LUẬT MA HA TĂNG KỲ

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 8.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá. Lúc ấy, tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha đang sống trong thôn, hằng ngày đi qua bên kia sông Hằng khất thực. Khi đến bờ sông Hằng, thầy liền nói như sau:

—Thủ đà la, ngừng lại. Ta muốn đi qua.

Nước liền ngừng chảy. Khi qua rồi, thầy lại nói:

—Thủ đà la, ngươi cứ chảy.

Thế là nước chảy lại như cũ. Thủy thần không vui liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua một bên, bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha nói những lời quá cộc cằn như: “Ngừng lại thủ đà la, chảy đi thủ đà la”.

—Hãy gọi Tất Lăng Già Bà Tha đến đây.

Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi:

—Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy bạch Thế Tôn!

—Thần sông Hằng đã trách móc ông như trên, vậy ông hãy đến sám hối ông ta.

Tất Lăng Già Bà Tha bèn đến đó, nói:

—Tôi xin lỗi, thủ đà la.

—Trước cũng gọi thủ đà la, giờ cũng gọi thủ đà la, có khác gì đâu mà nói là xin lỗi.

Tất Lăng Già Bà Tha, chỉ trừ tám vị Đại Thanh Văn của Phật, ngoài ra tất cả thầy đều gọi là thủ đà la. Kể cả các Hòa Thượng, A xà lê, các Thượng Tọa thầy đều gọi là thủ đà la tất. Các Tỉ kheo bàn nhau:

—Tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha, thậm chí đối với Hòa Thượng, A xà lê cũng đều gọi là thủ đà la. Nhưng đâu có phải chỉ một người này là Bà la môn xuất gia; tôn giả Đại Ca Diếp, Xá-lợi-phất, Mục Liên. v.v… , cũng đều là Bà la môn xuất gia mà đâu có gọi như thế. Vậy, chúng ta phải làm yết ma cử tội.

Thế rồi Tỉ kheo Tăng bèn tập hợp. Khi ấy, Tất Lăng Già Bà Tha đang ngồi thiền, không đến. Tăng bèn sai sứ đến gọi. Sứ giả đến đó đập cửa, nói:

—Chúng Tăng đang tập họp, cho gọi trưởng lão.

Khi ấy, Tất Lăng Già Bà Tha quán sát, thấy Tỉ kheo Tăng tập họp định làm yết ma cử tội mình, liền dùng thần lực kềm chế Tỉ kheo sứ giả đứng yên tại cửa, không thể đi được. Chúng Tăng thấy sứ giả đi lâu không trở về, lấy làm lạ, bèn sai Tỉ kheo khác đến gọi. Vị Tỉ kheo sau đến, liền cầm tay Tỉ kheo sứ giả trước kéo đi, thì trưởng lão Tất Lăng Già Bà Tha cũng lại làm phép cho dính vào nhau, không thể đi được. Như vậy hết sứ giả này đến sứ giả khác đều dính vào nhau, không thể đi được. Các Tỉ kheo bèn trách cứ:

—Trong chúng đâu phải chỉ có một người này có đại thần túc? Tôn giả Đại Mục Liên há không có năng lực này sao? Vậy hãy làm yết ma phúc phạt tề thủy tế (xử vắng mặt).

Phật dùng thần túc từ hư không đi đến, tuy biết ngài vẫn hỏi các Tỉ kheo:

—Các ông đang làm gì đó?

—Bạch Thế Tôn! Tất Lăng Già Bà Tha chỉ trừ tám vị đại Thanh Văn của Như Lai, ngoài ra kể cả Hòa Thượng, A Xà Lê ông đều gọi là thủ đà la. Khi Tăng muốn làm yết ma cử tội, tập họp thì ông không đến. Khi sai sứ đến gọi, thì ông lại dùng thần túc kềm chế, khiến sứ giả dính chùm vào nhau, mà ông vẫn không đến. Do đó, Tăng định làm yết ma tề thủy tế (xử vắng mặt) phúc phạt.

Thế rồi, Phật nói:

—Ông ấy sẽ đến.

Tất Lăng Già Bà Tha tâm liền khai thông, bỗng chốc đến đứng trước Phật. Phật liền nói với Tất Lăng Già Bà Tha:

—Ông có lỗi khi nói thủ đà la, nên các vị phạm hạnh chê trách ông.

—Bạch Thế Tôn! Vậy con phải làm sao? Con không kiêu mạn, cũng không tự đại khinh miệt người khác. Nhưng khi con gọi Hòa Thượng, A xà lê, các trưởng lão Tỉ kheo thì tiếng nói phát ra liền thành thủ đà la.

Phật liền nói với các Tỉ kheo:

—Ông Tất Lăng Già Bà Tha này không phải kiêu mạn cũng không phải tự đại khinh miệt người khác. Từ 500 đời trở lại đây thường sinh trong nhà Bà la môn nên cái tập khí nói thủ đà la chưa bỏ được.

Đoạn, Phật quay lại nói với Tất Lăng Già Bà Tha:

—Ông từ vô thỉ sinh tử đến nay, tham dục, sân hận, ngu si còn có thể nhổ hết vĩnh viễn, mà tập khí của 500 đời lại không thể trừ được. Từ nay về sau, đừng nói tiếng thủ đà la.

Nghe Thế Tôn dạy, vì lòng cung kính nên vĩnh viễn ông không nói như thế nữa.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là Tam bà tha.

19. Một thố dầu:

Sau khi đức Thế Tôn Niết-bàn, các trưởng lão Tỉ kheo ở Tì-xá-li, lúc ấy có một khách buôn nhân dịp Tự tứ mời Tỉ-kheo-ni Pháp Dự. Tỉ-kheo-ni này thường sai một đệ tử y chỉ đến nhà ấy lấy những vật cần dùng. Khi ấy, đệ tử y chỉ không xưng tên thầy, không tự xưng tên mình mà chỉ nói trổng:

—Tôi cần dầu.

Đàn việt bèn đưa dầu. Thế rồi, cô ta tự sử dụng. Sau đó, đàn việt kiểm tra lại thì số dầu ấy không đến tay Ni sư. Đệ tử y chỉ lòng sinh nghi ngờ hối hận, bèn nói với các Tỉ-kheo-ni. Các Tỉ-kheo-ni bảo rằng cô phạm tội Ba la di nhưng cũng không chắc lắm, liền đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói:

—Tuy lấy một cách mờ ám, nhưng có đàn việt cho nên chỉ phạm tội Thâu lan.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là một thố dầu.

20. Lấy thức ăn.

Bấy giờ, có đàn việt đến một tinh xá tại thành Xá-vệ cúng dường trai phạn cho chúng Tăng. Khi ấy, có một Tỉ kheo ăn phần mình xong lại lấy thêm một phần nữa. Người phụ trách dọn cơm hỏi:

—Trưởng lão lấy phần cho ai thế?

—Lấy phần cho tôi.

—Thế thì phần ăn rồi là của ai?

—Cũng của tôi.

Lúc ấy, Tỉ kheo nói:

—Thầy phạm tội Ba la di.

Nhưng các Tỉ kheo không chắc lắm, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói:

—Cái mình không được mà lấy, nhưng có chủ cho nên chỉ phạm tội Thâu lan.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là lấy thức ăn.

21. Nuôi bệnh.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ. Lúc ấy, tại tinh xá Kỳ Hoàn có một Tỉ kheo bệnh tranh cãi với Tỉ kheo nuôi bệnh. Hôm ấy có đàn việt đến tinh xá cúng dường trai phạn cho chúng Tăng. Tỉ kheo bệnh suy nghĩ: “Hôm nay ông ấy chắc gì lấy cơm cho ta?”, bèn nhờ một Tỉ kheo khác lấy cơm. Cùng lúc ấy, Tỉ kheo nuôi bệnh suy nghĩ: “Hôm nay ai sẽ lấy cơm cho người ấy đây?” Thế là rốt cuộc tới hai người đi lấy cơm. Bấy giờ, người dọn cơm hỏi Tỉ kheo nuôi bệnh:

—Thầy lấy cơm cho ai vậy?

—Lấy cơm cho Tỉ kheo mỗ bị bệnh.

Lại hỏi người lấy cơm giúp:

—Thầy lấy cơm cho ai?

—Lấy cơm cho Tỉ kheo mỗ bị bệnh.

Các Tỉ kheo liền nói:

—Thầy phạm tội Ba la di.

Nhưng họ cũng không chắc lắm, bèn đến hỏi Tỉ kheo trưởng lão. Tỉ kheo trưởng lão đáp:

—Người được nhờ lấy cơm này không có tội. Nhưng Tỉ kheo bệnh tranh cãi với Tỉ kheo nuôi bệnh, rồi không nói với Tỉ kheo nuôi bệnh mà nhờ người khác lấy cơm thì phạm tội Việt tỳ ni. Còn người nuôi bệnh tranh cãi với Tỉ kheo bệnh, rồi không hỏi mà đi lấy cơm giúp cũng phạm tội Việt tỳ ni.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là nuôi bệnh.

22. Miếng thịt của chim.

Khi Phật an trú tại tinh xá Kỳ Hoàn thuộc thành Xá Ve, lúc ấy, có Tỉ kheo đến giờ khất thực bèn khoác y, cầm bát vào thành khất thực thì bỗng dưng có con chim ngậm cục thịt chợt rơi vào trong bát của Tỉ kheo. Tỉ kheo bèn đem về tinh xá luộc chín để ăn, rồi chia cho các Tỉ kheo. Các Tỉ kheo hỏi:

—Trưởng lão! Thầy nhặt được miếng thịt này ở đâu vậy?

Thầy bèn trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên. Các Tỉ kheo nói:

—Thầy phạm tội Ba la di.

Nhưng họ cũng không chắc lắm, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói:

—Súc sinh không thuộc về ai cả.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là miếng thịt của chim.

23. Miếng thịt của bọn cướp.

Sau khi đức Thế Tôn Niết-bàn, các trưởng lão Tỉ kheo sống tại thành Vương xá. Vào lúc ban đêm có bọn cướp bắt trộm trâu rồi chúng đem vào rừng Thi Đà mổ thịt mà ăn nhưng ăn không hết. Chúng bèn hỏi Tỉ kheo đang ngồi thiền trong rừng:

—Tôn giả có cần thịt không?

—Cần.

Tức thì chúng cho Tỉ kheo đầy bát. Tỉ kheo bèn đem về tinh xá mà ăn rồi chia cho các Tỉ kheo khác. Các Tỉ kheo khác hỏi:

—Trưởng lão được thịt này ở đâu vậy?

Thầy bèn trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên. Các Tỉ kheo nói:

—Trưởng lão! Thầy lấy vật của bọn cướp đủ 5 tiền phạm tội Ba la di.

Thế nhưng họ không chắc lắm, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói:

—Người xuất gia nhận vật có chủ bố thí dùng vật ấy như pháp hay không như pháp đều không có tội.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là miếng thịt của bọn cướp.

24. Thịt heo.

Lúc ấy ở thôn Đề Bà có bọn ăn trộm, bắt trộm heo mổ thịt mà ăn. Các đầu, chân còn thừa chúng bỏ lại, rồi ra đi. Bấy giờ, có Tỉ kheo thấy thế bèn đem về tinh xá nấu chín rồi ăn, đồng thời chia cho các Tỉ kheo khác. Các Tỉ kheo hỏi:

—Thầy được thịt này ở đâu vậy?

Thầy bèn trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên. Các Tỉ kheo nói:

—Đáng giá 5 tiền phạm tội Ba la di.

Nhưng họ không chắc lắm, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo hỏi người lấy thịt:

—Thầy lấy với tâm gì?

—Tưởng vật không có chủ mà lấy.

—Tưởng vật không có chủ mà lấy thì không có tội.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là thịt heo.

25. Đạp phụ nữ.

Có một Tỉ kheo ở tinh xá Kỳ Hoàn tại thành Xá-vệ, đến giờ khất thực thầy bèn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, rồi đến một nhà kia. Lúc ấy, người đàn bà nói:

—Tỉ kheo hãy vào đây, chúng ta cũng làm việc như thế.

—Đức Thế Tôn chế giới không được hành dâm.

—Nếu thầy không làm theo ý tôi thì tôi sẽ nói là thầy cưỡng hiếp tôi như vậy, như vậy.

Tỉ kheo vì sợ nên phải vào nhà. Khi thầy vào nhà rồi, người đàn bà ấy bèn nói với đứa nô tì giữ cửa:

—Ta với Tỉ kheo hành lạc.

Người đàn bà ấy khi vào đến phòng, lòng dục khởi lên mãnh liệt bèn nằm xuống. Tỉ kheo liền đạp cho một đạp rồi bỏ đi. Đứa nô tì giữ cửa hỏi thầy:

—Tôn giả làm xong rồi sao?

—Xong rồi.

Lúc ấy tâm Tỉ kheo sinh nghi ngờ, hối hận, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói:

—Thầy dùng chân đạp người phụ nữ nên phạm tội Thâu lan. Không làm mà nói có làm, phạm tội Ba-dạ-đề.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là đạp phụ nữ.

26. Xay bột.

Lúc bấy giờ, có Tỉ kheo ở tinh xá Kỳ Hoàn tại thành Xá-vệ, đến giờ khất thực bèn khoác y, cầm bát vào thành, tuần tự khất thực. Tới một nhà kia, bỗng thấy một người phụ nữ ngồi xay bột, y phục không che kín thân hình. Thấy thế, lòng dục sinh khởi, Tỉ kheo nói:

—Này chị em! Tôi muốn ăn bột.

Người phụ nữ ấy bèn cho bột. Tâm Tỉ kheo sinh nghi ngờ, hối hận đến hỏi Tỉ kheo trưởng lão. Tỉ kheo trưởng lão hỏi thầy:

—Ông dùng tâm gì nói điều đó?

—Tâm tham dục.

Thế rồi, họ sai sứ giả đến hỏi người phụ nữ ấy. Người ấy nói:

—Tôi đang ngồi chòm hổm dưới đất xay bột thì Tỉ kheo đến xin bột. Tôi liền cho thầy.

Sứ giả trở về trình bày lại như trên. Trưởng lão Tỉ kheo nói:

—Cô ấy hiểu nghĩa mà không hiểu ẩn ý nên phạm tội Thâu lan. Cho đến: Nếu không hiểu nghĩa cũng không hiểu ẩn ý thì phạm tội Việt tỳ ni.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là xay bột.

27. Trâu nghé.

Tại nước Bạt Kì có người thả trâu nghé ăn gần tinh xá. Trâu nghé đi vào tinh xá, ăn các hoa quả, húc đổ các hình tượng. Thầy tri sự nói với kẻ chăn trâu:

—Ông hãy coi chừng con trâu ông cẩn thận, chớ để nó phá phách.

Thầy nhắc nhở tới ba lần mà việc đó không chấm dứt. Thầy bèn nổi giận, dắt trâu vào nhốt trong phòng, rồi đóng cửa lại, đi vào thôn xóm khất thực. Nhưng khi đến giữa đường lại suy nghĩ: “Trong phòng có nhiều Dạ xoa, biết đâu nó sẽ giết chết con trâu nghé”, bèn trở về lại tinh xá, mở cửa xem thì thấy con trâu nghé đã chết. Tỉ kheo hoảng sợ liền đem nó bỏ vào trong cầu tiêu của chúng Tăng, rồi bỏ đi. Người chăn trâu bèn đến hỏi thầy:

—Thầy có thấy con trâu nghé tôi đâu không?

—Không thấy.

Thế nhưng, tâm Tỉ kheo sinh nghi, liền hỏi các Tỉ kheo. Các Tỉ kheo không thể quyết định được bèn đến hỏi vị trưởng lão. Vị trưởng lão nói:

—Dắt trâu vào thả trong phòng rồi đóng cửa lại thì phạm tội Việt tỳ ni. Đem bỏ vào trong cầu tiêu của chúng Tăng thì phạm tội Thâu lan. Thấy mà nói không thấy thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là thả trâu nghé.

28. Bỏ vợ.

Bấy giờ, tại ấp Ca Thi Kì Lợi có một ông già đoan chánh, bỏ vợ xuất gia. Bà vợ ông bèn đi theo, đến ở bên ngoài phòng ông, xe sợi. Ông bảo bà:

—Bà đi đi! Tôi là người xuất gia không cần đến bà nữa.

—Tôn giả! Tôi xe sợi ở đây đâu có phương hại gì? Vì muốn lúc nào cũng được trông thấy tôn giả, tôi không thể rời xa được.

Ông già ấy nhắc nhở nhiều lần nhưng bà kia vẫn không đi. Ông bèn đem y bát vứt bỏ, rồi ra đi. Khi ấy có người phụ nữ gặp ông ấy bèn nói với bà vợ:

—Ông chồng bà bỏ đi rồi.

Nghe thế, bà liền đuổi theo, đến khi bắt kịp bèn nắm y thầy đứng ở giữa đường, nói:

—Thầy hãy vì tôi đừng đi. Tôi sẽ cung cấp y bát và thuốc chữa bệnh cho thầy.

—Tôi là người xuất gia, theo phép tắc không nên như vậy.

Tuy vậy, bà vẫn không chịu buông ra. Ông tức giận cực độ, liền cầm y bát để một chỗ, đánh bà một trận nhừ tử, rồi bỏ đi. Thế rồi, lòng ông sinh nghi ngờ hối hận, bèn đem sự việc trên hỏi một vị Tỉ kheo trì luật là Da Xá. Da xá nói:

—Nổi sân đánh đàn bà thì phạm tội Ba la di.

Các Tỉ kheo nghe thế, liền nói với thầy:

—Sự phán xét như thế không đúng. Nếu thầy muốn hết nghi, nên đến núi Chi đề hỏi tôn giả trì luật là Thọ Đề Đà Bà chắc chắn sẽ được quyết đoán dứt khoát.

Nghe thế, thầy liền đi nhưng đến đoạn đường ngang qua Câu Diệm Di, bỗng gặp một cô gái bán sữa. Cô ta thấy ông già ấy đẹp trai, lòng dục phát sinh, bèn nói:

—Sa-môn! Có muốn cùng hành lạc thì hãy đến đây.

Ông già ấy bèn suy nghĩ: “Ta đã phạm tội Ba la di rồi, đâu còn gì nữa?”, thế là cùng hành lạc với cô ta. Đoạn, thầy đến chỗ vị trì luật thuật lại đầy đủ sự việc kể trên. Vị trì luật bèn nói:

—Vì sao mà Da Xá chế ra đến 5 pháp Ba la di? Tức giận đánh phụ nữ thì phạm tội Thâu lan giá. Cùng hành dâm với cô gái bán sữa thì phạm tội Ba la di.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là bỏ vợ.

29. Cách vách.

Nước Phất Ca La có 2 tinh xá của Tỉ kheo, Tỉ-kheo-ni ở cách vách nhau. Khi ấy, Tỉ kheo khởi dục tâm bèn đứng cách vách nói chuyện với Tỉ-kheo-ni suốt đêm. Thế rồi, Tỉ kheo sinh tâm hoài nghi hối hận, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo hỏi:

—Thầy có tâm gì khi nói chuyện?

—Tâm tham dục, thưa trưởng lão.

—Nếu với tâm tham dục như vậy thì cứ mỗi lời nói phạm mỗi tội Việt tỳ ni.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là cách vách.

30. Bố tát.

Khi ấy, Tỉ kheo ở thôn Phất Ca La cùng với Tỉ kheo ở A-luyện-nhã bố tát tại một chỗ. Tỉ kheo ở A-luyện-nhã tên là Phất Hi Lỗ, vốn có đức hạnh và danh tiếng nên được nhiều lợi dưỡng. Tỉ kheo ở thôn xóm thấy thế bèn sinh tâm tật đố. Lúc ấy, trưởng lão Phất Hi Lỗ đến ngày 14 bố tát bèn vào thôn xóm nói với Tỉ kheo ở thôn xóm:

—Trưởng lão! Chúng ta cùng bố tát.

—Ngày 15 tôi mới bố tát.

