áo bằng miếng gỗ để làm. Phật dạy:

—Tất cả những thứ vừa kể trên đều không nên làm. Tất cả những thứ ấy đều chẳng phải là y, không thể gọi là y Ca-hi-na.

Lại có các trường hợp không thể gọi là y Ca-hi-na như sau:

—Làm lúc phi thời.

—Không cắt bỏ các tua cho sạch.

—Không nhuộm cho sạch.

—Không điểm tịnh.

—Không dùng dao tác tịnh.

Những trường hợp như vậy đều không được gọi là y Ca-hi-na.

THỂ THỨC XẢ Y CA-HI-NA.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có Tỉ kheo thường thường thay y, trước bữa ăn, mặc một y khác, sau bữa ăn, mặc một y khác. Phật biết nhưng vẫn hỏi:

—Những y mà ông thường thường thay đổi là y của ai vậy?

—Bạch Thế Tôn! Đó là y của con.

—Vì sao nhiều quá vậy?

—Vì con thọ y Ca-hi-na.

—Vì sao lúc nào ông cũng thọ y Ca-hi-na? Từ nay về sau phải xả bỏ. Có 10 trường hợp xả y như sau:

1. Y cánh xả.

2. Thọ thời xả.

3. Thời cánh xả.

4. Văn xả.

5. Tống xả.

6. Hoại xả.

7. Thất xả.

8. Xuất khứ xả.

9. Thời quá xả.

10. Cứu cánh xả.

1. Y cánh xả: Khi thọ y Ca-hi-na, nghĩ như sau: “Khi ta may y xong sẽ xả y Ca-hi-na”, thì khi may y hoàn thành, tức là xả. Đó gọi là y cánh xả.

2. Thọ thời xả: Khi thọ y, suy nghĩ: “Khi ta thọ y này sẽ xả y Ca-hi-na”, thì khi thọ y tức là xả. Đó gọi là thọ thời xả.

3. Thời cánh xả: Nếu suy nghĩ: “Đến thời gian ấy ta sẽ xả y Ca-hi-na”, thì khi tới thời gian ấy tức là xả. Đó gọi là thời cánh xả.

4. Văn xả: Nếu suy nghĩ: “Khi nào ta nghe Hòa Thượng, A xà lê xả y Ca-hi-na thì ta sẽ xả”. Sau đó nghe Hòa Thượng, A xà lê nói: “Hôm nay Tăng xả y Ca-hi-na”, thì khi ấy tức là xả. Đó gọi là văn xả.

5. Tống xả: Nếu suy nghĩ: “Khi nào ta đem cái y này cho người khác xong thì sẽ xả y Ca-hi-na”, sau đó đem cho cái y của mình, tức là xả. Đó gọi là tống xả.

6. Hoại xả: Trong thời gian sau khi thọ y Ca-hi-na rồi, bỗng nhiên một hôm nói: “Nay ta xả y Ca-hi-na”, thì khi nói lời ấy tức là xả. Đó gọi là hoại xả.

7. Thất xả: Nếu suy nghĩ: “Khi nào cái y này hư, hoặc mất không còn nữa thì ta sẽ xả y Ca-hi-na”, sau đó chiếc y ấy bị hư hoặc mất, tức là xả. Đó gọi là thất xả.

8. Xuất khứ xả: Nếu suy nghĩ: “Khi nào ta rời khỏi đây thì sẽ xả y Ca-hi-na”, thì khi ra đi tức là xả. Đó gọi là xuất khứ xả.

9. Thời quá xả: Nếu tới ngày 15 tháng chạp mà không xả, để đến ngày 16 đương nhiên là xả, nhưng phạm tội Việt tỳ ni. Đó gọi là thời quá xả.

10. Cứu cánh xả: Đến ngày 15 tháng chạp đương nhiên phải xả. Một người nên xướng ở giữa Tăng như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe. Hôm nay Tăng xả y Ca-hi-na. (nói như vậy ba lần).

Đó gọi là Cứu cánh xả.

Trên đây là 10 trường hợp xả y Ca-hi-na.

VẤN ĐỀ Y PHÁP.