—Tôi biết tính số ngày, kỳ này phải bố tát vào ngày 14.

—Tôi không làm, ngày 15 tôi mới bố tát.

Phất Hi Lỗ thuyết phục như vậy đến ba lần mà vị kia vẫn không nghe theo nên thầy ra về. Khi thầy đi rồi, Tỉ kheo ở trong thôn bèn bố tát. Sáng hôm sau, Phất Hi Lỗ đến trở lại nói với Tỉ kheo ở thôn xóm:

—Trưởng lão! Chúng ta hãy cùng bố tát.

—Tôi đã bố tát xong rồi. Thầy đã làm trái việc bố tát. Tôi không cùng hưởng chung pháp thực, vị thực với thầy nữa.

Khi ấy, Phất Hi Lỗ hễ bố tát ngày 14 thì ngày 14 đến, bố tát ngày 15 thì ngày 15 đến. Thế nhưng, cả 20 năm đầu đều không được bố tát. Lúc ấy, có một thiện quỉ thần vốn kính trọng Phất Hi Lỗ bèn đến trong núi Chi Đề, nói với tôn giả Thọ Đề Đà Bà như sau:

—Thưa tôn giả! Hiện nay ở tại xóm làng kia có tôn giả Tỉ kheo bất thiện, không tùy thuận, làm điều phi pháp, thường não loạn Phất Hi Lỗ, kính mong tôn giả đến giải quyết việc ấy.

Tôn giả Thọ Đề nghe thế bèn suy nghĩ: “Nếu ta đến nơi A-luyện-nhã trước thì Tỉ kheo hung ác ở thôn xóm nghe được sẽ không chia xẻ pháp thực, vị thực cùng ta.

Nghĩ thế, thầy liền đi đến chỗ Tỉ kheo ở thôn xóm. Lúc ấy, thiện quỉ thần lại nói với tôn giả Phất Hi Lỗ:

—Thưa tôn giả! Tôn giả Thọ Đề Đà Bà hiện giờ đang ở tại thôn xóm. Tôn giả nên đến đó thăm hỏi.

Nghe thế, thầy liền đến đó thăm hỏi. Thăm hỏi xong, ngồi sang một bên. Tôn giả Thọ Đề Đà Bà bèn hỏi thầy:

—Thầy là Phất Hi Lỗ phải không?

—Thưa vâng.

—Này Tuệ mạng! Thầy làm trái việc bố tát phải không?

—Trái việc bố tát hay không trái bố tát hôm nay sẽ biết. Từ 20 năm nay, hễ bố tát ngày 14 thì tôi đến ngày 14, bố tát ngày 15 thì tôi đến ngày 15. Như vậy là trái bố tát hay không trái bố tát, tôn giả tự biết.

—Này Tuệ mạng! Đó là thuận với Phật pháp. Nhưng Tỉ kheo ở thôn xóm không tùy thuận. Thọ cụ túc trong 20 năm mà không thể gọi là thọ cụ túc, yết ma mà không được gọi là yết ma.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là bố tát.

31. Hai trường hợp nước trái cây.

Lúc ấy, tại nước Ưu Xà Ni có kẻ phạm vương pháp, nên bị chặt cả chân tay, rồi đem bỏ vào rừng Thi Đà gần chỗ của Tỉ kheo ở A luyện nhã. Thế rồi, ông ta lần hồi đến chỗ Tỉ kheo, nói:

—Thưa thầy! Tôi rất đói khát, thầy cho tôi xin một ít thức ăn.

—Không có thức ăn.

—Thưa thầy! Xin thầy hãy thương tôi. Tôi bị cả hai nỗi thống khổ: một là nỗi khổ bị chặt cả tay chân; hai là nỗi khổ bị đói khát.

—Không có thức ăn, chỉ có nước tô tì la, ông có cần không?

—Cần.

Thầy liền cho nước ấy. Vì ông ta không được ăn đã lâu ngày nên uống vào liền chết. Tỉ kheo tâm sinh nghi, bèn hỏi các Tỉ kheo khác, nhưng họ cũng không quyết đoán được. Thầy liền đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo hỏi:

—Thầy dùng tâm gì khi đem cho?

—Tâm vì lợi ích.

—Nếu với tâm vì lợi ích thì không có tội.

Như vậy là hết phần Tì ni.

Lại nữa, tại nước Ưu Xà Ni có kẻ phạm vương pháp nên bị chặt cả chân tay, rồi bị đem bỏ vào trong rừng Thi Đà, gần chỗ của Tỉ kheo ở A luyện nhã. Lúc ấy, có một người già đi xuất gia, đến phiên thầy giữ phòng ốc. Người không có tay chân kia lần hồi lết đến chỗ thầy, nói như sau:

—Thưa thầy! Tôi rất thống khổ không thể chịu nổi, thầy có thuốc gì không, cho tôi một chút, tôi muốn chết cho nhanh?

—Ta không phải là Chiên đà la, là kẻ sát nhân, vì sao lại theo ta xin thuốc?

—Thưa thầy! Không phải vậy; vì tôi đau đớn quá không thể chịu nổi.

Lúc ấy, ông già kia khởi từ tâm, suy nghĩ: “Có trường hợp tương tự như thế, do uống nước tô tì la mà chết”, liền hỏi:

—Ông muốn uống nước tô tì la không?

—Muốn uống!

Thầy bèn đưa nước ấy cho uống. Uống xong, người kia chết liền. Ông già tâm sinh nghi liền đến hỏi Tỉ kheo trưởng lão. Tỉ kheo trưởng lão hỏi:

—Ông dùng tâm gì khi đem cho?

—Tâm từ bi, để cho ông ta toại ý!

—Tuy ông có tâm từ bi, nhưng không có trí tuệ, làm chết người, nên phạm tội Ba la di.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là hai trường hợp nước trái cây.

32. Gạch.

Lúc bấy giờ, tại tinh xá Kỳ Hoàn, thành Xá-vệ, có Tỉ kheo làm phòng, người làm vườn đưa gạch cho thầy. Thầy cầm không chắc bị sút tay rơi nhằm trên đầu người làm vườn, khiến người ấy bị vỡ đầu chết liền tức khắc. Tỉ kheo tâm sinh nghi bèn đến hỏi Tỉ kheo trưởng lão. Tỉ kheo trưởng lão liền hỏi thầy:

—Thầy dùng cái tâm gì khi làm rơi gạch?

—Vì tôi cầm không chắc nên bị rơi.

—Nên cầm cho chắc.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là gạch.

33. Phân rác.

Tại tinh xá Kỳ Hoàn nơi thành Xá-vệ, cứ 5 hôm được quét dọn phân rác một lần. Lúc ấy, có Tỉ kheo trẻ tuổi bưng phân đổ ngoài tường, rủi thay đổ nhằm trên mình một ông già bệnh xuất gia đang đại tiểu tiện tại chỗ ấy, khiến ông không thể đứng dậy nổi. Thầy kia lại tiếp tục đổ phân rác làm cho ông bị chết. Tỉ kheo ấy đổ phân rác bên chân tường chất cao lên, rồi sợ e bọn trộm nương nơi đó leo vào, bèn ra hốt đổ chỗ khác, thì thấy Tỉ kheo kia bị chết, tâm sinh nghi. Thầy bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Tỉ kheo trưởng lão hỏi lại thầy:

—Thầy dùng tâm gì khi đổ phân rác?

—Không xem cẩn thận.

—Nếu không xem cẩn thận mà đổ phân rác thì phạm tội Việt tỳ ni.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là phân rác.

34. Tỉ kheo khất thực.

Sau khi Phật bát Niết-bàn, các Tỉ kheo sống tại tinh xá của dòng họ Thích, nước Ca Duy La Vệ. Bấy giờ, có Tỉ kheo đến giờ khất thực bèn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực. Khi ấy có một cô gái họ Thích đoan chánh, sau khi tắm xong, cô mặc y phục mới, đem thức ăn cúng dường cho Tỉ kheo rồi cúi đầu đảnh lễ dưới chân. Tỉ kheo thấy thế, dục tâm sinh khởi, không kiềm chế được liền bị xuất tinh rơi nhằm trên đầu cô ấy. Nhưng cô không oán trách bèn lấy vạt y chùi đi, rồi nói như sau:

—Thầy được lợi ích rất lớn, lòng dục mạnh như vậy mà vẫn có thể tu phạm hạnh trong giáo pháp của đức Thế Tôn.

Khi ấy, Tỉ kheo tâm sinh nghi bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo hỏi thầy:

—Khi ấy ông dùng tâm gì?

—Tôi thấy thân hình cô ta trước mặt không thể kiềm chế được.

—Nên khéo quán sát sắc tướng mà chế ngự tâm mình.

Như thế là hết phần Tì ni. Đó gọi là khất thực.

35. Uất trù.

Sau khi Phật ban Niết-bàn, các trưởng lão Tỉ kheo ở tinh xá của dòng họ Thích dưới cây Ni Câu Luật, nước Ca Duy La Vệ. Bấy giờ, tôn giả Uất Trù có một người bạn cũ, ông ta có hai đứa con đều khác mẹ. Một đứa, con của bà họ Thích, một đứa con của bà họ khác. Khi ông ta đau nặng sắp từ trần, bèn di chúc tôn giả Uất Trù như sau:

—Thưa thầy! Sau khi tôi qua đời, trong hai đứa con đứa nào hâm mộ Phật pháp, làm hài lòng thầy, xin thầy hãy chỉ kho báu dưới đất cho nó.

Sau khi ông qua đời, đứa con của bà họ Thích rong chơi theo bạn bè xấu ác, không thích Phật pháp, không đến nghe Kinh, không thích tụng đọc. Còn đứa con của bà họ khác thì đi theo bạn lành, ưa thích Phật pháp, đến chỗ Uất Trù tụng đọc Kinh giới, được lòng trưởng lão nên trưởng lão nói:

—Khi cha ngươi từ trần có di chúc ta rằng: “Trong hai đứa con, đứa nào ưa thích Phật pháp thì nên chỉ cái kho báu này”.

Rồi chỉ chỗ kho cho nó. Nhờ vậy, nó được vàng bạc châu báu rất nhiều, gia nghiệp trở nên giàu có sung sướng. Đứa con của bà họ Thích nghe thế bèn thưa với tôn giả A-nan:

—Thưa thầy! Đây là điều bất thiện, không phải tùy thuận. Tôn giả Uất Trù đem tài sản của cha tôi cho đứa con của bà họ khác. Theo gia pháp nhà họ Thích của tôi thì đứa con của bà họ Thích đương nhiên kế thừa sự nghiệp của cha. Những tài vật sở hữu đều phải thuộc về tôi.

A-nan nói:

—Đó là cách phân xử phi pháp. Ta không cùng hưởng chung pháp thực và vị thực với người ấy.

Lúc ấy, La Hầu La đến chỗ Uất Trù, vì hai người này cùng một Hòa Thượng, nên Uất Trù nói với La Hầu La:

—Đừng hưởng chung pháp thực, vị thực với tôn giả A Nan.

—Vì sao vậy?

Uất Trù thuật lại đầy đủ sự việc kể trên, rồi tiếp:

—Tôi không có việc gì mà A-nan không hưởng chung pháp thực vị thực cùng tôi. La Hầu La! Tôi cùng với ông hưởng chung pháp thực, vị thực.

A-nan nghe La Hầu La với Uất Trù cùng hưởng chung pháp thực, vị thực, do đó thầy cũng không hưởng chung pháp thực, vị thực với La Hầu La. Khi có người đưa thức ăn đến cho tôn giả A Nan, A-nan nói:

—Hãy đem đưa cho La Hầu La, con của Thế Tôn.

Cũng thế, khi có người đưa thức ăn đến cho tôn giả La Hầu La, La Hầu La bèn nói:

—Hãy mang đến cho thị giả của Thế Tôn.

Vì vậy, tại nước Ca Duy La Vệ trong bảy năm chư Tăng không bố tát tự tứ.

Bấy giờ tôn giả Ưu-ba-li đang ở trong núi Chi Đề, những người họ Thích bèn đến chỗ tôn giả Ưu-ba-li nói như sau:

—Thưa thầy! Những ông thầy bất thiện, không tùy thuận của tôi đang sống ở đời. Ca Duy La Vệ là sinh quán của đức Thế Tôn, vì sao trong 7 năm mà không bố tát tự tứ? Kính xin tôn giả đến đó hòa giải giúp cho!

Ưu-ba-li liền đến đó, bảo những người họ Thích:

—Hãy trang trí giảng đường, trải tọa cụ đẹp, rải hoa, đốt hương, chuẩn bị cơm đãi Tỉ kheo khách. Trước hết gọi La Hầu La đến, rồi giấu thầy ở một chỗ kín, đồng thời mời tôn giả A-nan tới. Thế rồi, bồng một đứa trẻ con thả ngồi trên đất. Khi tôn giả A-nan ngồi xong, thấy đứa bé dưới đất, nếu thầy bảo “bồng” thì nên nói “không bồng”, mong tôn giả cùng với La Hầu La hòa hợp, thì tôi mới bồng.

Bảo như vậy xong, tôn giả Ưu-ba-li bèn ngồi, đến tôn giả A-nan ngồi, rồi đến các Tỉ kheo theo thứ lớp cùng ngồi. Khi ấy, một người phụ nữ họ Thích bồng một hài nhi tay đang cầm bình sữa uống thả ngồi dưới đất. Đứa bé liền kêu khóc. A-nan thấy thế, lòng sinh thương xót, liền bảo người phụ nữ ấy:

—Hãy bồng đứa bé này lên.

—Không bồng! Nếu tôn giả cùng với La Hầu La hòa hợp thì tôi mới bồng. Nếu không hòa hợp thì tôi không bồng.

—Đây là phép tắc của Sa-môn, không phải việc thế tục của các người, nhưng hãy bồng đứa bé đi đã.

—Không phải như vậy.

Bảo như vậy đến ba lần, họ đều từ khước. A-nan liền bảo gọi La Hầu La đến. Khi thầy đến rồi, tôn giả Ưu-ba-li nói với A-nan:

—Ví như A-nan có đàn việt di chúc như thế này: “Thưa trưởng lão! Sau khi tôi mệnh chung, trưởng lão hãy cho như vậy”, thì có gì là sai lầm. Tôn giả Uất Trù cũng như vậy. Này A-nan! Tại sao vì việc đó mà thầy bất hòa với La Hầu La con của Thế Tôn.

Như vậy là hết phần Tì ni. Đó gọi là Uất Trù.

Tóm lại, trên đây là nguyên tắc giới luật.

CHƯỚNG NGẠI—KHÔNG CHƯỚNG NGẠI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ tôn giả Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà du hành các nước, rồi trở về tinh xá Kỳ Hoàn. Đến giờ khất thực, bèn khoác y vào thành Xá-vệ đến nhà Ưu bà di Hỉ Duyệt. Ưu bà di trông thấy, liền nói:

—Lành thay sư phụ! Vì sao mà ít xuất hiện quá thế?!

Rồi mời ngồi, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua một bên, cùng trò chuyện thăm hỏi. Tỉ kheo nói:

—Ưu bà di! Tôi ít khi đến, bà định đãi tôi món ngon gì đấy?

—Tùy theo thầy dạy, thức ăn trước hay thức ăn sau, hoặc bánh, hoặc thịt, tùy theo thầy cần gì con sẽ dọn nấy. Vậy xin mời tôn giả ngày mai đến nhà con thọ trai, xin đến sớm sớm.

Thế rồi, Tỉ kheo nhận lời mời. Ngày hôm sau, nhà ấy sửa soạn các món ẩm thực, dọn bàn ghế chờ đợi. Song, Tỉ kheo vì bận nhiều việc, quên không đến. Khi đã hết ngày, những thức ăn nào để dành được thì chủ nhà đem cất, còn những thứ không để dành được bèn đem ăn. Đợi như vậy hai ngày, ba ngày vẫn không đến, chủ nhà bèn đem ăn hết. Tới ngày thứ tư, Tỉ kheo mới đến; Ưu bà di thấy thế lòng không vui, liền trách:

—Này sư phụ! Vì sao đã nhận lời mời của con mà không đến?

Các Tỉ kheo nghe thế, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi, Phật liền khiển trách:

—Ưu bà di Hỉ Duyệt này đối với Phật và Tỉ kheo Tăng đều không tiếc rẻ một thứ gì, vì sao lại nhiễu loạn bà ấy? Vì sao ông nhận lời mời một chiều mà không nêu nhân duyên chướng ngại? Những nhân duyên chướng ngại như sau: Nếu có người mời: “Xin tôn giả nhận lời con mời ngày mai ăn bữa ăn trước”, mà mình thấy cần thì nên đáp: “Vâng!”.

Nếu họ nói tiếp: “Xin tôn giả chắc chắn phải đến nhé!”, thì nên nói: “Nếu trong thời gian đó không gặp chướng ngại thì tôi sẽ đến”. Cũng vậy, mời các bữa ăn sau cũng nói như thế.

Nếu Tỉ kheo an cư xong ra đi rồi đàn việt mời: “Mong tôn giả sau này sẽ đến nữa”, mà mình muốn đến nữa, thì nên đáp: “Vâng”.

Nếu đàn việt dặn thêm: “Xin tôn giả phải đến chắc chắn đấy nhé”, thì nên đáp: “Nếu trong thời gian ấy không gặp trở ngại gì thì tôi sẽ đến”.

Nếu họ nói: “Xin thầy hãy lễ tháp”, thì không được đáp: “Nếu trong thời gian ấy không có gì trở ngại.”, mà nên đáp: “Vâng! Tôi sẽ lễ”. Nếu họ nói: “Xin tôn giả hãy vì tôi mà lễ tháp”, thì nên đáp: “Nếu nhớ thì tôi sẽ lễ”.

Nếu họ nói: “Xin tôn giả hãy đảnh lễ trưởng lão Tỉ kheo”, thì không được đáp: “Nếu không có gì trở ngại”, mà nên đáp: “Vâng! Tôi sẽ đảnh lễ”.

Nếu họ nói: “Xin tôn giả hãy vì tôi mà đảnh lễ trưởng lão Tỉ kheo”, thì nên đáp: “Nếu nhớ thì tôi sẽ đảnh lễ”.

Nếu họ nói: “Tôn giả hãy nghe kinh, tụng kinh, trì giới, ngồi thiền”, thì không được đáp: “Nếu trong thời gian ấy không có gì trở ngại thì tôi sẽ tụng kinh”, mà nên nói: “Tôi vì mục đích đó mà xuất gia”.

Nếu họ nói: “Tôn giả hãy học đạo quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán”, thì không được đáp: “Nếu trong thời gian ấy không có gì chướng ngại thì tôi sẽ học”, mà nên nói: “Tôi vì mục đích đó mà xuất gia”.

Trên đây, có việc nên làm mà vì chướng ngại nên không làm, có việc không nên làm mà làm đều phạm tội Việt tỳ ni. Đó gọi là vấn đề chướng ngại, không chướng ngại.

VẤN ĐỀ TỈ-KHEO-NI.

Khi Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, nước Ca Duy La Vệ. Lúc ấy, Đại Ái Đạo Kiều Đàm Di cùng với 500 cô gái họ Thích xin Phật xuất gia, như trong Tuyến Kinh đã nói rõ. Thế rồi, Phật nói với các Tỉ-kheo-ni:

—Từ nay Đại Ái Đạo Kiều Đàm Di là bậc Thượng Tọa của các Tỉ-kheo-ni, nên ghi nhớ như vậy.

Khi ấy, Đại Ái Đạo Kiều Đàm Di bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Thế Tôn chế ra 8 pháp tôn kính cho Tỉ-kheo-ni, chúng con có được phép nghe đầy đủ không?

Phật dạy:

—Được. Tám kỉnh pháp đó là:

1. Kính lễ Tỉ kheo.

—Dù Tỉ-kheo-ni đã 100 tuổi, khi gặp Tỉ kheo mới thọ giới cũng phải đứng dậy đón tiếp cung kính và đảnh lễ. Không được nói: “Đợi tôi đủ 100 tuổi rồi mới hướng đến Tỉ kheo mới thọ giới đảnh lễ”, mà tất cả Tỉ-kheo-ni đều phải hướng đến Tỉ kheo trưởng lão trung niên, niên thiếu, đứng dậy đón tiếp cung kính và đảnh lễ. Khi Tỉ-kheo-ni đến tinh xá của Tỉ kheo thì phải cúi đầu đảnh lễ dưới chân của tất cả Tỉ kheo. Nếu vì già bệnh không thể lễ hết, thì tùy sức mà lễ nhiều ít, những người còn lại thì được lễ tổng quát, nói như sau: “Con là Tỉ-kheo-ni mổ giáp xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân của tất cả chúng Tăng”.

Khi Tỉ kheo đến tinh xá của Tỉ-kheo-ni thì tất cả Tỉ-kheo-ni phải đứng dậy đón tiếp, đảnh lễ dưới chân, cũng như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni phân biệt như sau: Đó là kẻ phạm giới, đó là thầy thuốc, đó là kẻ ngớ ngẩn không biết, với tâm kiêu mạn không cung kính đứng dậy đón tiếp, đảnh lễ thì đó là coi thường pháp cung kính. (Đây là pháp cung kính thứ nhất).

2. Hai năm học giới.

—Nếu người nữ đủ 18 tuổi muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai thì Hòa Thượng ni nên cung cấp những thứ cần thiết xin Ni Tăng giúp đỡ. Trong Ni chúng, người có khả năng làm yết ma nên bạch như sau:

—Xin thánh giả Tăng lắng nghe! Người nữ mổ giáp kia 18 tuổi, muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho mỗ giáp vào Tăng xin hai năm học giới.

Các thánh giả đã bằng lòng cho mỗ giáp vào Tăng xin hai năm học giới vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Bấy giờ, người nữ này vào trong Tăng cúi đầu đảnh lễ dưới chân của từng vị, rồi quì gối chắp tay nói như sau:

—Xin thánh giả Tăng ghi nhớ cho! Con là người nữ mổ giáp đủ 18 tuổi, muốn thọ Cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai. Nay con theo Tăng xin hai năm học giới. Mong thánh giả Tăng thương xót cho con hai năm học giới.

(nói như vậy ba lần)

Vị yết ma của Ni nên nói như sau:

—Xin thánh giả Tăng lắng nghe! Người nữ mỗ giáp kia đã đủ 18 tuổi, theo Tăng xin hai năm học giới. Tăng nay cho mỗ giáp hai năm học giới. Thánh giả nào bằng lòng cho mỗ giáp hai năm học giới với Hòa Thượng ni mỗ giáp thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là lần yết ma thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế)

Tăng đã bằng lòng cho mỗ giáp hai năm học giới xong vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thức xoa ma ni này sau khi xin được hai năm học giới phải tùy thuận làm 18 việc sau đây:

1. Ở dưới tất cả đại Tỉ-kheo-ni.

2. Ở trên tất cả Sa di ni.

3. Việc gì đối với Thức xoa ma ni không thanh tịnh thì đối với đại ni thanh tịnh.

4. Việc gì đối với đại Ni không thanh tịnh, thì đối với Thức xoa ma ni cũng không thanh tịnh.

5. Đại Ni được ngủ ba đêm với Thức xoa ma ni.

6. Thức xoa ma ni được ngủ ba đêm với Sa di ni.

7. Thức xoa ma ni được trao thức ăn cho Đại Ni, ngoại trừ 5 món thực vật được hỏa tịnh, vàng bạc và tiền mặt.

8. Tự bản thân theo Sa di ni nhận thức ăn.

9. Ni không được nói với Thức xoa về tội Ba la di cho đến Việt tỳ ni.

10. Chỉ được nói: không dâm dục; không trộm cắp, không sát sinh, không nói dối. v.v…

11. Thức xoa ma ni đến ngày Bố tát Tự tứ phải vào giữa Tăng quì gối chắp tay, nói như sau:

—Thưa Thánh giả Tăng! Con là mỗ giáp thanh tịnh, xin Tăng ghi nhớ cho.

Nói như vậy ba lần rồi ra đi.

12. Nếu phạm bốn giới Ba la di sau cùng thì phải học lại từ đầu.

13. Nếu phạm 19 giới Tăng già bà thi sa trở về sau thì tùy phạm giới nào sám hối Đột cát la giới đó; Nếu phá năm giới thì tùy theo số ngày vi phạm phải học lại. Năm giới đó là:

14. Ăn phi thời.

15. Cất thức ăn mà ăn.

16. Cầm tiền mặt, vàng bạc.

17. Uống rượu.

18. Mang hương hoa.

Đó gọi là 18 việc.

Thức xoa ma ni này sau hai năm học giới xong, muốn thọ Cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai thì Hòa Thượng Ni phải bạch Tăng xin pháp yết ma nuôi đệ tử. Vị yết ma của Ni nên nói như sau:

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Thức xoa ma ni mỗ giáp đã học giới hai năm, tuổi đủ 20, muốn thọ Cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho phép Hòa Thượng Ni mỗ giáp vào giữa Tăng xin pháp yết ma nuôi đệ tử.

Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp muốn vào giữa Tăng xin pháp yết ma nuôi chúng, Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi, Hòa Thượng Ni nên quì gối chắp tay nói như sau:

—Xin Thánh giả Tăng ghi nhớ cho. Thức xoa ma ni này học giới hai năm đã xong, tuổi đủ 20, muốn thọ Cụ túc. Tôi là mỗ giáp, nay theo Tăng xin pháp yết ma nuôi đệ tử. Kính xin Tăng cho tôi pháp yết ma nuôi đệ tử (nói như vậy ba lần).

Người làm yết ma nên nói như sau:

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Thức xoa ma ni mỗ giáp học giới hai năm đã xong, tuổi đủ 20, muốn thọ Cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai. Ni mỗ giáp đã theo Tăng xin pháp yết ma nuôi đệ tử. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Ni mỗ giáp pháp yết ma nuôi đệ tử. Đây là lời tác bạch.

Thánh giả Tăng xin lắng nghe! Thức xoa ma ni mỗ giáp học giới hai năm đã xong, tuổi đủ 20, muốn thọ Cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai. Ni mỗ giáp đã theo Tăng xin pháp yết ma nuôi đệ tử. Tăng nay cho Ni mỗ giáp pháp yết ma nuôi đệ tử. Các Thánh giả nào bằng lòng cho pháp yết ma nuôi đệ tử thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho Ni mỗ giáp pháp yết ma nuôi đệ tử xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thức xoa ma ni này sau hai năm học giới, tuổi đủ 20, muốn thọ Cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai, phải vào giữa Tăng cúi đầu đảnh lễ dưới chân chúng Tăng. Lễ Tăng xong, trước hết quì gối chắp tay thỉnh Hòa Thượng Ni như sau:

—Xin tôn sư ghi nhớ cho. Con là mỗ giáp cầu xin tôn sư làm Hòa Thượng. Mong tôn sư vì con làm Hòa Thượng cho con thọ Cụ túc. (nói như vậy ba lần).

Thế rồi, Hòa Thượng Ni nên khích lệ để đệ tử sinh tâm hoan hỷ, và đệ tử đáp:

—Con xin cúi đầu thọ lãnh.

Đoạn, Hòa Thượng Ni dạy cách cầu xin y bát, cầu xin chúng Tăng, cầu xin hai vị giới sư, cầu xin vị thầy dạy bảo ở chỗ vắng, rồi giới thiệu với chúng Tăng. Bấy giờ, vị sư yết ma nên hỏi như sau:

—Ở trong đây ai có thể dạy bảo mỗ giáp ở chỗ vắng không?

Người có thể dạy liền đáp:

—Tôi có thể dạy.

Thế rồi sư yết ma nên nói như sau:

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng bằng lòng để mỗ giáp làm Hòa Thượng Ni cho mỗ giáp, mỗ giáp có thể làm người dạy bảo ở chỗ vắng.

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp làm Hòa Thượng Ni cho mỗ giáp, mỗ giáp làm người dạy bảo ở chỗ vắng, vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Vị thầy dạy bảo nên đem người muốn thọ Cụ túc để cách chúng Tăng không gần, không xa, rồi dạy bằng hai cách: hoặc sơ lược, hoặc đầy đủ. Thế nào là dạy sơ lược? Đó là nên hỏi ở giữa chúng Tăng rằng: “Điều gì có thì ngươi phải nói có, điều gì không thì phải nói không”.

Thế nào là dạy đầy đủ? Đó là nên nói: “Thiện nữ hãy lắng nghe! Bây giờ là lúc chí thành, là lúc nói thật. Đối với chư thiên, thế gian, thiên ma, các phạm thiên, Sa-môn, Bà la môn, các vị trời, người đời, A tu la, nếu không nói thật tức là lừa dối họ; đồng thời cũng lừa dối đối với Ni chúng Thanh Văn đệ tử của đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Đó là tội rất nặng. Giờ đây, ta sẽ hỏi ngươi, điều gì có thì nói có, điều gì không thì nói không:

—Cha mẹ, chồng có còn không?

Nếu nói “Còn” thì nên hỏi:

—Cha mẹ và chồng có cho phép không?

—Đã thỉnh cầu Hòa Thượng Ni chưa?

—Năm y và bát có đủ không?

—Học giới hai năm xong chưa?

—Đã làm pháp yết ma nuôi chúng chưa?

—Tên của ngươi là gì?

Đáp:

—Tên là mỗ.

—Hòa Thượng Ni tên là gì?

Đáp:

—Tên mỗ.

—Ngươi không giết cha mẹ đấy chứ?

—Ngươi không giết A la hán đấy chứ?

—Ngươi không phá Tăng đấy chứ?

—Ngươi không có ác tâm làm cho thân Phật ra máu đấy chứ? (Tuy Phật Niết-bàn đã lâu, nhưng đây vẫn giữ theo văn cũ)

—Ngươi không hủy hoại tịnh giới của Tỉ kheo đấy chứ?

—Ngươi không phải là kẻ núp trong chúng để trộm pháp đấy chứ?

—Ngươi không phải là kẻ gian phi đấy chứ?

—Ngươi không tự ý xuất gia đấy chứ?

—Trước đây đã từng thọ Cụ túc chưa?

Nếu nói: “Đã từng thọ” thì nên bảo: “Đi đi! Không được thọ Cụ túc”. Nếu nói chưa thọ thì nên hỏi tiếp:

—Ngươi không phải là nô tì đấy chứ?

—Ngươi không phải là con nuôi đấy chứ?

—Ngươi không mắc nợ người ta đấy chứ?

—Ngươi không phải là vợ của lính đấy chứ?

—Ngươi không phải là kẻ do thám cho nhà vua đấy chứ?

—Ngươi có phải là người nữ không?

—Ngươi không phải là gái đá đấy chứ?

—Ngươi không phải là kẻ lạn đọa (?) đấy chứ?

—Hai đường tiểu và đại không thông nhau đấy chứ?

—Hai đường đó không bị thương tích đấy chứ?

—Ngươi vẫn có nhũ hoa đấy chứ?

—Ngươi không phải chỉ có một nhũ hoa đấy chứ?

—Ngươi không bị bệnh thường ra huyết đấy chứ?

—Ngươi không phải không có máu đấy chứ?

—Ngươi không phải thường ra máu trong một tháng đấy chứ?

—Ngươi chính là người nữ phải không?

—Ngươi có mắc các chứng bệnh sau đây không: ghẻ lở; da vàng; bệnh hủi, ung thư; bệnh trĩ; đái tháo; bệnh hoàng đản; bệnh sốt rét; bệnh suyễn; bệnh gầy ốm; điên cuồng; bệnh nhiệt; bệnh phong thũng; bệnh phù thũng; bệnh cổ trướng; đại loại các chứng bệnh như thế. Ngoài ra trên thân ngươi còn mắc các bệnh khác nữa không?

Đáp:—Không.

Lúc này, giáo thọ sư vào giữa Tăng bạch:

—Tôi đã hỏi mỗ giáp xong, mỗ giáp tự nói mình thanh tịnh, không có các già nạn.

Sư yết ma nên nói như sau:

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Mỗ giáp đã hỏi han, dạy bảo ở chỗ vắng xong. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho mỗ giáp theo Hòa Thượng Ni mỗ giáp vào giữa Tăng.

Các Thánh giả Tăng đã bằng lòng cho mỗ giáp theo Hòa Thượng Ni mỗ giáp vào giữa Tăng vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi, người này vào giữa Tăng cúi đầu đảnh lễ dưới chân của từng vị Tăng, rồi quì gối chắp tay trước giới sư nhận lấy y bát và nói:

—Đây là bát dùng để khất thực, con xin gìn giữ. (nói như vậy ba lần). Đây là Tăng già lê, đây là Uất đa la tăng, đây là An đà hội, đây là y che vai, đây là áo mưa. Đó là 5 y của con. Với 5 y này con sẽ gìn giữ suốt đời không xa lìa. (nói như vậy ba lần).

Bấy giờ, sư yết ma nên nói như sau:

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Mỗ giáp đã hỏi han dạy bảo ở chỗ vắng xong. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho phép giới tử Ni mỗ giáp—theo Hòa Thượng Ni mỗ giáp—vào giữa Tăng xin thọ Cụ túc.

Các Thánh giả đã bằng lòng cho giới tử Ni mỗ giáp—theo Hòa Thượng Ni mỗ giáp—vào giữa Tăng xin thọ Cụ túc, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi sư yết ma nên dạy giới tử cách xin như sau:

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Con là mỗ giáp, theo Hòa Thượng Ni mỗ giáp thọ Cụ túc. Giáo thọ sư đã hỏi han dạy bảo con ở chỗ vắng xong. Con là mỗ giáp—theo Hòa Thượng Ni mỗ giáp—nay theo Tăng xin thọ Cụ túc. Nguyện xin Tăng thương xót cho con thọ Cụ túc. (xin như vậy ba lần).

Sư yết ma nên nói như sau:

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Mỗ giáp đã hỏi han dạy bảo ở chỗ vắng xong. Giờ theo Tăng xin thọ Cụ túc. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho Hòa Thượng Ni mỗ giáp vào giữa Tăng hỏi giới tử về già nạn.

Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp Hòa Thượng Ni—làm Hòa Thượng cho mỗ giáp—muốn vào giữa Tăng hỏi già nạn; vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi Hòa Thượng Ni hỏi giới tử:

—Bây giờ là lúc phải chí thành, là lúc nói thật, (cho đến) có các chứng bệnh như vậy và các chứng bệnh khác nữa trên thân ngươi hay không?

Đáp:—Không có.

Sư yết ma nên nói như sau:

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Mỗ giáp đã hỏi han dạy bảo ở chỗ vắng xong. Đồng thời đã theo Tăng xin thọ Cụ túc. Cha mẹ và chồng đã cho phép; đã cầu Hòa Thượng, năm y và bát có đủ. Người nữ này đã học giới hai năm hoàn thành; đã thực hiện pháp yết ma nuôi chúng; tự nói mình thanh tịnh không có các già nạn. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho Hòa Thượng Ni mỗ giáp—làm Hòa Thượng cho mỗ giáp—vào giữa Tăng nói về ba pháp nương tựa.

Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Hòa Thượng Ni mỗ giáp—làm Hòa Thượng cho mỗ giáp—muốn vào giữa Tăng nói về ba pháp nương tựa, vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Hòa Thượng Ni nói với giới tử:

—Thiện nữ hãy lắng nghe. Vì đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri muốn lợi ích cho chúng Thanh Văn ni nên chính thức chế ra ba pháp nương tựa này. Nếu người nữ thực lòng thiện chí kham nhẫn được thì cho thọ Cụ túc. Nếu không kham nhẫn được thì không cho thọ Cụ túc. Thế nào là ba pháp nương tựa? Đó là:

1. Nương tựa vào y phấn tảo ít việc, dễ được, hợp với thanh tịnh, không có các lỗi. Tỉ-kheo-ni tùy thuận, nhờ vào đó mà xuất gia thọ Cụ túc, được làm Tỉ-kheo-ni. Thế thì ngươi có thể kham nhẫn thọ trì y phấn tảo này suốt đời được không?

Đáp:—Được.

—Nếu được y Khâm bà la, y điệp, y sô ma, y câu xá da, y xá na, y ma, y khu mâu đề (thì hãy thọ trì).

2. Nương vào việc khất thực, ít việc, dễ được, hợp với thanh tịnh, không có các lỗi. Tỉ-kheo-ni tùy thuận, nhờ vào đó mà xuất gia, thọ Cụ túc, được làm Tỉ-kheo-ni. Thế thì ngươi có thể kham nhẫn dùng nó để đi khất thực suốt đời được không?

Đáp:—Được.

—Nếu được bữa ăn nữa tháng, bữa ăn ngày mồng 8, ngày 14, ngày 15, khi tụng giới, khi điểm diện, khi được mời (thì hãy dùng).

3. Nương nhờ thuốc trần khí, ít việc, dễ được hợp với thanh tịnh, không có các lỗi, Tỉ-kheo-ni tùy thuận, nhờ vào đó mà xuất gia thọ Cụ túc, được làm Tỉ-kheo-ni. Thế thì ngươi có thể kham nhẫn suốt đời uống thuốc trần khí được không?

Đáp:—Được.

—Nếu được sữa chua, dầu, mật, đường phèn, sữa tươi và mỡ (thì ngươi hãy dùng).

Vậy nương vào ba thánh chủng trên (ba pháp nương tựa) ngươi hãy tùy thuận mà học.

Thế rồi sư yết ma bạch với Tăng:

—Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Mỗ giáp đã hỏi han, dạy bảo ở chỗ vắng xong. Nay theo Tăng xin thọ Cụ túc. Cha mẹ và chồng đã cho phép. Đã cầu Hòa Thượng Ni. Năm y và bát có đủ. Người nữ này đã hoàn thành hai năm học giới. Đã làm phép yết ma nuôi đệ tử. Tự nói mình thanh tịnh, không bị các già nạn. Đã chấp nhận ba sự nương tựa. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho mỗ giáp thọ Cụ túc với Hòa Thượng Ni là mỗ giáp. Đây là lời tác bạch.

Xin Thánh giả Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Mỗ giáp đã hỏi han dạy bảo ở chỗ vắng xong. Nay theo Tăng xin thọ Cụ túc. Cha mẹ và chồng đã cho phép. Đã cầu Hòa Thượng. Năm y và bát đầy đủ. Người nữ này đã hoàn thành hai năm học giới; đã làm pháp yết ma nuôi đệ tử; tự nói mình thanh tịnh không có các già nạn; đã chấp nhận ba sự nương tựa. Tăng nay cho mỗ giáp thọ Cụ túc, Hòa Thượng ni là mỗ giáp. Các Thánh giả nào bằng lòng cho mỗ giáp thọ Cụ túc, Hòa Thượng ni là mỗ giáp thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho mỗ giáp thọ Cụ túc với Hòa Thượng ni là mỗ giáp xong, vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

Đoạn, quay lại nói với giới tử:

—Thiện nữ hãy lắng nghe! Ngươi đã thọ Cụ túc, một lần bạch, ba lần yết ma, không có các già nạn, trước 10 vị Tăng hòa hợp. Nay ngươi phải kính trọng Phật, kính trọng Pháp, kính trọng Tăng, kính trọng Hòa Thượng, kính trọng A xà lê. Nay ngươi đã gặp cơ hội tốt, thân người khó được, gặp Phật ra đời thật khó, được nghe pháp cũng khó, chúng Tăng hòa hợp, ý nguyện thành tựu cũng khó. Ngươi đã được giới Cụ túc, vậy hãy tùy thuận mà học, giống như hoa vô ưu xa lìa bụi và nước. Ngươi phải nương tựa vào giới pháp mà tu tập thiện pháp Nê hoàn cho được đầy đủ. Đây là bài tựa giới Kinh, 8 Ba la di, 19 Tăng già bà thi sa, 30 Ni tát kỳ Ba-dạ-đề, 141 Ba-dạ-đề, 8 Ba la đề đề xá ni, pháp chúng học, 7 pháp Diệt tránh, pháp tùy thuận. Nay ta chỉ nói tóm lược để dạy bảo ngươi. Sau này Hòa Thượng, A xà lê sẽ dạy ngươi đầy đủ.