Có các trường hợp sau đây:

—Trong lúc an cư chưa xong; Khi an cư xong; Trong lúc đang an cư; Vì sợ mất mạng; Vì sợ mất phạm hạnh; Y phi thời; Y đúng thời; Việc xảy ra ở Câu Thiểm Di.

1. Trong lúc an cư chưa xong.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, nhóm sáu Tỉ kheo an cư trong thôn xóm chưa kết thúc mà đến nhà đàn việt, nói như sau:

—Này lão trượng! Hãy cúng dường y an cư cho tôi.

—Thưa tôn giả! Nay chưa đúng lúc, đợi khi an cư kết thúc, mùa màng thu hoạch xong, nhân dân hoan hỷ nghĩ nhớ công ơn, phát tâm bố thí, thì bấy giờ mới có thể bố thí được.

—Này lão trượng! Ông không biết rằng cuộc đời này vốn vô thường, hoặc bị nạn vua quan, nạn nước lửa, hoặc bị cướp bóc, lúc ấy tôi sẽ mất lợi mà ông cũng mất phước.

—Tôn giả chỉ cho tôi thấy lẽ vô thường mà không tự thấy chính mình. Tôn giả muốn được gấp phẩm vật an cư để đem đi nơi khác, hay là muốn thôi tu mà gấp gáp đến như vậy? Kỳ thay, quái gỡ, nhiều tham dục không biết chán.

Ông nói thế rồi, sinh tâm không hoan hỷ, bèn bỏ đi. Các Tỉ kheo liền đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bèn hỏi nhóm sáu Tỉ kheo:

—Các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy. Bạch Thế Tôn!

—Này các Tỉ kheo! Vì sao an cư chưa kết thúc mà các ông đòi cúng dường y an cư? Từ nay về sau, Ta không cho phép an cư chưa kết thúc mà đòi cúng dường y an cư. Nếu ai làm như vậy thì phạm tội Việt tỳ ni.

Đó gọi là trường hợp an cư chưa xong.

2. Khi an cư xong.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, các Tỉ kheo ở tinh xá Kỳ hoàn an cư xong bèn chia y An cư. Lúc ấy, nhóm sáu Tỉ kheo an cư tại chỗ khác xong, liền đến giữa Tăng chúng Kỳ hoàn, nói như sau: “Thưa trưởng lão, đức Thế Tôn chế định khi an cư xong sẽ được phần y an cư. Tôi cũng đã an cư xong, đương nhiên phải được y an cư. Vậy hãy chia phần y an cư cho tôi”.

Các Tỉ kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—An cư nơi khác thì đương nhiên không được phần y an cư nơi này. Tùy theo an cư nơi nào thì nhận phần nơi đó.

Đó là trường hợp an cư xong.

3. Trong lúc đang an cư.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, nhóm sáu Tỉ kheo đến ngày an cư, bèn nhận phòng xá, rồi đem giày da, dụng cụ để nhuộm và các vật linh tinh khác bỏ vào trong phòng, đoạn, nói như sau:

—Thưa các trưởng lão, tôi an cư nơi đây. Các vị chớ có chán ghét tôi. Tôi biết các vị thường không ưa tôi.

Thế rồi, họ thuê người nhận phần y an cư. Đoạn, tìm nơi khác an cư.

Các Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Hễ an cư ở nơi nào thì nhận phần y ở nơi đó.

4. Vì sợ mất mạng.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, tại Tỳ-Xá-Ly gặp nạn đói lớn, khất thực khó khăn. Các Tỉ kheo bèn đi đến thành Xá-vệ, gặp lúc các Tỉ kheo ở tinh xá Kỳ Hoàn vừa an cư xong, đang chia y. Các Tỉ kheo ở Tỳ Xá Ly bèn vào tham dự. Các Tỉ kheo ở Kỳ Hoàn hỏi:

—Thưa các trưởng lão! Đức Thế Tôn chế định hễ an cư ở nơi nào thì được nhận phần y ở nơi đó. Vậy các vị an cư ở đâu?

—Thưa trưởng lão! Chúng tôi sợ mất mạng nên mới đến đây. Nếu không đến đây thì e đói chết mất.

Các Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Nếu vì sợ mất mạng mà đến thì nên chia phần y.

Đó gọi là trường hợp sợ mất mạng.