Sau khi thọ Cụ túc xong, ngay hôm ấy Hòa Thượng ni phải dẫn giới tử đến chỗ Tỉ kheo Tăng. Rồi, Hòa Thượng ni quì gối chắp tay xin cho giới tử như sau:

—Xin đại đức Tăng ghi nhớ cho! Con đã cho mỗ giáp thọ cụ túc. Nay theo Tăng xin cho mỗ giáp được thọ Cụ túc. Xin Tăng thương xót cho mỗ giáp thọ Cụ túc. (nói như vậy ba lần)

Bấy giờ thầy yết ma nên hỏi (Hòa Thượng ni):

—Trong chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh không có ai ngăn cản phải không?

Nếu không hỏi như vậy thì phạm tội Việt tỳ ni. Thế rồi thầy yết ma phải bạch như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp ni thọ Cụ túc. Trong chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh không có ai ngăn cản. Ni mỗ giáp đã theo Tăng xin thọ Cụ túc. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho mỗ giáp—đệ tử của Hòa Thượng ni mỗ giáp—vào giữa Tăng xin thọ Cụ túc.

Các đại đức đã bằng lòng cho mỗ giáp—đệ tử của Hòa Thượng ni mỗ giáp—vào giữa Tăng xin họ Cụ túc, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Bấy giờ thầy yết ma nên dạy giới tử quì gối chắp tay, xin như sau:

—Xin đại đức Tăng ghi nhớ cho! Con là mỗ giáp theo Hòa Thượng ni mỗ giáp thọ Cụ túc. Trong chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh, không có ai ngăn cản. Con là mỗ giáp, Hòa Thượng ni là mỗ giáp. Nay con theo Tăng xin thọ Cụ túc. Kính mong Tăng thương xót cho con thọ Cụ túc. (nói như vậy ba lần).

Thế rồi, thầy yết ma phải tác bạch như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Trong chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh không có ai ngăn cản, đã theo Tăng xin thọ Cụ túc. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng bằng lòng cho mỗ giáp—đệ tử của Hòa Thượng ni mỗ giáp—thọ Cụ túc, thì tôi sẽ hỏi các già nạn ở giữa chúng Tăng.

Các đại đức đã bằng lòng cho tôi hỏi các già nạn của mỗ giáp—đệ tử của Hòa Thượng ni mỗ giáp—ở giữa chúng Tăng vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thầy yết ma quay sang hỏi giới tử:

—Giờ đây là lúc chí thành, là lúc nói thật, đối với chư thiên, thế gian, thiên ma, phạm thiên, Sa-môn, Bà la môn, các vị trời, người đời, A tu la, nếu không nói thật tức là lừa dối các ngài đồng thời cũng lừa dối hai bộ Tăng của đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Đó là tội lỗi rất nặng. Giờ đây ta sẽ hỏi ngươi ở giữa Tăng, điều gì có thì nói có, điều gì không thì nói không.

—Cha mẹ và chồng có còn không?

(cho đến) trừ chỗ kín của người nữ, ngoài ra phải hỏi hết như trên. Thế rồi thầy yết ma nên bạch như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Trong chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh không có ai ngăn cản; đã theo Tăng xin thọ Cụ túc; cha mẹ và chồng đã cho phép; đã cầu Hòa Thượng; năm y và bát đầy đủ, đã hoàn thành hai năm học giới; đã làm pháp yết ma nuôi chúng; tự nói mình thanh tịnh không có các già nạn. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho phép tôi nói về ba pháp nương tựa cho giới tử mỗ giáp—đệ tử của Hòa Thượng ni mỗ giáp—ở giữa chúng Tăng.

Các đại đức Tăng đã bằng lòng để tôi nói về ba pháp nương tựa cho giới tử mỗ giáp—đệ tử của Hòa Thượng ni mỗ giáp—ở giữa chúng Tăng vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Đoạn, quay lại nói với giới tử:

—Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì muốn lợi ích cho Ni chúng Thanh Văn nên chính thức chế ra ba pháp nương tựa này. Nếu người nữ có tâm ngay thẳng thuần thiện, kham nhẫn thì cho thọ Cụ túc; nếu không kham nhẫn thì không cho thọ Cụ túc. Y phấn tảo ít việc, dễ được, phù hợp thanh tịnh, không có các lỗi, tùy thuận phép tắc của Tỉ-kheo-ni, nhờ vào đó mà xuất gia, thọ Cụ túc, được làm Tỉ-kheo-ni. Thế thì ngươi có thể kham nhẫn thọ trì y phấn tảo suốt đời được không?

Đáp:—Được.

—Nếu được các loại y như: y khâm bà la; y điệp, y sô ma, y câu xá da, y xá na, y ma, y khu mâu đề thì hãy mặc chúng để đi khất thực. Đồng thời nương vào thuốc trần khí như trên đã nói rõ.

Thế rồi, quay lại bạch với Tăng:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc. Đã ở trước chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh không có ai ngăn cản, xin thọ Cụ túc. Cha mẹ và chồng đã cho phép; đã cầu Hòa Thượng; năm y và bát đầy đủ, đã hoàn thành hai năm học giới; đã làm pháp yết ma nuôi chúng, tự nói mình thanh tịnh, không có các già nạn; chấp nhận nương theo ba Thánh chủng. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho mỗ giáp thọ Cụ túc. Hòa Thượng ni là mỗ giáp. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc; đã ở trước chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh không có ai ngăn cản, xin thọ Cụ túc; cha mẹ và chồng đã cho phép; đã cầu Hòa Thượng; năm y và bát đầy đủ; đã hoàn thành hai năm học giới; đã làm pháp yết ma nuôi chúng; tự nói mình thanh tịnh, không có các già nạn; đã chấp nhận nương tựa theo ba Thánh chủng. Tăng nay cho mỗ giáp thọ Cụ túc, Hòa Thượng ni là mỗ giáp. Đại đức nào bằng lòng cho mỗ giáp thọ Cụ túc với Hòa Thượng ni mỗ giáp thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết ma lần thứ nhất (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho mỗ giáp thọ Cụ túc với Hòa Thượng ni mỗ giáp, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Bấy giờ quay lại nói với giới tử:

—Ngươi đã thọ Cụ túc, thọ Cụ túc một cách tốt đẹp, một lần bạch ba lần yết ma, không có ai cản trở, Tăng hòa hợp, hai bộ chúng đều 10 vị trở lên. Nay ngươi phải kính trọng Phật, kính trọng Pháp, kính trọng Tăng, kính trọng Hòa Thượng, kính trọng A xà lê. Ngươi đã gặp được dịp tốt, thân người khó được, Phật ra đời khó gặp, nghe pháp cũng khó, chúng Tăng hòa hợp ý nguyện thành tựu cũng khó. Ngươi hãy đảnh lễ đức Thích Ca Bổn Sư và chúng Thanh Văn. Khi đã được giới cụ túc giống như hoa vô ưu đã xa lìa bụi và nước. Ngươi phải nương vào Giới Luật để tu tập thiện pháp Nê hoàn cho viên mãn.

Khi Phật an trú tại tinh xá có lầu gác ở trong rừng, nơi thành Tì-xá-li; bấy giờ, đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự muốn thọ Cụ túc. Đồng tử Li Xa Am Bà La nghe đệ tử của Pháp Dự muốn thọ Cụ túc bèn suy nghĩ: “Nếu cô gái này làm như thế thì đối với ta không có lợi ích. Hôm nay nếu cô ra khỏi cửa tinh xá thì ta sẽ bắt rồi hủy hoại phạm hạnh, để cô không được thọ Cụ túc”. Tỉ-kheo-ni Pháp Dự nghe thế, bèn đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng sang một bên, rồi bạch Phật như sau:

—Bạch Thế Tôn! Con có đệ tử muốn thọ Cụ túc, nhưng nếu ra khỏi tinh xá thì sợ bị hủy hoại phạm hạnh, không hiểu nó ở đó còn Tăng ở đây cho nó thọ Cụ túc được không?

Phật dạy:

—Được! Trước hết, chúng Tỉ-kheo-ni cho thọ Cụ túc rồi, đi đến giữa Tỉ kheo Tăng cho xin sứ giả thọ Cụ túc.

Thế là, Ni tăng cho thọ Cụ túc xong, Pháp Dự liền đến bạch Tỉ kheo Tăng xin cho sứ giả thọ Cụ túc. Bấy giờ, người làm yết ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự là mỗ giáp muốn thọ Cụ túc, nhưng nếu đến đây thì sợ bị tổn thương phạm hạnh. Nếu thời gian của Tăng đã đến, đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự là mỗ giáp muốn theo Tăng xin cho sứ giả thọ Cụ túc.

Các đại đức đã bằng lòng cho đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự là mỗ giáp xin sứ giả thọ Cụ túc, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi, Hòa Thượng ni phải vào giữa Tăng quỳ gối chắp tay bạch như sau:

—Xin đại đức Tăng ghi nhớ cho! Con là Tỉ-kheo-ni Pháp Dự có đệ tử là mỗ giáp muốn thọ Cụ túc, nhưng nếu đến đây thì sợ tổn thương phạm hạnh. Y thị đã thọ Cụ túc giữa chúng Tỉ-kheo-ni, không có ai ngăn cản. Con là mỗ giáp vì đệ tử mỗ giáp xin sứ giả thọ Cụ túc. Kính mong đại đức Tăng thương tưởng cho sứ giả đệ tử mỗ giáp của con thọ Cụ túc. (nói như vậy ba lần).

Trong Tăng nên làm yết ma cử người có khả năng hoặc hai, hoặc ba người nhưng không được làm yết ma cử nhiều người. Thế rồi, người làm yết ma nên bạch:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự là mỗ giáp muốn thọ Cụ túc, đã thọ Cụ túc ở giữa chúng Tỉ-kheo-ni, không có ai ngăn cản; nếu đến đây sợ tổn thương đến phạm hạnh. Tỉ-kheo-ni Pháp Dự đã vì đệ tử mỗ giáp theo Tăng xin sứ giả thọ Cụ túc. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay làm yết ma cử Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp vì đệ tử của Pháp Dự là mỗ giáp thọ Cụ túc. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe! Đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự là mỗ giáp muốn thọ Cụ túc, đã ở trước chúng Tỉ-kheo-ni thọ Cụ túc, không có ai ngăn cản. Nhưng nếu đến đây sợ tổn thương tới phạm hạnh. Tỉ-kheo-ni Pháp Dự đã vì đệ tử mỗ giáp, theo Tăng xin sứ giả thọ Cụ túc. Tăng nay làm yết ma cử Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp làm sứ giả vì đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự là mỗ giáp thọ Cụ túc. Các đại đức nào bằng lòng làm yết ma cử Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp làm sứ giả vì đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự là mỗ giáp thọ Cụ túc thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết ma lần thứ nhất (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng làm yết ma cử Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp làm sứ giả, vì đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự là mỗ giáp thọ Cụ túc xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Sau khi thọ pháp yết ma xong, Tỉ kheo này phải đi đến tinh xá của Tỉ-kheo-ni ngay hôm đó. Thế rồi, người thọ Cụ túc phải hướng đến sứ giả quì gối chắp tay tác bạch như sau:

—Xin đại đức Tăng ghi nhớ cho! Con là mỗ giáp theo Hòa Thượng ni mỗ giáp thọ Cụ túc, đã thọ Cụ túc ở giữa chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh, không có ai ngăn cản. Nếu rời khỏi đây sợ tổn thương phạm hạnh, nên con phải ở tại đây. Con là mỗ giáp theo Hòa Thượng ni là mỗ giáp, nay theo Tăng xin thọ Cụ túc. Kính mong Tăng thương tưởng cho con thọ Cụ túc. (nói như vậy ba lần).

Thế rồi, Hòa Thượng ni cùng với sứ giả trở lại trong Tăng. Hòa Thượng ni phải quì gối chắp tay bạch như sau:

—Xin đại đức Tăng ghi nhớ cho! Con là Tỉ-kheo-ni Pháp Dự có đệ tử là mỗ giáp muốn thọ Cụ túc, đã thọ Cụ túc ở giữa chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh, không có ai ngăn cản. Nếu đến đây sợ tổn thương phạm hạnh nên phải ở tại đó. Con là Pháp Dự có đệ tử là mỗ giáp, nay theo Tăng xin thọ Cụ túc. Kính mong Tăng thương tưởng cho thọ Cụ túc. (nói như vậy ba lần)

Người làm yết ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ túc, đã thọ Cụ túc ở giữa chúng Tỉ-kheo-ni thanh tịnh, không có ai ngăn cản. Nếu đến đây sợ tổn thương phạm hạnh, nên phải ở tại đó. Hòa Thượng ni mỗ giáp đã theo Tăng xin thọ Cụ túc. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho mỗ giáp thọ Cụ túc với Hòa Thượng ni mỗ giáp. Đây là lời tác bạch.

Sau khi xong một lần bạch, ba lần yết ma, Hòa Thượng ni cùng sứ giả trở lại tinh xá của Tỉ-kheo-ni, nói như sau:

—Thiện nữ hãy lắng nghe! Con đã thọ Cụ túc, một lần bạch, ba lần yết ma, không có ai ngăn cản, hai bộ chúng mỗi bộ từ 10 người trở lên đều hòa hợp, thọ Cụ túc xong con phải tôn kính Tam Bảo. Con đã gặp dịp tốt; thân người khó được; Phật ra đời khó gặp; được nghe pháp cũng khó.

Đó gọi là hai năm học giới, thọ Cụ túc ở trước hai bộ chúng. Đây thuộc về pháp cung kính thứ hai.

3. Nêu tội.

Tỉ-kheo-ni không được nói Tỉ kheo thật có tội hay không thật có tội. Nhưng Tỉ kheo được nói Ni khi thật có tội, song không được nói khi không thật có tội. Ni không được nói:

—Tỉ kheo thầy thuốc, Tỉ kheo phạm giới, Tỉ kheo lẩm cẩm.

Nếu là thân quyến thì được khuyên bảo nhỏ nhẹ nhưng không được trách cứ. Nếu người đó còn nhỏ tuổi thì nên khuyên:

—Nay ông không học đợi đến già mới học sao? Sau này ông sẽ dạy bảo đệ tử, nếu ông không học thì sau này đệ tử sẽ học theo thói xấu của ông. Thế nên, ông phải tùy thuận học Kinh, đọc Kinh.

Nếu Tỉ-kheo-ni nói lỗi của Tỉ kheo rằng: “Tỉ kheo thầy thuốc, Tỉ kheo phạm giới, Tỉ kheo lẩm cẩm”, thì phạm pháp bất kính. Tỉ kheo được nói về lỗi có thật của Tỉ-kheo-ni, nhưng không được khiển trách, nói:

—Mụ già trọc đầu, mụ già dâm đãng, mụ già lẩm cẩm.

Nếu là thân quyến làm điều phi pháp, thì được khuyên bảo:

—Đừng làm việc đó.

Nhưng không được mắng mỏ mà phải khuyên bảo nhỏ nhẹ. Nếu người đó còn nhỏ tuổi, thì nên khuyên:

—Nay cô không học, đợi đến già mới học sao? Sau này cô sẽ dạy bảo đệ tử, nếu cô không học thì sau này đệ tử sẽ noi theo thói xấu của cô. Thế nên, cần phải học Kinh, tụng Kinh.

Nếu Tỉ kheo mắng mỏ Tỉ-kheo-ni rằng: “Mụ già trọc đầu, mụ già dâm đãng, mụ già bất thiện không biết ân nghĩa” thì phạm tội Việt tỳ ni. Đó là Tỉ-kheo-ni không được nói lỗi có thật hay không có thật của Tỉ kheo, nhưng Tỉ kheo được nói lỗi có thật của Tỉ-kheo-ni. Đây là pháp tôn kính thứ ba.

4. Không được nhận phẩm vật trước.

Tỉ-kheo-ni không được nhận thức ăn, phòng xá giường nệm trước Tỉ kheo. Nếu có người mời Tỉ-kheo-ni thọ trai thì nên bảo họ mời các vị tôn túc Tỉ kheo trước. Nếu họ nói: “Đối với họ, con không có lòng tôn kính, con chỉ muốn mời quí Tỉ-kheo-ni mà thôi”, thì nên đáp: “Tôi cũng không nhận”.

Nếu họ nói: “Trước đây con đã từng mời chư Tăng dùng bữa ăn trước, bữa ăn sau rồi, nhưng chưa từng mời quí Ni sư”, thì nên nhận. Chí ít là họ đã cúng cho Tăng một chén cơm, rồi sau đó, Tỉ-kheo-ni nhận các món ăn ngon thì không có tội.

Nếu có người đến nói: “Con muốn làm phòng cho quí Ni sư”, thì nên bảo họ làm cho các bậc tôn túc Tỉ kheo trước.

Nếu họ nói: “Con không có lòng tôn kính đối với họ mà chỉ muốn làm cho Ni sư thôi”, thì nên đáp: “Tôi cũng không nhận”. Nếu họ nói: “Trước đây con đã từng làm phòng xá, giảng đường, nhà tắm, trai đường, nhà ngõ, mái che giếng, cầu tiêu, nhà để rửa chân cho chúng Tăng rồi, nhưng chưa làm cho quí Ni sư”, thì nên nhận. Thậm chí nếu trước đó họ đã làm cho Tăng một cái nhà bếp, thì sau đó Tỉ-kheo-ni nhận phòng lớn không có tội.

Nếu có người đem giường nệm đến cúng dường cho Tỉ-kheo-ni, thì nên bảo họ cúng dường cho các bậc tôn túc Tỉ kheo trước.

Nếu họ nói: “Con không có lòng tôn kính đối với các vị ấy” thì nên nói: “Tôi cũng không nhận”.

Nếu họ nói: “Trước đây con đã từng cúng cho Tỉ kheo Tăng giường nệm, gối chăn, ngọa cụ, mà chưa từng cúng cho chư Ni”, thì được nhận. Thậm chí nếu trước đó họ đã cúng cho Tỉ kheo Tăng một chiếc giường nhỏ, Tỉ-kheo-ni sau đó nhận giường nệm không có tội.

Nếu đàn việt chưa từng cúng trai phạn cho chư Tăng lại cúng giường nệm cho Tỉ-kheo-ni trước mà Ni nhận thì phạm tội bất kính. Đó gọi là Tỉ-kheo-ni không được nhận thức ăn, giường nệm trước chư Tăng. Đến đây hết pháp tôn kính thứ tư.

5. Nửa tháng Ma na đỏa.

Nếu Tỉ-kheo-ni phạm tội bất kính thì phải thực hành Ma na đỏa nửa tháng ở trước hai bộ Tăng. Nếu phạm 19 tội Tăng già bà thi sa thì phải hành Ma na đỏa nửa tháng ở trước hai bộ Tăng. Khi Tỉ-kheo-ni ở trong chúng hành pháp tùy thuận, thì hằng ngày phải bạch hai bộ tăng. Đó gọi là Tỉ-kheo-ni hành pháp Ma na đỏa nửa tháng ở giữa hai bộ Tăng. Pháp tôn kính thứ năm đến đây là hết.

6. Cầu giáo thọ trong dịp Bố tát nửa tháng.

Vào ngày Bố tát, hoặc tất cả Tỉ-kheo-ni, hoặc sai sứ giả đến tinh xá của Tỉ kheo lễ tháp, rồi đến chỗ Tỉ kheo quen biết gởi dục thanh tịnh, nói như sau:

—Tất cả Tỉ-kheo-ni Tăng hòa hợp, đảnh lễ dưới chân Tỉ kheo, xin hỏi về việc Bố tát, thỉnh cầu dạy bảo. (nói như vậy ba lần).

Khi Bố tát, thầy Tỉ kheo tụng giới nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Hôm nay Bố tát, đã qua chừng ấy ngày, còn lại chừng ấy ngày. Đây là việc thường làm của chúng Thanh Văn đệ tử Phật. Các Tỉ kheo hãy thuyết dục thanh tịnh của các đại đức không đến. Thế còn ai nhận dục của Tỉ-kheo-ni?

Người nhận dục của Ni nên đến trước Thượng tọa, trật vai áo bên phải, chắp tay nói như sau:

—Tỉ-kheo-ni Tăng hòa hợp, đảnh lễ dưới chân Tỉ kheo Tăng, gởi dục thanh tịnh, hỏi về việc Bố tát, thỉnh cầu dạy bảo. (nói như vậy ba lần)

Người tụng giới nên hỏi;

—Ai dạy bảo Tỉ-kheo-ni?

Nếu có người đã dạy bảo trước thì người sau nên hỏi:

—Ngày nào đến chỗ Ni? Dạy bảo tại đâu?

Người đã dạy bảo trước nên nói:

—Ngày mỗ đến tại chỗ mỗ.

Nếu không có người dạy bảo, thì khi nhận dục thanh tịnh của Ni, Tỉ kheo nên nói:

—Này chị em! Không có người dạy bảo, phải cẩn thận, chớ buông lung.

Nếu Tỉ kheo nào thành tựu 12 đức tính sau đây thì Tăng nên làm yết ma cử làm người dạy bảo. Đó là:

1. Trì giới.

2. Nghe nhiều không quên.

3. Trì luật rộng hoặc hẹp.

4. Có biện tài khéo nói.

5. Học giới;

6. Học định.

7. Học tuệ.

8. Có thể đoạn trừ ác tà.

9. Phạm hạnh thanh tịnh.

10. Không làm hoen ố tịnh hạnh của Tỉ-kheo-ni.

11. Nhẫn nhục.

12. Đủ 20 tuổi hạ, hoặc nhiều hơn.

Đó gọi là người thành tựu 12 yếu tố, Tăng nên cử làm người dạy bảo Tỉ-kheo-ni. Người làm yết ma nên bạch:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ kheo mỗ giáp thành tựu 12 yếu tố, nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cử Tỉ kheo mỗ giáp đi dạy bảo Tỉ-kheo-ni. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ kheo mỗ giáp thành tựu 12 yếu tố, Tăng nay cử Tỉ kheo mỗ giáp đi dạy bảo Tỉ-kheo-ni. Các đại đức nào bằng lòng cử Tỉ kheo mỗ giáp đi dạy bảo Tỉ-kheo-ni thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Đây là yết ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế)

Tăng đã bằng lòng cử Tỉ kheo mỗ giáp đi dạy bảo Tỉ-kheo-ni xong vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Vị Tỉ kheo nhận pháp yết ma rồi nên đến dạy bảo Tỉ-kheo-ni. Pháp dạyï bảo có 8 trường hợp như sau:

1. Phi thời.

2. Phi xứ.

3. Quá thời.

4. Chưa đến lúc.

5. Không hòa hợp.

6. Quyến thuộc.

7. Thuyết pháp bằng những câu dài.

8. Nghênh đón dạy dỗ.

1. Phi thời: Dạy dỗ từ lúc mặt trời lặn đến khi mặt trời chưa mọc, đó gọi là phi thời. Nếu Tỉ kheo dạy bảo Tỉ-kheo-ni lúc phi thời thì phạm tội Ba-dạ-đề.

2. Phi xứ.: Không được giáo hóa ở chỗ kín đáo, chỗ trống trải mà phải giáo hóa ở chỗ không kín, không trống, như ở giảng đường, dưới gốc cây. Nếu Tỉ kheo giáo hóa Tỉ-kheo-ni ở chỗ không thích hợp thì phạm tội Việt tỳ ni. Đó gọi là phi xứ.

3. Quá thời. Nếu đến ngày 14, ngày 15 mới giáo hóa, đó gọi là quá thời.

4. Chưa đến lúc: Giáo hóa vào ngày mồng một, mồng hai, mồng ba trong tháng, đó gọi là chưa đến lúc. Nên đến giáo hóa từ ngày mồng bốn đến ngày 13. Nếu chưa đến lúc mà đến giáo hóa Tỉ-kheo-ni thì phạm tội Việt tỳ ni. Đó gọi là chưa đến lúc.

5. Không hòa hợp: Khi Tỉ-kheo-ni Tăng không hòa hợp thì không nên giáo hóa, đợi khi họ hòa hợp mới giáo hóa. Người giáo hóa khi đến, nên hỏi:

—Ni Tăng đã hòa hợp chưa?

Nếu họ đáp: “Hòa hợp”, thì nên sai sứ giả gọi Tỉ-kheo-ni đến nghe giáo hóa. Nếu người nào già bệnh đang uống thuốc, hoặc đang lo việc y bát không đến được thì phải gởi dục, nói như sau:

—Tôi là mỗ giáp, gởi dục về việc giáo hóa (nói như vậy ba lần). Nếu Tỉ-kheo-ni Tăng không hòa hợp mà giáo hóa thì phạm tội Việt tỳ ni. Đó gọi là không hòa hợp.

6. Quyến thuộc: Không nên giáo hóa thiên vị mà nên giáo hóa tất cả Ni Tăng khi đã hòa hợp. Đó gọi là quyến thuộc.

7. Nói dài dòng: Như tôn giả Nan-đà giáo hóa Ni dài dòng; chỉ nên nói như sau:

—Chớ làm các việc ác,

Vâng làm các hạnh lành,

Giữ tâm ý trong sạch,

Chư Phật dạy như vậy.

Này các chị em! Đây là những lời dạy bảo ai muốn nghe thì nghe, không muốn nghe thì tùy ý ra đi.

Nếu Tỉ kheo giáo hóa Tỉ-kheo-ni dài dòng thì phạm tội Việt tỳ ni. Đó gọi là thuyết pháp dài dòng.

8. Cách đón rước người giáo hóa: Nếu Tỉ-kheo-ni trú tại thành ấp xóm làng nghe Tỉ kheo đến ngày mỗ tới giáo hóa, nếu không có người cung cấp, thì nên nhờ các Tỉ kheo nhỏ tuổi cầm hương hoa, tràng phan, bảo cái đến đón rước. Nếu như không có thì tùy theo ít nhiều, tối thiểu là chắp tay bày tỏ lòng tôn kính, mang giúp y bát. Đi đón từ một do diên, nửa do diên, hoặc một câu lô xá, nửa câu lô xá, ít nhất là ra ngoài thành ấp xóm làng đón tiếp. Nếu không đón rước thì phạm tội Việt tỳ ni.

Khi đến rồi, nên vận động đàn việt cúng dường bữa ăn trước, bữa ăn sau, nước giải khát phi thời một cách tận tâm, hợp cùng đệ tử chu cấp trong bảy ngày đừng để thiếu thốn.

Nếu không có gì thì lấy bớt y bát thừa của mình đem cúng dường.

Nếu cũng không có nữa thì ít nhất chắp tay biểu lộ sự cung kính.

Khi giáo hóa Ni, hoặc dùng A tì đàm, hoặc Tì ni. A tì đàm là chỉ cho 9 bộ Kinh; Tì ni là chỉ cho Ba la đề mộc xoa (giới bổn) hoặc nói rộng, hoặc nói hẹp. Người giáo hóa khi thấy Ni đến không được cúi đầu đứng im mà nên xem tướng mạo, oai nghi của họ. Nếu thấy họ xức dầu ướt trên đầu, vẽ chân mày, mang y đậm màu chói lọi rực rỡ, buộc dây lưng trắng. v.v…, thì phải khiển trách. Nếu người đó còn trẻ tuổi thì nên nói:

—Này chị em! Nay cô còn trẻ mà không học, đợi đến già mới học sao? Sau này cô sẽ dạy bảo đệ tử, nếu cô không học thì đệ tử sẽ bắt chước thói xấu của cô. Vì thế, cô phải tùy thuận học Kinh, tụng Kinh.

Nếu khi đó có người thế tục thì không được dạy như thế, sợ họ sinh tâm bất thiện, nói rằng:

—Sa-môn dạy bảo vợ.

Nếu trường hợp như thế thì không nên dạy mà nên hỏi các Ni khác:

—Người này là đệ tử đồng hành của ai? Đệ tử y chỉ của ai?

Hỏi xong, nên bảo Hòa Thượng, A xà lê của người ấy dạy bảo khiển trách khiến cho họ tùy thuận tuân hành, đừng làm những việc trái oai nghi.

Khi Tỉ kheo giáo hóa Tỉ-kheo-ni phải xem họ như nữ giới; còn Tỉ-kheo-ni đối với người giáo hóa phải xem như đức Phật. Đó là nửa tháng hỏi thăm việc Bố tát và cầu thỉnh dạy bảo.

Đến đây hết pháp tôn kính thứ sáu.

7. Không nương tựa Tỉ kheo không được an cư.

Nếu thân nhân muốn mời Tỉ-kheo-ni an cư, thì Ni nên bảo đàn việt mời các bậc tôn túc Tỉ kheo trước. Nếu họ nói: “Tôi không có lòng tôn kính các vị ấy mà chỉ muốn mời các Ni”, thì Ni nên nói:

—Tôi cũng không đi.

Nếu vì thân nhân muốn đi, thì nên đích thân mời Tỉ kheo. Đến nơi đó rồi, nên sắp xếp bữa ăn trước, bữa ăn sau, nước giải khát phi thời, y an cư, chớ để thiếu thốn. Nếu thân nhân không cung cấp thì nên lấy những y bát dư của mình ra cung cấp.

Nếu trong lúc an cư mà Tỉ kheo chết, hoặc bỏ tu, hoặc đi nơi khác thì Ni không được bỏ đi.

Nếu trong ba do diên có Tăng già lam thì nên kết giới thông thương rồi mỗi nửa tháng đến hỏi việc Bố tát.

Nếu có các nạn như trên đường đi có bọn giặc cướp khủng bố, sợ mất mạng, thương tổn phạm hạnh thì đến hết ngày an cư nên đến đó Tự tứ. Nếu vẫn còn các hiểm nạn thì nên bảo thân nhân mời các Tỉ kheo đến.

Khi họ đến rồi thì phải cung cấp những nhu yếu như bữa ăn trước, bữa ăn sau và thức uống phi thời, đừng để thiếu thốn. Sau khi Tự tứ xong nên trở về chỗ cũ.

Nếu Tỉ-kheo-ni muốn an cư tại chỗ nào mà nơi đó không có Tỉ kheo thì không được an cư. Nếu cứ ở đó an cư thì phạm pháp bất kính.

Đó gọi là nơi không có Tỉ kheo thì Tỉ-kheo-ni không được an cư.

Đến đây hết pháp tôn kính thứ bảy.

8. Tỉ-kheo-ni an cư xong phải thọ Tự tứ trước hai bộ Tăng.

Tỉ-kheo-ni đến ngày Tự tứ thọ Tự tứ xong, sáng sớm hôm sau, tất cả phải đi đến chỗ Tăng thọ Tự tứ. Trong Ni Tăng nên làm pháp yết ma cử một người có thể thọ Tự tứ. Người làm yết ma nên nói như sau:

—Xin Ni tăng lắng nghe! Tỉ-kheo-ni mỗ giáp có thể vì Ni tăng làm người Tự tứ. Nếu thời giờ của Tăng đã đến, Tăng làm yết ma cử Tỉ-kheo-ni mỗ giáp vì Ni tăng làm người Tự tứ.

Các Ni tăng đã bằng lòng cử Tỉ-kheo-ni mỗ giáp vì Ni tăng làm người Tự tứ xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Khi hai bộ chúng Tỉ-kheo-ni, Tăng đều hòa hợp, thì nên nói như sau:

—Tỉ-kheo-ni hòa hợp với Tỉ kheo Tăng hòa hợp nói Tự tứ: Nếu thấy, nghe, nghi có tội, xin Tăng thương xót nói cho biết. Nếu thấy, nghe, nghi đúng tội, sẽ như pháp trừ diệt. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế). Nếu Tỉ kheo Tăng hòa hợp với nhiều Tỉ-kheo-ni thì nên nói như sau:

—Nhiều Tỉ-kheo-ni và Tỉ kheo Tăng hòa hợp nói việc Tư tứ: Nếu thấy, nghe, nghi có tội, xin Tăng thương xót nói cho tôi biết. Nếu tự biết, thấy (mình có tội) sẽ như pháp diệt trừ (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Nếu Tỉ kheo hòa hợp, một Tỉ-kheo-ni nên nói như sau:

—Con Tỉ-kheo-ni xin nói Tự tứ với Tỉ kheo Tăng hòa hợp: Nếu thấy, nghe, nghi có tội, xin Tăng thương xót nói cho con biết. Nếu tự biết, thấy (mình có tội) con sẽ như pháp diệt trừ (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Nếu nhiều Tỉ kheo, Tỉ-kheo-ni tăng hòa hợp, nên nói như sau:

—Tỉ-kheo-ni tăng hòa hợp, các đại đức nói Tự tứ: Nếu thấy, nghe, nghi có tội, xin các đại đức thương xót nói cho con biết. Nếu biết, thấy, (mình có tội) sẽ như pháp diệt trừ. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế)

Nếu nhiều Tỉ kheo cùng với nhiều Tỉ-kheo-ni thì nên nói như sau:

—Nhiều Tỉ-kheo-ni với các đại đức nói Tự tứ… (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Nếu một Tỉ kheo với một Tỉ-kheo-ni thì nên nói như sau:

—Con Tỉ-kheo-ni trước đại đức xin nói Tự tứ: Nếu thấy, nghe, nghi có tội, xin đại đức thương xót nói cho con biết. Nếu biết, thấy (mình có tội) con sẽ như pháp diệt trừ. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế)

Tỉ-kheo-ni sau khi an cư xong phải thọ Tự tứ ở giữa hai bộ chúng như vậy. Nếu Tỉ-kheo-ni ngày 16 không đến chỗ Tỉ kheo Tăng thọ Tự tứ, đến ngày 17 mới tới thọ Tự tứ thì phạm tội bất kính.

Đó gọi là pháp tôn kính thứ 8 của Tỉ-kheo-ni.

Hết quyển thứ ba mươi.

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 9.

NẤU ĂN Ở CHỖ NGỦ VÀ TỰ NẤU ĂN.

Khi Phật an trú tại tinh xá Khoáng Dã được Chư Thiên và người đời cúng dường. Bấy giờ, nhà bếp được làm trong Tăng viện, nước vo gạo và nước bẩn rửa chén chảy ra ngoài đường hẻm, bị người đời chê trách:

—Vì sao chỗ ở và nhà bếp của Sa-môn Thích tử không cách biệt nhau?

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo:

—Các ông thật đáng bị người đời chê trách. Từ nay Ta không cho phép làm nhà bếp ở trong chỗ ở để rồi nước vo gạo chảy ra bên ngoài. Phép làm nhà bếp không nên làm ở phương Đông, phương Bắc mà nên làm tại phương Nam, phương Tây. Nếu Tỉ-kheo làm nhà bếp ở bên trong, để cho nước vo gạo chảy ra bên ngoài thì phạm tội Việt tỳ ni.

Lại nữa, khi Phật du hành tại nước Câu Tát La, đến thôn Bà la môn Ha Đế, như sự kiện cháo ở trên đã nói rõ, cho đến Phật không cho phép nấu ăn ở tại chỗ ngủ.

Lại nữa, khi Phật du hành nước Câu tát la đến thôn Bà la môn Cố Thạch. Khi ấy có một ông già hớt tóc cả hai cha con xuất gia, nghe Phật đến định nấu cháo, như sự kiện cháo ở trên đã nói rõ, cho đến Phật không cho phép nấu ăn nơi chỗ ngủ và tự nấu ăn.

Lại nữa, khi Phật du hành đến nước Ương Cầu Đa La. Lúc ấy Phạm chí Chi Ni Da Loa Kế nghe Thế Tôn đến, bèn làm phòng Tăng, nhà bếp, rồi sai người đến mời Phật. Phật bèn bảo Ưu-ba-li:

—Ông hãy đến sớm nơi đó nhận lấy nhà nấu ăn cho Tăng, chớ để quá lúc đầu đêm, nếu để quá tức gọi là chỗ ở của Tăng, không được dùng làm nhà bếp.

Khi ấy, Ưu-ba-li bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Được làm nhà bếp có mái lợp riêng biệt ra không?

—Được.

—Bạch Thế Tôn! Hợp chung hai phòng có mái lợp riêng được không?

—Được.

—Hợp chung hai phòng cùng một mái lợp được không?

—Được.

—Được dùng hai chỗ riêng có mái lợp riêng được không?

—Được.

—Được dùng một bên, hai bên, ba bên, tất cả đều riêng được không?

—Được.

—Cách con đường được không?

—Được.

—Dùng trên gác, dưới gác làm được không?

—Được. Hoặc gốc cây ở tịnh địa, còn cành lá ở chỗ đất bất tịnh; hoặc gốc cây ở chỗ đất bất tịnh, còn cành lá ở chỗ tịnh địa; hoặc gốc cây và cành lá đều ở chỗ đất bất tịnh; hoặc gốc cây và cành lá đều ở chỗ tịnh địa.

Một chỗ được lợp riêng biệt: Tăng được dùng chỗ này làm nhà bếp, như vậy cho đến phòng riêng biệt được lợp riêng biệt, Tăng đều được dùng làm nhà bếp. Cũng như một bên, hai bên, ba bên, tất cả đều được làm nhà bếp.

Cách con đường: Hai bên đường thanh tịnh (hợp lệ), ở giữa không thanh tịnh, nếu để bình sữa.v.v… ở giữa đường, nên xoi thủng hai đầu để sữa chảy vào tịnh địa (chỗ hợp lệ) thì được phép lấy dùng. Nếu cái bao đựng lúa, bột, đậu để ngay giữa đường thì được mở hai đầu để lấy. Nếu cải, hành, mía để ở giữa đường thì được cắt lấy dùng, vẫn hợp lệ.

Trên gác, dưới gác: Trên gác và dưới gác đều được dùng làm nhà bếp.

Gốc cây ở tịnh địa, cành lá ở chỗ bất tịnh: Nếu gốc cây mọc ở tịnh địa, còn cành lá ở chỗ bất tịnh, mà trái rụng xuống đất, thì ngay khi ấy nên lấy đem cất vào trong nhà bếp. Nếu không lấy để qua khỏi đầu đêm thì thành ra bất tịnh. (không hợp lệ).

Gốc cây ở chỗ đất bất tịnh, cành lá ở chỗ đất thanh tịnh: Cây mọc ở chỗ đất bất tịnh, cành lá phủ ra chỗ đất thanh tịnh, nếu quả rơi xuống đất tức là thanh tịnh, tùy lúc muốn lấy cứ lấy.

Cả hai đều không thanh tịnh: Cây mọc ở chỗ đất bất tịnh, cành lá cũng phủ ra chỗ đất bất tịnh, khi quả rơi nên nhặt đem cất vào trong nhà bếp. Nếu không lấy ngay khi ấy để qua khỏi đầu đêm, tức là không thanh tịnh.

Cả hai đều thanh tịnh: Cây mọc ở chỗ đất thanh tịnh, cành lá cũng phủ ra chỗ đất thanh tịnh, khi quả rơi tức là thanh tịnh, tùy lúc muốn lấy thì lấy. Đó gọi là cả hai đều thanh tịnh.

Củ cải, hành, rau mọc ở chỗ đất không thanh tịnh, nếu muốn hái nên hái đúng lúc rồi đem cất vào trong nhà bếp; nếu không hái đúng lúc để qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh.

Nếu bọn trộm đến hái trộm rau quả, bị phát giác, chúng hoảng sợ bỏ rau quả chạy thoát thân mà ta cần thì lấy liền rồi đem cất trong nhà bếp. Nếu nói rằng để sáng mai mới lấy, thì đến khi qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh. Nếu không hay khi chúng bỏ lại, hoặc sớm hoặc muộn mới trông thấy, thì nên lấy đem cất trong nhà bếp. Nếu không lấy để qua quá đầu đêm, tức là không thanh tịnh.