5. Vì sợ mất phạm hạnh.

Bấy giờ tại thành Vương Xá có một người con của ngoại đạo xuất gia. Khi ấy, cha mẹ muốn đến đem con về nhà thì những người khác nói:

—Sa-môn rất trọng việc an cư, trong lúc an cư ắt hẳn không gây trở ngại gì, bấy giờ hãy đem về.

Người chị vì thâm tín Phật pháp nên nói với em:

—Cha mẹ muốn đem em về nhà, vậy hãy nhanh chóng lánh đi nơi khác.

Người em bèn đi đến thành Xá-vệ, gặp lúc các Tỉ kheo ở tinh xá Kỳ hoàn vừa an cư xong, đang chia y. Thầy Tỉ kheo ấy bèn vào tham dự. Các Tỉ kheo ở Kỳ Hoàn hỏi:

—Này trưởng lão! Đức Thế Tôn chế định hễ an cư ở nơi nào thì được nhận phần y ở nơi đó, (ngoại trừ trường hợp ở nơi khác) sợ bị mất mạng mà đến mới được chia phần. Còn thầy thì như thế nào?

—Vì cha mẹ muốn đem tôi về nhàø, nếu tôi không đến đây thì sẽ mất phạm hạnh.

Các Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Nếu vì sợ mất phạm hạnh mà đến thì nên cho phần y.

Đó gọi là sợ mất phạm hạnh.

6. Y phi thời.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có Tỉ kheo đi du hành trong nhân gian, chở đầy xe y đi đến. Phật biết mà vẫn hỏi:

—Này Tỉ kheo! Y của ai thế?

—Bạch Thế Tôn! Đó là y của con.

—Đây là y đúng thời hay y phi thời?

—Bạch Thế Tôn! Đây là y phi thời.

—Đã tịnh thí chưa?

—Bạch, chưa.

—Tất cả các y đó nên cho chúng Tăng.

Đó gọi là y phi thời.

7. Y đúng thời.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có Tỉ kheo đi du hành trong nhân gian, chở đầy xe y đi đến. Phật biết mà vẫn hỏi:

—Này Tỉ kheo! Đó là y của ai vậy?

—Bạch Thế Tôn! Đó là y của con.

—Đây là y đúng thời hay y phi thời?

—Đây là y đúng thời.

—Y này nhiều quá, đem cho Tăng bớt một nửa.

Đó gọi là y đúng thời.

8. Việc xảy ra tại Câu Thiểm Di.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Lúc ấy, quân của nước Câu Tát La cướp lấy xóm làng Câu Thiểm Di, rồi kéo về thành Xá-vệ. Bấy giờ có Tỉ kheo ở tinh xá Kỳ Hoàn (thuộc Xá-vệ) đến xóm làng này đòi y cúng dường an cư. Các Tỉ kheo ở Câu Thiểm Di trước đó đã an cư tại xóm làng này, bèn nói:

—Này trưởng lão! Trước đây tôi nương nơi xóm làng này mà an cư, lẽ ra tôi phải đòi trước.

Thế là hai người cãi nhau, rồi cùng kéo đến chỗ Phật, đem sự việc trên trình bày đầy đủ với Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Ai an cư tại đó thì được quyền đòi trước, rồi mới đến người khác. Nếu hai người cùng đòi thì nên cùng chia đều. Nếu Tỉ kheo an cư tại đó chưa đòi mà người khác đòi, thì phạm tội Việt tỳ ni.

Lại nữa, lúc bấy giờ có hai đệ tử đồng hành của tôn giả Kiếp Tân Na nhân vì có việc bất bình nên xả giới, nhưng không hủy hoại phạm hạnh, rồi sau đó thọ cụ túc trở lại. Khi ấy, các Tỉ kheo ở Kỳ hoàn an cư xong, chia y mà không chia cho họ, nên họ nói:

—Thưa trưởng lão! Vì có việc bất bình nên tôi xả giới, nhưng không hủy hoại phạm hạnh, rồi thọ cụ túc trở lại. Vậy nên chia phần cho chúng tôi.

Thế rồi họ cùng đi đến, bạch với Phật. Phật dạy:

—Nếu người nào có việc bất bình mà xả giới, nhưng không hủy hoại phạm hạnh, rồi thọ cụ túc trở lại, thì nên chia phần đồng đều. Thế nhưng, có 5 trường hợp không nên cho. Đó là:

—Bị cử;—Thôi tu;—Qua đời;—Phá an cư;—Đi không dặn lại.

1. Bị cử: Phạm một trong ba kiến giải, hủy báng Kinh điển, tà kiến, biên kiến, được khuyên can mà không bỏ lỗi, bị làm yết ma cử tội. Đó gọi là bị cử.

2. Thôi tu: Người nào xả giới thì không nên cho. Nhưng nếu họ dựa thế lực của nhà vua, đại thần hay đảng cướp, nói như sau:

—Nếu Sa-môn không chia phần cho tôi, thì tôi sẽ gây ra chuyện rắc rối.

Với hạng người như thế tuy không đáng cho ta cũng nên cho. Đó gọi là người thôi tu.

3. Qua đời: Người chết thì đương nhiên không được chia phần. Tuy nhiên, khi y an cư đã tập trung chưa chia, mà có người sắp mệnh chung rồi căn dặn đem phần mình cho người nào đó, thì khi người ấy qua đời, nên đem cho người đó. Đó gọi là qua đời (vô thường).

4. Phá an cư: Tỉ kheo không tiền an cư, không hậu an cư đương nhiên không được chia phần. Nhưng nếu họ dựa thế lực của nhà vua, đại thần hay bọn giặc mà nói rằng: “Nếu không cho tôi, tôi sẽ gây ra chuyện rắc rối”, thì hạng người như vậy tuy không đáng cho, cũng nên cho. Đó gọi là phá an cư.

5. Đi không dặn lại: Người ra đi mà không dặn lại lấy giúp phần y của mình, thì không nên cho. Khi chia, người chia phẩm vật nên hỏi: “Ai nhận phần cho mỗ giáp?”. Nếu có người nhận thì nên hỏi: “Khi vị ấy đi có dặn thầy nhận không?” Nếu trả lời: “Không dặn”, thì nên nói: “Thầy đừng lo về việc ấy”. Nếu nói: “Có dặn”, thì nên xem tướng người ấy. Nếu là người đáng tin, thì nên đưa. Nếu là người không đáng tin thì nên nói: “Thầy đừng lo về việc ấy”. Nếu hai người ấy trước đây đồng chí hướng, thường nhận giúp cho nhau, thì nên đưa.

Đó gọi là 5 trường hợp.

PHẨM VẬT THUỘC TĂNG HIỆN TIỀN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có một Tỉ kheo an cư xong, trở về thăm quê hương của mình. Những người bà con bèn thiết lễ cúng dường rộng rãi các y vật nhân dịp Tỉ kheo này về thăm. Chư Tăng trước đây an cư nơi xóm làng này nghĩ rằng vì mình an cư nên được cúng dường, do đó, không chia phần cho vị Tỉ kheo kia. Các người bà con bèn hỏi thầy:

—Thầy có được phần y không?

—Không được.

—Chúng tôi vì thầy mà thiết lễ cúng dường này, tại sao lại không được?

Các Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Đàn việt vì Tỉ kheo này mà thiết lễ cúng dường, vậy nên chia phần cho thầy ấy.

Rồi Phật tiếp:

—Có 5 cách nói thì khi cúng dường như sau: Y này cúng dường cho chúng Tăng an cư; Tiền sắm y này cúng dường cho chúng Tăng an cư; Phẩm vật này cúng dường cho chúng Tăng an cư; Số tiền sắm vật dụng này cúng dường cho chúng Tăng an cư; Cúng dường cho những người an cư ở trú xứ này.

Đó gọi là năm cách nói cúng dường.

Nếu gia đình bố thí muốn cúng dường chung cho các Tỉ kheo khác, thì tùy theo ý nguyện của đàn việt, nên cho đều.

Lại có bốn thứ phẩm vật tùy theo thí chủ nói mà thuộc về Tăng hiện tiền. Đó là khi họ nói:

—Tôi cúng dường y; tiền sắm y; phẩm vật; tiền sắm vật dụng.

Đó gọi là bốn thứ phẩm vật thuộc Tăng hiện tiền.