Nếu dưa, bầu mọc ở chỗ đất bất tịnh, thì khi hái nên đem cất vào trong nhà bếp. Nếu không đem cất để qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh.

Tại trú xứ của Tăng nếu có đàn việt đem cho thóc, mà thóc bị đổ ra chỗ đất bất tịnh, thì nên hốt ngay khi ấy rồi đem cất vào trong nhà bếp. Nếu không hốt để qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh.

Nếu bạch y đem bánh bún, lương khô đến tinh xá xin ở lại trong đêm; đến sáng hôm sau khi ra đi, đem cho Tỉ-kheo, tức là thanh tịnh. Nếu Tỉ-kheo suy nghĩ rằng: “Ngày mai khi họ đi, ắt hẳn sẽ đem cho ta”, thì khi họ đem cho được xem là không thanh tịnh. Nếu họ đem rau quả đến xin ở lại cũng vậy. Nếu họ chở lúa gạo đến, cất đầy kho nhà bếp, số còn lại hoặc để trong giảng đường, trong nhà sưởi, trong nhà che giếng, trong nhà chất củi ở ngoài sân, nếu là chỗ đất bất tịnh, thì đầu, giữa, cuối đêm tùy lúc đổâ xong dời đi liền. Nếu không dời đi, để qua khỏi đầu đêm, tức là không thanh tịnh.

Nếu muốn xây dựng chỗ ở mới thì Tỉ-kheo doanh sự nên dùng dây đo đạt rồi qui định rằng chỗ ấy làm nhà bếp cho Tăng, chỗ ấy làm nơi ở cho Tăng, nên nói như sau: “Trong đây, chỗ này làm nhà bếp cho Tăng”, rồi sử dụng. Nếu không sử dụng để qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh. Tùy theo mức độ cần thiết mà qui định nhà bếp; khi qui định nhà bếp xong rồi mới qui định chỗ ở, phòng sưởi, giảng đường, nhà ngõ, nhà tắm, nhà để củi, nhà che giếng.

Nếu đàn việt nói:

—Không nên qui định trước, nên đợi khi làm xong, thiết lễ trai phạn cho Tăng, rồi Tăng tùy ý mà qui định”, thì khi làm xong, Tăng nên nói như sau: “Tăng dùng gác dưới, gác giữa và gác trên làm nhà bếp (khi đã qui định rồi tức thành nhà bếp đồng thời ở cũng được)”. Nếu vẫn chưa sử dụng, thì khi trong nước loạn lạc, hoặc vua chưa lên ngôi sử dụng cũng được. Hoặc là lúc vị vua cũ băng hà, vị vua mới chưa lên ngôi sử dụng cũng được. Nếu vẫn chưa sử dụng mà trú xứ xóm làng bị hoang phế đến hai năm sử dụng cũng được. Ở đây, hoặc xóm làng hoang phế, không phải trú xứ bị hoang phế, hoặc trú xứ hoang phế, không phải xóm làng hoang phế, hoặc xóm làng hoang phế, trú xứ cũng hoang phế; hoặc không phải xóm làng hoang phế, không phải trú xứ hoang phế. Nếu có những thức ăn được cất ở đây mà không qui định tức là không thanh tịnh.

Đó gọi là nấu ăn ngay chỗ ngủ.

Tự nấu ăn: Tỉ-kheo không được tự nấu ăn. Nếu bệnh thì nên sai tịnh nhân nấu, nếu không có tịnh nhân mà có nồi đồng sạch không dính dầu mỡ thì nên rửa sạch, rồi tự đốt lửa đun sôi, đoạn, bảo tịnh nhân bỏ gạo vào. Sau khi đã bỏ gạo vào, Tỉ-kheo không được tự chụm lửa mà nên sai tịnh nhân chụm. Đến khi nồi sôi mà tịnh nhân muốn đi đâu, thì Tỉ-kheo được tiếp tục chụm cho chín, song, phải cẩn thận đừng để những vật không cần dùng rơi vào trong đó. Khi nấu thịt cho săn lại, nấu rau cho sầu đi cũng như vậy; khi đã nhận được rồi có thể tự nấu cho chín. Sau cùng, khi nấu nước gừng cũng không được tự nấu mà phải bảo tịnh nhân nấu. Nếu khất thực, thức ăn bị nguội thì được hâm lại cho nóng, không có tội. Nếu tịnh nhân bị ốm thì nên sai tịnh nhân khác nấu cháo đưa cho. Nếu không có tịnh nhân thì khi vo gạo sạch rồi được tự nấu. Nếu có cháo để dành, không được đem ăn.

Đó gọi là nấu ăn tại chỗ ngủ và tự nấu ăn.

NHẬN THỊT SỐNG.

Khi Phật ở nơi khoáng dã, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo cầm thịt khúc, cá sống, bị người đời chê trách rằng:

—Vì sao Sa-môn không chịu đi khất thực lại cầm thịt khúc, cá sống mà đi? Đây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì?

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm sáu Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

—Các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Này các Tỉ-kheo! Từ nay về sau, ta không cho phép nhận thịt sống. Nếu Tỉ-kheo bị bệnh thì được sai tịnh nhân nấu thịt cho săn lại, rồi nhận lấy, đoạn tiếp tục nấu cho đến khi chín. Nếu Tỉ-kheo đi kinh hành, ngồi thiền trong rừng, rồi thấy dưới gốc cây có thịt con chương, con nai còn sót lại, khi ấy, mình thấy cần, thì không được lấy mà nên báo cho tịnh nhân biết. Nếu mình tự lấy thì không được tự ăn, mà nên cho người làm vườn hoặc là Sa di. Nếu thấy thịt do chim ưng để lại cũng như vậy. Tỉ-kheo khi đi khất thực, nếu được thịt khô đã nướng chín thì được nhận lấy. Có loài chúng sinh tên Câu Da không có ruột, nuốt thịt cục vào rồi nhả ra, nếu cần thì Tỉ-kheo được phép lấy. Nhưng không được lấy thóc sống như các loại: thóc gạo trắng, thóc gạo đỏ, đại mạch, tiểu mạch; tất cả đều không được lấy. Nếu trên thân sinh ung nhọt, sảy, cần tiểu mạch để bôi, thì nên sai tịnh nhân đem rửa sạch, rồi tự tay mình lấy đi nghiền nát để bôi lên mụt nhọt, nhưng không được phép ăn. Nếu trong nhà bếp có lúa tẻ, lúa mạch đã xay rồi mà Tỉ-kheo thấy cần thì được phép lấy, nhưng không được ăn. Nếu đậu mông cụ, đậu ma sa, đậu lớn, đậu nhỏ, các loại tương tự như thế, khi Tỉ-kheo thấy cần thì được dùng.

Đó gọi là nhận (thịt sống) và thóc.

TỰ LẤY RỒI LÀM SẠCH VỎ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, vua Ba Tư Nặc có vườn Am Bạt La ra trái sum xuê. Vua hỏi người giữ vườn:

—Các Tỉ-kheo có thường đến ăn trái cây không?

—Đại vương không mời thì làm sao mà đến ăn?

—Ngươi hãy đến mời các Tỉ-kheo đến ăn trái cây.

Người giữ vườn liền đến chỗ các Tỉ-kheo, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, quì gối, chắp tay bạch rằng:

—Đức vua mời chư Tăng đến ăn trái cây.

Các Tỉ-kheo bèn đi đến vườn ấy ăn trái cây, lớp ăn lớp bỏ ngổn ngang dưới đất, lại còn lấy đem về. Vì vậy người giữ vườn không thể dâng trái cây cho vua, vua hỏi:

—Vì sao ngươi không đưa trái cây đến?

Người giữ vườn bèn đem sự việc trên tâu đầy đủ lên nhà vua. Vua nghe thế trong lòng không vui, bèn trách:

—Các Tỉ-kheo chỉ nên ăn trái cây, vì sao hái vứt xuống đất lại còn đem cho người khác?

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật bèn hỏi lại đầy đủ sự việc trên:

—Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Ông chỉ cần ăn quả, vì sao lại hái vứt xuống đất rồi mang về để làm gì?

—Bạch Thế Tôn! Con đem về cất để ăn.

—Vì sao ông lại lấy về đem cất để mà ăn? Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn trái cây Am Bạt La.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá trong vườn Am Bạt La của đồng tử Kỳ Cựu. Lúc ấy, đồng tử Kỳ Cựu hỏi người làm vườn:

—Các Tỉ-kheo có ăn trái cây Am Bạt La không?

—Đức Thế Tôn không cho phép.

Đồng tử Kỳ Cựu nghe thế đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng hầu một bên, bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Am Bạt La là trái cây đương mùa, xin Thế Tôn cho phép các Tỉ-kheo được ăn nó.

—Từ nay Ta cho phép được làm sạch vỏ trái cây rồi ăn.

Các Tỉ-kheo bèn sai tịnh nhân gọt sạch vỏ trái cây mà ăn, bị tịnh nhân oán trách:

—Ăn luôn cả vỏ cũng được, vì sao lại sai ta gọt sạch vỏ làm chi?

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Không cần phải gọt hết vỏ, chỉ cần dùng móng tay cạo sạch vỏ rồi ăn; nhưng không được tự lấy rồi ăn, mà trước hết nên sai tịnh nhân dùng móng tay cạo sạch rồi mới ăn.

Nếu Tỉ-kheo đang đi trong vườn cây, thấy trái rơi xuống đất, mà mình cần, thì nên sai tịnh nhân lấy.

Nếu tự lấy thì không được tự ăn, mà nên cho người làm vườn, hoặc Sa di. Nếu trái cây chín, rơi xuống đất vỡ ra, thì được xem là đã làm sạch vỏ, có thể lấy cạy hạt ra rồi ăn.

Nếu trái cây bị chim mổ, hoặc bị đụng nhằm vật gì mà nứt ra, dù nhỏ như dấu chân muỗi, thì được xem là đã làm sạch vỏ, được phép cạy hạt bỏ rồi ăn.

Nếu muốn ăn hạt, phải đem rang chín thì được phép ăn.

Nếu lột vỏ sạch, không rang chín mà ăn cả hạt, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu rang chín, không lột vỏ sạch, thì được phép ăn cả vỏ và hạt.

Nếu không rang chín, không lột vỏ sạch mà ăn, thì phạm một tội Ba-dạ-đề, một tội Việt tỳ ni.

Nếu làm cả hai việc thì không có tội. Đó gọi là tự lấy rồi làm sạch vỏ để ăn.

Kệ tóm tắt:

Tì ni, xử đoán việc,
Chướng ngại, chẳng chướng ngại
Tỉ-kheo ni, tự nấu,
Nấu ăn nơi chỗ ngủ.
Nhận thịt sống và thóc,
Tự lấy, sau đem dùng
Gọt vỏ và rang chín,
Kết thúc phẩm thứ sáu.

VẬT NẶNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo đem bán giường nệm của chúng Tăng, hoặc cho người khác mượn, hoặc đem về dùng riêng. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật hỏi:

—Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Từ nay Ta không cho phép Tỉ-kheo đem bán giường nệm của Tăng, hoặc cho người mượn, hoặc lấy dùng riêng. Nếu khi Tăng tập họp tất cả cũng không được phép bán, cho người mượn, hoặc đem dùng riêng. Nếu ai đem bán, cho người mượn hay dùng riêng thì phạm tội Việt tỳ ni.

Thế nào gọi là vật nặng?—Chẳng hạn như giường nệm, đồ bằng sắt, đồ sành, đồ gỗ, đồ bằng tre, như trong giới ăn trộm đã nói rõ. Đó gọi là những vật nặng.

Nếu đàn việt đem cúng dường cho Tăng giường nệm, câu chấp, thảm, gối xếp, đai thắt lưng, dao con, muổng, lọng, quạt, giày da, ống đựng kim, nhiếp cắt móng tay, bình tưới nước thì trong số này các vật nặng như giường nệm, câu chấp, thắt lưng, gối xếp, thảm nên nhập vào vật của Tăng tứ phương, ngoài ra những vật nhẹ khác đem chia. Nếu đàn việt nói: “Nên đem chia tất cả”, thì theo ý của đàn việt đem chia. Nếu họ nói: “Tất cả đều cúng dường cho Tăng tứ phương”, thì không được chia.

Nếu trong lúc Tỉ-kheo đang đi trên đường, rồi người thế tục trông thấy sinh tâm hoan hỷ, đem các vật linh tinh bố thí cho Tỉ-kheo, mà trong đó có những vật nặng, thì nên đem cho tinh xá nào ở gần đường bằng cách bảo đàn việt mang các giường nệm ấy cho Tỉ-kheo ở tinh xá mỗ. Nếu họ nói: “Tôi đã quyết ý bố thí cho thầy, còn hỏi tôi làm chi nữa?”, thì Tỉ-kheo nói: “Cũng có thể để ở đây cung cấp cho khách Tăng sẽ được nhiều công đức”. Họ nói: “Không thể được! Tôi đã quyết ý rồi”, thì nên nói: “Này lão trượng! Đây là vật nặng khó mà đem đi, có thể bán ở đây rồi lấy tiền đến đó mua cái khác được không?”. Nếu đáp: “Tùy ý tôn giả!”, thì được bán lấy tiền mang đến đó, hễ tiền giường thì mua giường, tiền nệm thì mua nệm; cũng thế, tất cả mọi thứ khác tùy nghi mà bán rồi mua. Nếu họ nói: “Tất cả đều chia”, thì phải tùy theo ý thí chủ mà chia. Nếu họ nói: “Tất cả đều bố thí cho Tăng tứ phương”, thì không nên chia.

Khi thí chủ mời có hai trường hợp:

—Một là theo thứ lớp của Tăng.

—Hai là mời riêng cá nhân.

Nếu nơi nào Tăng được các phẩm vật bố thí theo thứ tự của Tăng, thì phải nhập vào cho Tăng. Nếu họ mời riêng mà nhận được vật, thì được phép dùng riêng. Nếu giường nệm nhiều mà nồi chảo ít thì nên nói cho đàn việt biết, rồi bán bớt giường nệm mua nồi chảo; hoặc nồi chảo nhiều thì đem bán bớt để mua giường nệm, cũng như vậy. Nếu có đồ đựng bằng kim loại bị vỡ bể thì được đem nấu chảy đúc cái mới lớn hơn. Đó gọi là những vật nặng.

VẬT VÔ THƯỜNG (CỦA NGƯỜI CHẾT).

Khi Phật an trú tại Khoáng Dã thì tôn giả A Nhã Kiều Trần Như đang ở tại Cự Ma Đế. Đến giờ khất thực, Kiều Trần Như khoác y, cầm bát vào thôn khất thực. Khi đã được thức ăn, thầy bèn đến nhà một người chăn nuôi, chồng tên là Cừ Ni, vợ tên là Thi Bà Li để thọ trai. Bà vợ có lòng tin hoan hỷ, thường cung cấp sữa tươi, sữa chua, sữa đóng váng cho thầy. Khi uống xong thầy liền trở về trú xứ, rồi suy nghĩ: “Dùng cái khí cụ (cái thân) thống khổ này sống lâu ở đời để làm gì? Ta chán ngán thân này quá”. Thế rồi, thầy đem y bát để tại một chỗ dưới gốc cây trong rừng, nằm gối đầu trên một hòn đá tròn hình con voi, nghiêng về hông bên phải, tâm bất loạn, nhập Vô Dư Niết-bàn. Thi Bà Li biết thời giờ thầy sắp đến, bèn dọn giường ghế, quét tước, bày biện sữa nước ra bàn chờ đợi. Thế nhưng, đã quá giờ mà không thấy đến, Thi Bà Li suy nghĩ: “Sư phụ ngày nào cũng đến, bữa nay vì sao không đến? Hay là bị ốm chăng? Hoặc là bị ác trùng sát hại?”. Đoạn, bà liền đến xem thì thấy thầy đang nằm dưới gốc cây, suy nghĩ: “Sư phụ vẫn còn đang ngủ”, rồi đứng im lặng lắng nghe. Nhưng không nghe hơi thở, bà dùng tay đặt nơi trái tim thì thấy thân thể đã lạnh ngắt, liền thầm nhủ: “Kỳ thay! Đã qua đời rồi, ta phải cúng dường xá lợi!”. Nghĩ thế, bà trở về nhà bảo chồng lấy búa chặt những cây củi tốt chất thành đóng rồi hỏa thiêu nhục thân của thầy. Thế rồi, họ đứng một bên nhìn xem, thì thấy có bốn con chim nhiều màu sắc khác thường từ bốn phương bay đến. Thân chim bỗng dưng biến thành màu trắng rồi bay đi. Lúc ấy, người chồng là Cừ Ni đứng đó tỏ vẻ đau khổ, không vui, suy nghĩ như sau: “Y bát của Tỉ-kheo này phải đem nạp cho vua vì phép vua rất khó, sợ rằng sẽ đòi những thứ khác nữa”. Đoạn, ông mang y bát đi đến nhà vua, tâu:

—Y bát này là của Tỉ-kheo Kiều Trần Như đã qua đời, tôi xin nạp cho đại vương!

Vua bèn định giá y bát ấy là năm tiền. Viên quan đoán sự nói:

—Vị Sa-môn này đã qua đời, y bát nên đưa về cho Tỉ-kheo.

Thế là người ấy mang về bạch với Tăng:

—Tôn giả A Nhã Kiều Trần Như đã qua đời có y bát này còn để lại.

Các Tỉ-kheo thấy thế biết là y bát của thầy, liền hỏi:

—Ông có thấy điều gì khác nữa không?

—Có thấy! Khi tôi hỏa thiêu, thấy bốn con chim có nhiều màu sắc khác thường…

Bấy giờ, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, rồi hỏi Ngài:

—Việc ấy là thế nào, bạch Thế Tôn!

—Đó là bốn thiên ma muốn đến xem thần thức, nhưng không thấy nên họ hóa thành màu trắng mà bay đi.

—Y bát này nên thuộc về ai, bạch Thế Tôn!

—Đương nhiên thuộc về Tăng.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có thầy Tỉ-kheo bệnh nói với vị Tỉ-kheo khác:

—Trưởng lão chăm sóc giúp tôi, tôi sẽ cho trưởng lão y bát.

Thế rồi, thầy Tỉ-kheo bệnh qua đời, các Tỉ-kheo tập họp định chia y bát của thầy thì vị Tỉ-kheo nuôi bệnh liền nói:

—Thầy Tỉ-kheo bệnh này lúc còn sống nói với tôi rằng: “Hãy chăm sóc giúp tôi, tôi sẽ cho thầy y bát”.

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền hỏi:

—Đã cho chưa?

—Chưa cho, bạch Thế Tôn!

—Chưa cho mà đã qua đời, phạm tội Việt tỳ ni. Còn người nuôi bệnh đương nhiên không được lấy.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có thầy Tỉ-kheo bệnh nói với vị Tỉ-kheo khác: “Hãy chăm sóc giúp tôi, tôi sẽ cho trưởng lão y bát”, bèn cho y bát. Khi được rồi, vị ấy chưa tác tịnh mà đem để lại bên cạnh người bệnh. Thế rồi, Tỉ-kheo bệnh qua đời; đoạn các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, rồi hỏi:

—Việc ấy phải làm thế nào, bạch Thế Tôn!

—Đã tác tịnh hay chưa?

—Chưa, bạch Thế Tôn!

—Người kia không được nhận!

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, có Tỉ-kheo bệnh nói với Tỉ-kheo khác:

—Hãy chăm sóc giúp tôi, tôi sẽ cho trưởng lão y bát.

Thầy liền lấy cho. Khi được rồi, vị ấy tác tịnh, rồi đem để lại bên cạnh Tỉ-kheo bệnh, cho đến Phật hỏi:

—Đã tác tịnh chưa?

—Tác tịnh rồi, bạch Thế Tôn!