Lại có 10 loại khi nhận được phải thuộc về Tăng hiện tiền. Đó là:

1. Thuốc dùng đúng thời.

2. Thuốc dùng ban đêm.

3. Thuốc dùng trong bảy ngày.

4. Thuốc dùng suốt đời.

5. Vật của Tỉ kheo qua đời.

6. Vật bố thí cho trú xứ.

7. Vật cúng dường trong các dịp đại hội. 8. Y phi thời.

9. Vật linh tinh.

10. Mời thọ trai.

1. Thuốc dùng đúng thời: bữa ăn trước, bữa ăn sau, bữa ăn a ba na, Tăng hiện tiền có quyền thọ hưởng. Đó gọi là thuốc (thức ăn) đúng thời.

2. Thuốc dùng ban đêm: Gồm 14 loại nước uống như trước kia đã nói. Đó gọi là thuốc dùng ban đêm.

3. Thuốc dùng trong bảy ngày: Sữa, dầu, mật, đường phèn, sữa tươi, mỡ, như trước kia đã nói rõ. Đó gọi là thuốc dùng trong bảy ngày.

4. Thuốc dùng suốt đời: Ha lê lặc, Bỉ hê lặc, A ma lặc như trong giới thứ hai đã nói rõ. Đó gọi là thuốc dùng suốt đời.

5. Vật của Tỉ kheo qua đời: Khi Tỉ kheo qua đời, thì y bát và các vật linh tinh thuộc quyền thừa hưởng của Tăng chúng hiện tiền. Đó gọi là vật của Tỉ kheo qua đời.

6. Vật cúng dường cho trú xứ: Nếu đàn việt xây phòng Tăng, tinh xá, rồi mở đại hội đem trú xứ ấy và các vật khác cúng dường, thì Tăng hiện tiền được quyền thừa hưởng. Đó gọi là vật cúng dường cho trú xứ.

7. Vật thu nhận trong dịp đại hội: Trong các dịp đại hội như Phật đản sinh, Phật thành đạo, Chuyển pháp luân, A nan, La Hầu La, năm năm đại hội một lần, các vật cúng dường trong những dịp ấy, Tăng hiện tiền được quyền thừa hưởng.

8. Y phi thời: Nếu không có y Ca-hi-na thì 11 tháng, nếu có y Ca-hi-na thì 7 tháng; những vật cúng dường trong thời gian ấy, Tăng hiện tiền được quyền hưởng dụng. Đó gọi là y phi thời.

9. Những vật linh tinh: Bát, sóng đựng bát, đai lưng, dao, hộp sắt, giày da, chai đựng dầu, túi da, chén, bình tưới, những vật cúng dường linh tinh như thế, Tăng hiện tiền được quyền nhận. Đó gọi là vật linh tinh.

10. Mời thọ trai: Đàn việt mời Tăng theo thứ tự đến nhà họ cúng dường trai phạn. Đó gọi là mời thọ trai.

Trên đây là 10 trường hợp Tăng hiện tiền được quyền hưởng dụng.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy các Tỉ kheo may y mà không cắt các tua vải, như đã nói rõ về ba loại hoại sắc trong giới Ba-dạ-đề ở trên.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có một Tỉ kheo đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Cho phép con mặc một y để ít ham muốn, ít bận bịu.

Phật nói với thầy:

—Ông giữ gìn ba y, bình bát, là ít ham muốn, ít bận bịu rồi.

Lại có Tỉ kheo nói:

—Cho phép con mặc hai y.

Lại có Tỉ kheo nói:

—Cho phép con dùng mền bằng lông dê.

Lại có Tỉ kheo nói:

—Cho phép con dùng mền bằng tóc.

Lại có Tỉ kheo nói:

—Cho phép con dùng mền bằng lông đuôi ngựa.

Lại có Tỉ kheo nói:

—Cho phép con mặc y phục bằng cỏ.

Lại có Tỉ kheo nói:

—Cho phép con mặc y phục bằng vỏ cây.

Lại có Tỉ kheo nói:

—Cho phép con mặc y phục bằng da.

Phật dạy:

—Tất cả các loại y phục kể trên đều không được mặc.

Lại có Tỉ kheo nói:

—Cho phép con sống lõa thể, ít ham muốn, ít bận bịu.

Phật dạy:

—Này Tỉ kheo! Đó là phép tắc của ngoại đạo. Chỉ cần giữ gìn ba y, bình bát tức là ít ham muốn, ít bận bịu rồi.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ các Tỉ kheo mặc y màu sắc lộng lẫy, bị người đời chê trách rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mặc y màu sắc lộng lẫy chẳng khác gì người thế tục.

Các Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Ta không cho phép mặc y có màu sắc lộng lẫy. Màu sắc lộng lẫy tức là nhuộm bằng khâu khư, nhuộm bằng Ca di già, Câu bỉ la, Lặc xoa, Lô đà la, Phi uất kim, hồng lam, màu xanh, màu trắng, màu hoa, tất cả những màu sắc lộng lẫy đều không cho dùng. Chỉ nên dùng rễ, lá, hoa, vỏ cây để nhuộm, tối thiểu là dùng nước của đá mài để nhuộm.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, Ngài đi kinh hành trước hang đá của trời Đế Thích, thấy những bờ ruộng lúa ở Ma Kiệt Đề rõ ràng, chênh lệch nhau rất hợp lý. Thấy thế, Phật liền nói với các Tỉ kheo:

—Yù pháp của chư Phật Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri trong quá khứ đều như thế đó. Từ nay về sau khi may y nên theo cách thức ấy.

Lại nữa, khi ấy tôn giả Đại Ca Diếp may y Tăng già lê, đức Thế Tôn tự tay cầm lấy, tôn giả A-nan cắt, rồi có Tỉ kheo khâu lại, có Tỉ kheo may đường ngắn, có Tỉ kheo may đường dài, có Tỉ kheo may đường viền, có Tỉ kheo kết khuy.

Lại nữa, có Tỉ kheo may y rồi vẽ lá cây lên y. Phật dạy:

—Ta không cho phép vẽ lá cây trên y.

Lại có Tỉ kheo may y nhiều lớp. Phật dạy:

—Ta không cho phép may y nhiều lớp, phải cắt bỏ đi.

Lại có Tỉ kheo may y kết dính hai đầu lại. Phật dạy:

—Ta không cho phép may kết dính hai đầu lại mà nên may kết lại từng tấm. Tấm rộng nhất bằng bốn ngón tay, tấm hẹp nhất bằng hạt lúa lớn.

Lại có Tỉ kheo may các điệp hướng về một bên. Phật dạy:

—Ta không cho phép như vậy cần phải rẽ các điệp ra hai bên.

Lại có Tỉ kheo may y các điều tướng bằng nhau. Phật dạy:

—Ta không cho phép như vậy. Y 5 điều nên một dài một ngắn. Y 7 điều cho đến 13 điều nên may 2 dài, một ngắn. Y 15 điều nên may ba dài, một ngắn.

Lại có Tỉ kheo may y rồi khâu dính các biên vải vào y. Phật dạy:

—Ta không cho phép như vậy. Y ở phía sau nên để thông thoáng; nên làm như răng ngựa. (?)

Có Tỉ kheo y ở biên trên và biên dưới bị rách. Phật dạy:

—Nên may viền ở các mép y.

Có Tỉ kheo may y 4 màu sắc. Phật dạy:

—Ta không cho phép như vậy. Chỉ nên dùng một màu sắc.

Có Tỉ kheo được y với màu sắc rực rỡ muốn giặt cho hoại sắc. Phật biết mà vẫn hỏi:

—Này Tỉ kheo! Ông định làm gì đó?

—Bạch Thế Tôn! Vì Thế Tôn chế giới không cho phép mặc y có màu sắc rực rỡ, nên con muốn giặt cho hoại sắc.

—Không cần phải giặt. Ta cho phép dùng những màu khác nhuộm cho hoại sắc.

Y gồm có 7 loại:

1. Y khâm bà la.

2. Y kiếp bối.

3. Y sô ma.

4. Y câu xá da.

5. Y xá na.

6. Y ma.

7. Y khu mâu đề.

Đó gọi là y pháp.

Kệ tóm tắt:

“Bố tát và yết ma
Gởi dục nói thanh tịnh.
An cư cùng Tự tứ,
Thọ y Ca-hi-na
Phi y Ca-hi-na
Xả y Ca-hi-na
An cư xong, dâng y,
Kết thúc phẩm thứ tư”.