—Người ấy đáng được nhận.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, có Sa di qua đời, các Tỉ-kheo bèn hỏi Phật:

—Các y bát vật dụng này thuộc về ai bạch Thế Tôn!

—Thuộc về Hòa Thượng.

Lại có trường hợp Tỉ-kheo nuôi bệnh thốt lời oán hận như sau:

—Tôi nuôi bệnh bất kể nóng lạnh, làm bao việc cực nhọc, đi tìm xin thuốc thang cho đến việc đi đổ bô đại tiểu, sự thật là như vậy thì ai đáng nhận được, chẳng lẽ chúng Tăng được sao?

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Tỉ-kheo nuôi bệnh kham khổ, nên cho ba y, bát, bồn chứa và những thuốc men còn lại.

Bấy giờ, tôn giả Ưu-ba-li biết đúng lúc, hỏi Phật:

—Bạch Thế Tôn! Tỉ-kheo bệnh được di chúc vật cho người khác không?

—Được.

—Được di chúc cho thuốc men không?

—Được. Hoặc di chúc rằng: “Nếu không khỏi bệnh thì tôi sẽ cho, nếu bệnh qua khỏi thì không cho”. Hoặc di chúc: “Tôi đi đến thôn xóm ấy, nếu đi không tới thì sẽ cho. Nếu đi đến đó tức là khỏi cho”.

Hoặc di chúc: “Tôi ra đi lần này nếu mà qua đời thì sẽ cho, nếu trở về thì khỏi cho”.

Hoặc di chúc dứt khoát: “Dù sống hay chết thì lòng tôi cũng đã dứt khoát cho”, thì nên cho. Nếu di chúc cho nhiều người thì người sau cùng sẽ được.

Nếu cho nhiều người thì người hiện diện sẽ được.

Khi Tỉ-kheo qua đời hay nhập Niết-bàn, không nên đóng cửa liền. Nếu vị ấy có đệ tử đồng hành, đệ tử y chỉ trì giới, đáng tin thì nên giao ổ khóa cho họ. Nếu họ không đáng tin thì nên giao ổ khóa cho thầy tri sự, đợi đến khi cúng dường xá lợi, lo việc ma chay xong mới đem y vật của vị ấy ra. Nếu đệ tử đồng hành, đệ tử y chỉ của vị ấy trì giới, đáng tin, thì nên bảo họ đem ra. Nếu họ không đáng tin thì nên bảo thầy tri sự đem ra. Nếu có một Tỉ-kheo nào đó, nói: “Y bát của tôi cũng có trong này”, thì phải quan sát. Nếu người ấy trì giới đáng tin thì nên đưa. Nếu không đáng tin thì không nên đưa. Nếu có người đáng tin làm chứng, thì nên đưa trước rồi Tăng mới nhận sau.

Nhận lấy có ba cách: làm Yết-ma rồi nhận; chia phần rồi nhận; trao đổi cho nhau mà nhận.

Làm Yết-ma rồi trao: Người làm Yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa nhập Niết-bàn, những y bát và các tạp vật khác của thầy nên chia cho Tăng hiện diện. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng hiện diện làm Yết-ma cho Tỉ-kheo mỗ giáp. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa nhập Niết-bàn, các y bát và những vật dụng khác của thầy nên chia cho Tăng hiện diện. Nay Tăng hiện diện đem y bát và các tạp vật khác trao cho Tỉ-kheo mỗ giáp. Các đại đức nào bằng lòng đem y bát và các tạp vật khác trao cho Tỉ-kheo mỗ giáp thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói.

Tăng đã bằng lòng đem y bát và các tạp vật khác trao cho Tỉ-kheo mỗ giáp xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Đó gọi là làm Yết-ma rồi trao.

Chia phần rồi trao: Khi chia phần xong liền tuyên bố rằng:

—Mỗi người hãy tự lấy phần mình.

Đó gọi là chia phần rồi trao.

Trao đổi nhau mà nhận phần: Trao đổi lẫn nhau (giữa người này và người khác), đó gọi là trao đổi nhau mà nhận phần.

Nếu có bốn Tỉ-kheo ở trong thôn mà một người qua đời, thì ba Tỉ-kheo còn lại nên chia nhau, nói như sau:

—Thưa các trưởng lão! Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa Niết-bàn, có các y bát và tạp vật khác này nên chia cho Tăng hiện diện, nhưng nơi này không có Tăng (không đủ bốn Tỉ-kheo), chúng ta hiện diện nên chia nhau.

Nếu trú xứ có ba Tỉ-kheo mà một người qua đời thì hai Tỉ-kheo còn lại nên chia nhau, nói như sau: “… Nơi này không có Tăng, chúng ta hiện diện sẽ được”.

Nếu trú xứ có hai Tỉ-kheo mà một người qua đời thì Tỉ-kheo còn lại được nhận, bằng cách tâm nghĩ, miệng nói:

—Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa nhập Niết-bàn, có y bát này nên chia cho Tăng hiện diện, nhưng ở đây không có Tăng, vậy tôi hiện diện được quyền nhận.

Nếu muốn cho vật dụng cho Tỉ-kheo nuôi bệnh, nên điểm danh để biết số người nhiều ít. Sau khi đã biết, nên đem y bát và thuốc men còn lại của người mất cho họ. Người làm Yết-ma nên nói:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa nhập Niết-bàn, y bát của thầy nên chia cho Tăng hiện diện. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng đem y bát và thuốc men còn lại này cho Tỉ-kheo nuôi bệnh là mỗ giáp. Đây là lời tác bạch.

Rồi một lần làm Yết-ma cho đến:—Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo nuôi bệnh là mỗ giáp y bát và thuốc men còn lại xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Trong trường hợp nào người nuôi bệnh được nhận phần, trường hợp nào không được nhận phần?

Trường hợp không được nhận: Gồm có: Làm tạm thời không được nhận; bị sai làm không được nhận; làm vì thích phước đức không được nhận; làm vì tà mạng không được nhận.

Làm tạm thời: Làm tạm thời chứ không phải làm chính thức, đó gọi là làm tạm thời.

Bị sai làm: Tăng theo thứ tự sai làm thì gọi là sai làm.

Làm vì thích phước đức: Vì mong muốn được phước đức mà nuôi bệnh, đó gọi là thích phước đức.

Tà mạng: Vì hy vọng (được phẩm vật) mà nuôi bệnh, đó gọi là tà mạng.

Trường hợp đáng được: Phật dạy:

—Vì muốn được lợi ích (cho người bệnh), ít nhất là đốt một ngọn đèn. Vì muốn cho người bệnh được bình phục thì đáng được nhận phần.

Khi làm Yết-ma xong, nên phán đoán bóng mặt trời. Nếu có Tỉ-kheo khách đến thì phải biết là trước lúc Yết-ma hay sau lúc Yết-ma; hoặc gặp lúc chết mà không gặp lúc Yết-ma; hoặc gặp lúc Yết-ma mà không gặp lúc chết; hoặc vừa gặp lúc chết, vừa gặp lúc Yết-ma; hoặc không gặp lúc chết, cũng không gặp lúc Yết-ma.

Trong đây, gặp lúc Yết-ma, không gặp lúc chết, vừa gặp lúc chết, vừa gặp lúc Yết-ma thì được nhận phần. Trường hợp gặp lúc chết, không gặp lúc Yết-ma; vừa không gặp lúc chết, vừa không gặp lúc Yết-ma thì không được nhận phần. Nhưng nếu đi tìm thuốc cho người bệnh, hoặc vì việc của tháp, của chúng Tăng mà đi vắng thì nên cho phần.

Đó là cách xử lý vật của người chết.

YẾT-MA CÔNG NHẬN BỆNH CUỒNG SI.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá. Bấy giờ trưởng lão Kiếp Tân Na có hai người đệ tử đồng hành, người thứ nhất tên Nan Đề, người thứ hai tên Bát Già Nan Đề mắc bệnh cuồng si; khi Tăng làm Yết-ma có lúc họ đến, có lúc họ không đến, khiến pháp Yết-ma của Tăng bị phá. Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật nói với các Tỉ-kheo:

—Nan Đề, Bát Già Nan Đề mắc bệnh cuồng si, khi Tăng làm Yết-ma, có lúc họ đến, có lúc họ không đến, khiến pháp Yết-ma của Tăng bị phá, thì Tăng nên làm Yết-ma công nhận bệnh cuồng si. Người làm Yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Nan Đề, Bát Già Nan Đề mắc bệnh cuồng si, khi Tăng làm Yết-ma, có lúc họ đến, có lúc họ không đến, khiến pháp Yết-ma của Tăng bị phá. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Nan Đề, Bát Già Nan Đề pháp Yết-ma bệnh cuồng si. Đây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe! Nan Đề, Bát Già Nan Đề mắc bệnh cuồng si, khi Tăng làm Yết-ma, có lúc họ đến, có lúc họ không đến, khiến pháp Yết-ma của Tăng bị phá. Tăng nay cho Nan Đề, Bát Già Nan Đề pháp Yết-ma công nhận bệnh cuồng si. Các đại đức nào bằng lòng cho Nan Đề, Bát Già Nan Đề pháp Yết-ma công nhận bệnh cuồng si thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế)

Tăng đã bằng lòng cho Nan Đề, Bát Già Nan Đề pháp Yết-ma công nhận bệnh cuồng si xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Khi làm Yết-ma xong, nếu người ấy có đến hay không đến, pháp Yết-ma sẽ không bị phá. Nếu bệnh cuồng si bớt, tâm trí trở lại như cũ thì được coi như đã xả pháp Yết-ma.

Đó gọi là Yết-ma công nhận bệnh cuồng si.

BÀY TỎ SỰ KHÔNG ĐỒNG TÌNH.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đấu tranh, cãi vã nhau, cùng sống một chỗ mà bất hòa. Một Tỉ-kheo cử tội một Tỉ-kheo, hai Tỉ-kheo cử tội hai Tỉ-kheo, nhiều Tỉ-kheo cử tội nhiều Tỉ-kheo. Thế rồi, các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay Ta cho phép bày tỏ sự không đồng tình. Cách bày tỏ sự không đồng tình như sau: Nếu Tăng làm Yết-ma phi pháp mà mình có khả năng thì nên ngăn cản, nói: “Này các trưởng lão! Đó là việc phi pháp, phi luật không nên làm”. Nếu người đó hung ác, có thế lực, sợ họ sát hại hoặc làm tổn thương phạm hạnh, thì nên bày tỏ sự không đồng tình, nói như sau: “Đây là Yết-ma phi pháp, tôi không bằng lòng, xin bày tỏ sự không đồng tình”. Nói như vậy ba lần. Khi bày tỏ sự không đồng tình, không nên bày tỏ với đối phương mà nên bày tỏ với người đồng ý với mình. Cũng không được làm với nhiều người mà chỉ được làm chừng hai người, ba người; còn những người khác thì nên gởi dục đúng pháp rồi bỏ đi. Nếu trong Tăng giải quyết việc một cách phi pháp mà không ngăn cản, không gởi dục, không bày tỏ sự không đồng tình thì phạm tội Việt tỳ ni. Nhưng nếu suy nghĩ: “Tùy nghiệp vận hành, như lửa cháy nhà, ta chỉ cứu lấy mình, gắng giữ tâm đúng với pháp”, thì không có tội.

Đó gọi là bày tỏ sự không đồng tình.

PHÁ LÒNG TIN CỦA THÍ CHỦ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy trưởng giả Lộc theo thứ tự mời Tăng đến thọ trai. Ưu-ba-nan-đà tới phiên mình đi đến nhà ấy. Trưởng giả hỏi:

—Thầy muốn ăn ở đây hay đem đi?

—Muốn đem đi.

Gia chủ liền lấy bát của thầy bỏ đầy các thứ ẩm thực. Ưu-ba-nan-đà được thức ăn rồi, bèn đem đến nhà dâm nữ, hỏi:

—Cô muốn được thức ăn không?

—Muốn được.

—Đem chén bát của cô lại đây.

Thế là thầy sớt đồ ăn thức uống ra la liệt đầy bàn, rồi tiếp tục đi khất thực. Khi ấy, con ông trưởng giả ăn xong, đi đến nhà dâm nữ, cô ta hỏi:

—Chàng có muốn ăn không?

—Lấy ra đây.

Cô ta liền đem thức ăn trên bàn đưa cho chàng ấy. Khi thấy thức ăn, chàng ta biết ngay, liền hỏi:

—Cô được thức ăn này ở đâu vậy?

—Chàng cứ ăn đi chứ hỏi làm gì! Các cậu thanh niên đem cho đó.

—Không phải vậy! Tôi muốn biết xuất xứ đích xác.

Anh ta cứ hỏi mãi, cô ấy đành phải khai:

—Sư phụ Ưu-ba-nan-đà cho tôi đó.

Con ông trưởng giả bèn chê trách:

—Ta nghĩ rằng chúng Tăng là phước điền tốt, trái lại Ưu-ba-nan-đà lại cho rằng dâm nữ là phước điền tốt.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, có Tát bạc chủ Vô Úy cúng dường cho Tăng hai tấm vải mịn. Ưu-ba-nan-đà nhận được từ trong Tăng rồi, đem cho dâm nữ. Dâm nữ được rồi, mặc đi vào nơi thị tứ. Khi ấy, Tát bạc chủ Vô Úy thấy thế biết ngay, liền hỏi:

—Cô được loại vải này ở đâu vậy?

—Vì cớ gì mà chàng hỏi? Các cậu thanh niên cho tôi đó.

—Không phải vậy! Tôi muốn biết rõ xuất xứ.

Anh ta cứ hỏi mãi, cô ấy đành khai:

—Tôn giả Ưu-ba-nan-đà cho tôi đó.

Thế rồi, Tát bạc chủ trách móc:

—Ta nghĩ rằng chúng Tăng là phước điền tốt, trái lại Ưu-ba-nan-đà cho dâm nữ là phước điền tốt.

Các Tỉ-kheo nghe thế, đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-ba-nan-đà đến. Khi thầy đến rồi, Phật bèn hỏi:

—Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Đó là việc xấu. Vì sao ông phá hoại vật của tín thí? Từ nay Ta không cho phép phá hoại vật của tín thí. Tín nghĩa là người ta cho với niềm tin, cho với tâm hoan hỷ. Thí gồm có 8 loại, đó là thức ăn đúng giờ, thuốc uống ban đêm cho đến những thứ hợp lệ và không hợp lệ. Phá nghĩa là dùng tâm tham dục đem cho dâm nữ, quả phụ, đồng tử lớn tuổi, kẻ bất năng nam, Tỉ-kheo ni mang tiếng xấu, Sa di ni mang tiếng xấu, ít nhất là vì tâm tham dục mà đem cho súc sinh, thì phạm tội Việt tỳ ni.

Nếu có người đến xin thức ăn của Tăng thì được cho chừng một vắt cơm. Nếu có nhiều người thì nên chia cho bằng nhau. Nếu kẻ ấy có lòng tham dục thì không nên cho. Nếu cha mẹ nghèo khổ không có lòng tin thì được cho ít nhiều tùy nghi. Nếu họ có lòng tin thì nên cho hào phóng. Có hai trường hợp nên cho: vì lợi ích, vì tổn hại.

Vì lợi ích: hoặc đàn việt hoặc ưu bà tắc làm việc cho tháp, cho Tăng thì nên cho.

Vì tổn hại: hoặc bọn cướp, hoặc nhà vua, hoặc kẻ hung ác nếu không cho thì chúng có thể gây ra sự bất lợi, những hạng người này nên cho.

Đó gọi là phá lòng tin của thí chủ.

PHÉP DÙNG GIÀY DA.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà mang giày da thếp vàng mà đi, bị người đời chê trách rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như vương giả, đại thần, người quí hiển, mang giày da thếp vàng?.

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, cho đến Phật nói:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép mang giày da thếp vàng.

Lại nữa, vào những ngày Khánh tiết của người đời, nhóm sáu Tỉ-kheo người thì mang giày da có nhiều màu sắc, người thì mang hai lớp giày, hẹn nhau đi ngắm cảnh, bị người đời chê trách rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mang nhiều loại giày giống như vương giả, đại thần?

Có kẻ thấy mang như thế oán ghét, bèn nói:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như kẻ hạ tiện, mang giày da hai lớp? Đây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép Tỉ-kheo mang giày da hai lớp.

Lại nữa, khi Phật an trú tại rừng Thi Đà, thành Vương Xá, lúc ấy, thân Thế Tôn có chút ít bất hòa, đồng tử Kỳ Cựu liền đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi bạch Phật rằng:

—Bạch Thế Tôn! Con nghe nói thân Thế Tôn bất hòa, nên uống thuốc tiêu hạ. Tuy Thế Tôn không cần, nhưng vì chúng sinh, mong Thế Tôn hãy nhận món thuốc này để cho chúng sinh đời sau thấy rõ nguyên lý: Người bệnh thì dùng thuốc, người bố thí thì được phước báo.

Khi ấy, Thế Tôn im lặng nhận lời. Kỳ Cựu lại suy nghĩ: “Không thể để Thế Tôn uống thuốc như người thường, phải dùng thuốc ướp với hoa sen xanh rồi trao cho Thế Tôn”. Đoạn, Thế Tôn ngửi hơi thuốc ba lần. Vì sức thuốc mạnh khiến Thế Tôn đi đại tiện đến 18 lần, do thế, sắc diện kém vui. Bấy giờ, A-nan nói với tôn giả Đại Mục Liên:

—Thế Tôn uống thuốc, không biết nơi nào có thức ăn hợp với bệnh của Ngài?

Khi ấy, Mục Liên liền quan sát, thấy con của Nhị Thập Ức Thứ Nô ở nước Chiêm Ba, hằng ngày nấu 500 món ăn, liền dùng thần lực đi đến đứng trước anh ta. Con của Nhị Thập Ức thấy tôn giả Mục Liên uy nghi thần đức, trong lòng thán phục, hứng khởi, cho rằng chưa từng có. Lúc ấy, Mục liên bèn đọc kệ:

Đấng Thiên Tôn kỳ diệu,
Tích lũy muôn công đức
Thân có chút bất hòa,
Cần thức ăn hợp bệnh.
Nay ông được lợi ích,
Sẽ gặt quả báo lớn.
Các đệ tử Thanh Văn.
So với đức Thế Tôn
Ví như hạt cải mòng
Sánh với núi Tu di.

Bấy giờ, con ông trưởng giả nghe đọc kệ xong lòng đại hoan hỷ, tán thán: “Lành thay! Nay được lợi ích này”, bèn sửa soạn các món ăn thượng hạng, rồi mời Mục Liên ở lại thọ trai. Khi ấy, Mục Liên suy nghĩ: “Ta vì đức Thế Tôn xin thức ăn hợp với bệnh, vậy không nên ăn trước”, liền nhận lấy thức ăn để trên hư không, rồi mới ăn phần mình. Khi ấy, đồng tử Nhị Thập Ức nói với tôn giả Mục Liên:

—Tôi muốn biết Thế Tôn ăn trước rồi tôi mới ăn sau, làm sao biết được?

Mục Liên nói:

—Bát đựng thức ăn trong chốc lát sẽ trở lại, là ta biết đã ăn rồi.

Thế là, chỉ trong nháy mắt, Mục Liên đã đến chỗ Thế Tôn, dâng thức ăn lên Thế Tôn. Thế Tôn ăn xong thì cái bát nương theo hư không trở về chỗ cũ. Lúc ấy, đồng tử Nhị Thập Ức Thứ Nô từ xa trông thấy cái bát bay về, liền đứng dậy nghênh đón, lấy đội lên đầu.

Bấy giờ, vua Bình Sa đến thăm viếng Thế Tôn, nghe mùi thức ăn, bèn hỏi:

—Bạch Thế Tôn! Đó là mùi thơm gì vậy?

—Mùi thức ăn đấy! Đại vương có muốn ăn thức ăn còn lại của Như Lai không?

—Muốn ăn, bạch Thế Tôn! Tôi sẽ được lợi ích rất lớn khi ăn thức ăn còn lại của đức Như Lai.

Đoạn, nhà vua ăn xong, liền bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Từ ngày tôi sinh ra trong hoàng gia đến giờ chưa từng được thức ăn như thế này. Bạch Thế Tôn! Đây là thức ăn của cõi trời, của rồng, của Uất đơn việt hay thức ăn của quỉ thần?

—Đây không phải là thức ăn của cõi trời, cho đến không phải của quỉ thần.

Thế rồi, Thế Tôn vì nhà vua nói về dưới chân của đồng tử Nhị Thập Ức Thứ Nô có lông màu vàng, dài bốn tấc, phước đức như vậy. Vua nghe xong, muốn đến đó xem liền nhưng viên quan cận thần tâu với vua:

—Kẻ đó là thần dân của đại vương, đại vương nên truyền lệnh y đến hầu, chứ không nên thân hành đến đó.

Tức thì vua sai sứ đến nói với cha mẹ của đồng tử rằng nhà vua muốn gặp đồng tử. Cha mẹ bàn bạc:

—Vua cho gọi thế này ắt là muốn tìm cách phạt tiền chúng ta đây. Chúng ta thà nạp ngàn vạn bạc chứ không nên cho con đến nhà vua.

Liền dùng xe chở vàng bạc châu báu đến chỗ nhà vua, tâu vua rằng:

—Đồng tử yếu đuối không thể tự đến được, nay xin chở những trân bảo của đồng tử đến hiến dâng cho đại vương.

Nhà vua liền nói:

—Ta có sẵn vàng bạc, châu báu, đâu có cần những thứ này để làm gì. Ta chỉ muốn xem thân hình của đồng tử mà thôi.

Vua liền sai sứ giả đến đó truyền lệnh rồi sứ giả trở về tâu với vua:

—Đồng tử sống rất sung sướng, thân thể quá mềm yếu, không thể đi xe cộ được.

—Nếu vậy, thì hãy trang bị thuyền rồi chở đến. Nếu tới chỗ nào thuyền đi không thông thì hãy đào đất thành kênh, dùng hạt cải bỏ xuống cho trơn để kéo qua.

Thế rồi, quân lính kéo thuyền đến sơn khẩu rồi rời thuyền lên bờ. Đồng tử vì quá mềm yếu phải dùng vải nệm trải trên đất để đi lên trên. Từ xa trông thấy Thế Tôn đang ngồi trên đất, đồng tử dỡ bỏ vải nệm, dẫm trên đất mà đi tới. Thế Tôn thấy vậy mỉm cười. Các Tỉ-kheo liền bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Vì cớ gì mà Thế Tôn mỉm cười?

—Các ông có thấy đồng tử này không?

—Dạ thấy, bạch Thế Tôn!

—Đồng tử này từ 91 kiếp trở lại đây, chân chưa từng dẫm lên đất, nay vì thấy Như Lai, sinh tâm cung kính (nên mới đi trên đất), chứ chẳng phải do hết phước đức.

Đồng tử đi đến trước Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi sang một bên. Phật liền tùy thuận thuyết pháp dạy bảo, khiến ông được lợi ích hoan hỷ, đắc pháp nhãn thanh tịnh. Rồi Phật bảo đồng tử:

—Nếu nhà vua đến đây thì ông hãy xuống đất ngồi xếp bằng dơ hai bàn chân ra.

Khi vua tiến vào, đồng tử liền xuống đất ngồi xếp bằng dơ hai bàn chân ra. Lúc ấy, quân hầu của vua rút gươm ra định bước tới, vua bèn khiển trách y. Đồng tử thấy vậy lòng sinh hoảng sợ, liền tâu với vua:

—Xin đại vương cho phép tôi xuất gia!

—Ngươi muốn xuất gia theo đạo nào?

—Muốn xuất gia theo đạo Phật.

Vua liền sai sứ đến nói với cha mẹ cho đồng tử xuất gia. Sau khi được cha mẹ cho phép, đồng tử liền xin Phật xuất gia thọ Cụ túc. Các Tỉ-kheo bèn hỏi Phật rằng:

—Bạch Thế Tôn! Đồng tử này có nhân duyên gì mà 91 kiếp chân không dính đất?

—Trong thời quá khứ cách nay 91 kiếp có đức Phật tên Tì Bát Thi Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri ra đời. Lúc ấy có 90 người con trưởng giả mời Phật và 80.000 Tỉ-kheo Tăng an cư trong ba tháng, mỗi người cúng dường mỗi ngày. Vị này là người cúng dường sau cùng. Ông dùng lụa trắng trải trên đất cúng dường cho chúng Tăng, vì vậy mà hưởng được phước báo sinh trong cõi trời người trải qua 91 kiếp chân chưa từng dẫm trên đất. Con ông trưởng giả khi ấy, bây giờ chính là đồng tử Nhị Thập Ức Thứ Nô vậy.

Đồng tử sau khi xuất gia, đi kinh hành trong rừng Thi Đà không biết mỏi mệt, bàn chân bị thương tích, máu chảy xuống đất. Phật thấy thế, tuy biết mà vẫn hỏi các Tỉ-kheo:

—Ai đi kinh hành chỗ này mà máu chảy ra như vậy?

—Bạch Thế Tôn! Đó là chỗ đi kinh hành của đồng tử Nhị Thập Ức Thứ Nô.

—Này các Tỉ-kheo! Giả sử đồng tử Nhị Thập Ức Thứ Nô này đi kinh hành khiến cho núi Tu di nát vụn như bụi bặm cũng không thể đắc đạo, huống gì bị thương tổn lớp da.

Khi đồng tử Nhị Thập Ức Thứ Nô nghe Phật nói như vậy, thầy liền đi đến một nơi thanh vắng, ngồi kiết già, suy nghĩ: “Người tinh tấn không lười biếng trong hàng Thanh Văn đệ tử Phật không ai hơn ta, vậy mà Thế Tôn nói là không thể đắc đạo, chi bằng ta xả giới trở về nhà làm các công đức cúng dường Phật và Tỉ-kheo Tăng”. Phật biết được tâm niệm của thầy liền dùng thần túc đi trên hư không đến ngồi trước mặt thầy, nói:

—Này Tỉ-kheo! Nay ta hỏi ông, tùy ý mà đáp: Trước đây ông có biết đánh đàn không?

—Biết đánh, bạch Thế Tôn!

—Khi dây đàn thẳng quá thì âm thanh có trong trẻo không?

—Không trong trẻo, bạch Thế Tôn!

—Khi dây đàn chùn quá thì âm thanh có réo rắt không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn!

—Này Tỉ-kheo! Khi dây đàn không thẳng quá, không chùn quá thì âm thanh có du dương không?

—Rất du dương, bạch Thế Tôn!

—Này Tỉ-kheo! Tinh tấn thái quá thì tâm sinh căng thẳng, còn sống lè phè thì tâm sinh dã dượi, không gấp gáp, không lè phè, tâm chuyên chú một chỗ sẽ soi tỏ mọi thứ, như trong Kinh Tăng Nhất đã nói rõ. Này Tỉ-kheo! Ông đã có niềm tin, bỏ hai mươi ức của cải mà xuất gia, vì sao sống trong chánh pháp còn khởi tâm tăng thượng mạn để tự chuốc khổ não? Này Tỉ-kheo! Nhân vì ông, Ta cho phép các Tỉ-kheo được mang giày da.

—Bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã cho phép các Tỉ-kheo mang giày da, nay con dần dần tập đi rồi sẽ mang giày da.

—Từ nay về sau, Ta cho phép Tỉ-kheo được mang giày da một lớp.

Khi ấy, A-nan Bân Để Tỉ nghe Thế Tôn cho phép các Tỉ-kheo mang giày da một lớp liền đem 500 đôi giày da đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi đứng sang một bên, bạch với Phật:

—Kính xin Thế Tôn nhận những đôi giày da này.

Phật liền đọc kệ chú nguyện cho ông:

Ai bố thí giày da
Cho phạm hạnh thanh tịnh,
Thân, khẩu, ý, ly ác
Được hưởng lạc nhân thiên.
Với phước báo đất vàng,
Trang hoàng các cung điện.
Được như ý thần túc,
Thanh tịnh không chướng ngại.
Thí ít được lợi nhiều,
Vì đó là phước điền.
Bậc trí nguyện trong sạch,
Sẽ được quả phúc tốt.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, đức Thế Tôn cứ 5 hôm đi thị sát phòng các Tỉ-kheo một lần. Ngài thấy các đôi giày da bỏ ngổn ngang trên đất, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi các Tỉ-kheo:

—Này các Tỉ-kheo! Đây là những giày dép gì mà bỏ ngổn ngang như vậy?

—Bạch Thế Tôn! Đó là những giày dép bị rách, nhưng vì sợ may chồng hai lớp nên không dám vá lại.

—Ta cho phép được vá lại.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, có Tỉ-kheo ở phương Nam, đến lễ bái Thế Tôn, trên đường đi giày bị hỏng khiến chân thầy bị chợt da, phải lê gót mà đi, đến đảnh lễ Phật. Tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi:

—Tại sao ông phải lê gót mà đi?

—Bạch Thế Tôn! Con mang giày da một lớp đến giữa đường giày bị hỏng mà không dám mang giày hai lớp nên chân bị lở.

—Từ nay, Ta cho phép làm giày da Ni-mục-ha, khi mang Phước-la không được bọc phía trước mà nên bọc phía sau. Phép làm giày da không được dùng sừng dê đen, sừng dê trắng, thếp vàng, nạm châu ngọc lưu ly, thủy tinh, mã não và các loại giày có màu sắc rực rỡ Ta không cho phép mang. Nếu được đôi giày da hai lớp còn mới thì không được phép mang, nên bảo tịnh nhân mang đi ít nhất 5, 6 bước rồi mới mang. Nếu được mà mang liền thì phạm tội Việt tỳ ni.

Đó gọi là phép dùng giày da.

PHÉP DÙNG GUỐC.

Khi Phật an trú trong vườn Am Bạt La của đồng tử Kỳ Cựu nơi thành Vương Xá, Ngài giảng Kinh Sa-môn quả cho vua A Xà Thế nghe suốt đêm. Khi ấy, Ưu-ba-nan-đà ngồi nghe lâu mệt mỏi bèn trở về phòng nghỉ, đến cuối đêm thức dậy, mang guốc mà đi, vì tiếng guốc kêu lốc cốc khiến voi ngựa nghe được kinh hoảng kêu lên. Vua A Xà Thế nghe vậy hoảng sợ liền trở về thành. Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-ba-nan-đà đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi:

—Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Từ nay về sau, Ta không cho phép mang guốc.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, có một Tỉ-kheo đang ngồi thiền trong hang đá Thiên Đế Thích, rồi một Tỉ-kheo khác mang guốc đi kinh hành ở trước hang, khiến cho Tỉ-kheo ngồi thiền nghe tiếng guốc tâm không định được. Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi, Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép mang các loại guốc như: guốc vàng, guốc bạc, guốc ngọc, guốc răng, guốc gỗ, guốc da guốc đuôi ngựa, guốc gai, guốc khâm bà la, guốc có gù, guốc cỏ cứng, guốc vỏ cây; tất cả các loại guốc tương tự như thế đều không cho phép dùng. Nếu ai xỏ chân vào guốc thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu muốn rửa chân nên sắp ngang guốc ra rồi dẫm lên trên thì không phạm tội. Khi Tỉ-kheo mang guốc da thì phải lót ở dưới một lớp đế. Nếu ai không lót ở dưới một lớp đế thì phạm tội Tì ni tâm hối. Nếu ai mang guốc mà không có đế thì phạm tội Việt tỳ ni.

Đó gọi là phép dùng guốc.

PHÉP TẮM RỬA.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nhóm sáu Tỉ-kheo đi đến sông A Chi La để tắm, họ dùng đá cọ để kỳ lưng, bị người đời chê trách rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử dùng đá cọ kỳ lưng giống như vương gia, bọn lực sĩ thi đấu? Đây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Rồi Thế Tôn dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép dùng đá cọ để kỳ lưng. Loại đá cọ này hoặc dùng đá, dùng gạch, dùng gỗ để làm; các loại tương tự như thế đều không được dùng để kỳ lưng. Nếu trong nước có cây trụ cũng không được đến cà lưng. Lúc tắm nên nhờ một người khác kỳ cọ. Khi kỳ không được dơ cả hai tay lên một lúc, mà nên dùng một tay che, rồi tuần tự kỳ cọ. Không được đứng tắm như người thế tục mà nên ngồi tắm, đồng thời theo thứ lớp rửa bàn tay đến cánh tay. Nếu thân thể có cáu bẩn, không được cầm cú để kỳ mà nên mở bàn tay ra kỳ. Nếu ai dùng đá cọ để kỳ cọ tắm thì phạm tội Việt tỳ ni.

Đó gọi là phép tắm rửa.

PHÉP DÙNG MẠT HƯƠNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đem theo các loại mạt hương đến đầu sông A chi la để tắm. Lúc ấy, có đệ tử của ngoại đạo thấy thế, suy nghĩ: “Bọn chúng ta hãy cùng nhau đến quấy nhiễu Ưu bà tắc đệ tử của Sa môn”. Nghĩ thế rồi liền đi tới đó, hỏi như sau:

—Thầy của ai ít muốn, biết đủ?

Ưu bà tắc nói:

—Thầy của tôi ít muốn, biết đủ.

—Thầy của tôi ít muốn, biết đủ.

—Thầy của ngươi không tàm, không quí, uống rượu như lừa. Thầy của tôi mới là ít muốn, biết đủ, có tàm quí.

—Tôi muốn đánh cá với ông 500 đồng tiền cũ đấy.

—Được thôi.

Thế rồi, họ cùng nhau bàn bạc nên dùng thứ gì để thí nghiệm, và đã nhất trí dùng mạt hương để thí nghiệm, nhưng nên đến thầy của ai trước thì đệ tử ngoại đạo nói:

—Hãy đến chỗ thầy tôi trước!

Đoạn, ông sai người đến dặn trước thầy mình:

—Khi con đem mạt hương đến, thầy hãy hiện tướng ít muốn, biết đủ, cẩn thận đừng nhận.

Thế rồi, trong chốc lát họ bèn mang mạt hương đến thưa:

—Mong các thầy thương xót nhận lấy mạt hương này!

—Tôi là người xuất gia chẳng phải vương giả, đại thần, dùng loại mạt hương này để làm gì?

Vì vị ấy không nhận, họ bèn mang đến tinh xá Kỳ hoàn, thưa như sau:

—Xin các thầy thương xót chúng tôi nhận lấy mạt hương này!

Do Ưu bà tắc chất phác không nói trước nên các Tỉ-kheo bèn đánh kiền chùy, tập hợp Tăng định chia mạt hương. Những người không đến thì có đệ tử nhận phần thế, nói:

—Đưa phần Hòa Thượng, A xà lê tôi cho tôi.

Họ lớn tiếng tranh nhau đòi như vậy om sòm. Đệ tử của ngoại đạo thấy thế vỗ tay cười lớn:

—Tôi hơn ông rồi! Hôm nay tôi đã thắng cuộc.

Khi ấy, Ưu bà tắc xấu hổ không nói nên lời, liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng hầu một bên, trình bày lại đầy đủ sự việc trên với Phật.

—Bạch Thế Tôn! Con không tiếc tiền, nhưng ngoại đạo thắng cuộc, nên con hổ thẹn.

Phật liền thuyết pháp dạy bảo điều lợi ích khiến tâm ông hoan hỷ, cúi đầu đảnh lễ chân Phật rồi từ giã. Bấy giờ, Thế Tôn liền đi đến chỗ có đông Tỉ-kheo, trải tọa cụ ngồi, thuật lại đầy đủ sự việc trên cho các Tỉ-kheo. Đoạn, Phật dạy:

—Này các Tỉ-kheo! Từ nay Ta không cho phép dùng mạt hương.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, vì 5 việc lợi ích nên đức Như Lai cứ 5 hôm đi tuần hành qua phòng các Tỉ-kheo một lần, thấy Tỉ-kheo bị bệnh ghẻ nhọt, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Thân thể ông có điều hòa, an lạc không?

—Bạch Thế Tôn! Con bị bệnh ghẻ nhọt, nếu có mạt hương dùng tắm rửa thì sẽ lành bệnh, nhưng Thế Tôn chế giới không cho dùng mạt hương, nên con phải chịu khổ sở.

—Từ nay Ta cho phép Tỉ-kheo bị bệnh được dùng mạt hương. Mạt hương gồm các loại: mạt thi, mạt mã nhĩ, mạt bảy màu, mạt chiên đàn, mạt câu đa, mạt Am Bạt La, mạt diêm phù thi lợi, mạt a thuần, mạt già tỉ la, đại loại các thứ như thế đều không được dùng. Nhưng nếu Tỉ-kheo bị bệnh ghẻ nhọt, cần mạt hương thoa, rửa cho lành bệnh thì được dùng không có tội. Đồng thời cho phép dùng mạt hương ca la mạt ma sa, mạt ma sấu la, mạt sa để, bùn đất. Đó gọi là phép dùng mạt hương.

PHÉP DÙNG GẬY VÀ TÚI BẰNG DÂY.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo là Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà dùng cái túi bằng dây châu báu để đựng bát, rồi lấy dây đen buộc túi vào gậy, quảy trên vai mà đi, bị người đời chê cười rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như vua, đại thần dùng cái túi bằng dây báu đựng bát rồi quảy trên vai mà đi?

Có kẻ ác ý còn chêm vào:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như bọn hạ tiện bị người ta sai khiến, dùng dây đen buộc túi đựng bát vào gậy rồi quảy đi? Đây là hạng người hạ tiện nào có đạo hạnh gì!

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Rồi Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép dùng gậy và túi bằng dây.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, Đức Như Lai cứ 5 hôm đi tuần tra phòng các Tỉ-kheo một lần. Ngài thấy Tỉ-kheo bị mụt nhọt ở tay, tuy biết mà vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Thân thể ông có điều hòa an lạc không?

—Bạch Thế Tôn! Tay con mọc mụt nhọt cho nên bát bị vỡ mà Thế Tôn lại chế giới không cho dùng gậy và túi bằng dây, vì thế mà không vui.

—Từ nay về sau, Ta cho phép Tỉ-kheo bị bệnh được theo Tăng xin chứa gậy và túi bằng dây, Tăng nên làm Yết-ma cho phép. Người xin nên trật vai áo bên phải, quì gối, chắp tay nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tôi là mỗ giáp vì tay bị mụt nhọt nên bát bị vỡ. Nay theo Tăng xin pháp Yết-ma được chứa gậy và túi dây. Nguyện xin Tăng cho tôi pháp Yết-ma. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế)

Thế rồi, người làm Yết-ma nên nói:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp vì tay có mụt nhọt nên bát bị vỡ, đã theo Tăng xin pháp Yết-ma được chứa gậy và túi bằng dây. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp Yết-ma được chứa gậy và túi bằng dây. Đây là lời tác bạch. (Thế rồi bạch nhất Yết-ma cho đến) Tăng đã cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp Yết-ma được chứa gậy và túi dây xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Khi làm Yết-ma xong, muốn đi đâu thì tay cầm gậy và túi dây, chứ không được đặt trên vai mà vác đi. Nếu cầm gậy thì phạm tội Việt tỳ ni tâm hối, cầm túi dây cũng phạm tội Việt tỳ ni tâm hối. Nếu cầm gậy, túi dây và bát thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu đi đường thì được cột đãy lọc nước vào đầu gậy rồi cầm trên tay mà đi, nhưng không được đặt trên vai. Nếu không làm Yết-ma mà cầm gậy thì phạm tội Việt tỳ ni; và cầm túi da cũng phạm tội Việt tỳ ni. Nếu cầm gậy và túi da thì phạm hai tội Việt tỳ ni.

Đó gọi là phép cầm gậy và túi da.

Kệ tóm tắt:

Vật nặng, y người chết,
Cuồng si, không đồng tình.
Phá tín thí, giày da,
Guốc gỗ, kỳ cọ thân.
Mạt hương, gậy túi da,
Kết thúc phần thứ bảy.