LUẬT MA HA TĂNG KỲ

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 9.

PHÉP DÙNG TỎI.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, cư sĩ Di Kỳ mời Tăng ăn tỏi. Nhóm sáu Tỉ-kheo liền đi đến vườn, ăn tỏi, rồi bỏ lổn ngổn trên đất, lại còn mang về tinh xá. Lúc ấy, cư sĩ đi tuần tra vườn tỏi, thấy thế liền hỏi người giữ vườn:

—Vì sao như vậy?

Người giữ vườn bèn thuật lại đầy đủ sự việc trên. Cư sĩ nói:

—Tỉ-kheo chỉ nên ăn thôi, vì sao lại vứt bỏ đầy đất thế này? Lại còn mang đi cho ai vậy?

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Đoạn, Phật nói với các Tỉ-kheo:

—Từ nay trở đi, Ta không cho phép ăn tỏi.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, Thế Tôn đang thuyết pháp cho đại chúng, thì có một Tỉ-kheo ăn tỏi nên ngồi ở cuối gió, vì sợ mùi hôi tỏa đến các vị phạm hạnh. Phật biết mà vẫn hỏi các Tỉ-kheo:

—Đó là Tỉ-kheo nào mà ngồi riêng một chỗ như kẻ gây gỗ vậy?

—Bạch Thế Tôn! Vị Tỉ-kheo này ăn tỏi, sợ mùi hôi xông đến các vị phạm hạnh nên phải ngồi ở chỗ cuối gió.

—Này các Tỉ-kheo! Nếu Tỉ-kheo này không ăn tỏi thì có bị mất lợi ích của pháp vị cam lồ như vậy không?

—Thưa không, bạch Thế Tôn!

—Tỉ-kheo này vì ăn tỏi mà bị mất pháp vị bất tử như vậy đó. Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn tỏi.

Lại nữa, khi Phật an trú tại tinh xá Ni Câu Luật của dòng họ Thích, nơi thành Ca Duy La Vệ, cứ 5 hôm đức Như Lai đi thị sát phòng các Tỉ-kheo một lần. Ngài thấy một Tỉ-kheo bị bệnh hoàng đãng gầy ốm, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Thân thể ông có điều hòa, sống an ổn không?

—Bạch Thế Tôn! Con bị bệnh không được điều hòa, lúc còn ở đời con ăn tỏi thì khỏi bệnh, nhưng nay Thế Tôn chế định không được ăn tỏi, do đó con không được an lạc.

—Từ nay Ta cho phép Tỉ-kheo bệnh được ăn tỏi, nên tùy thuận thi hành. Tỏi gồm có loại người ta trồng, có loại mọc trên núi, đại loại các thứ như thế và tất cả những thứ khác, hoặc sống, hoặc chín, hoặc lá, hoặc vỏ đều không được ăn. Nếu bị ung thư hay mụt nhọt thì được dùng tỏi để đắp. Khi đắp tỏi thì không được ở giữa chúng mà nên ở chỗ vắng vẻ. Khi đã khỏi bệnh thì phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới vào trong chúng Tăng. Nếu khi có bệnh mà thầy thuốc bảo: “Thưa trưởng lão! Bệnh này phải uống tỏi mới bớt, nếu không uống thì không bớt”, mà không còn phương pháp nào khác để chữa trị, thì Ta cho phép uống. Khi uống tỏi phải thi hành 7 ngày pháp tùy thuận như sau: Ở trong một căn phòng nhỏ; Không được nằm trên giường nệm của chúng Tăng; Không được đi đại tiểu tiện nơi phòng vệ sinh của Tăng; Không được rửa chân ở chỗ Tăng rửa chân; Không được vào nhà sưởi, giảng đường và nhà ăn; Không được đi dự hội theo thứ tự do Tăng sai; Không được đi vào chỗ Tăng đang ăn và phòng thiền; Không được vào trong chỗ Tăng đang thuyết pháp, Bố tát; chỗ nào Tỉ-kheo đang hội hợp thì nhất thiết không được đến; không nên nhiễu tháp, nếu tháp ở chỗ trống trải thì được lễ bái từ xa ở dưới gió. Sau 7 ngày hành pháp tùy thuận, đến ngày thứ 8 phải tắm rửa, giặt y phục, xông hương, rồi mới được vào trong Tăng. Nếu Tỉ-kheo không bệnh mà ăn tỏi hay có bệnh mà ăn tỏi nhưng không hành pháp tùy thuận thì cả hai đều phạm tội Việt tỳ ni.

Đó gọi là phép dùng tỏi.

PHÉP PHÚ BÁT ( TẨY CHAY ).

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, Ưu bà tắc Pháp Dự ở trong thành này thường mời Tăng theo thứ lớp thọ trai. Khi Tỉ-kheo tới nhà, ông cật vấn nghĩa lý, ai giải thích được thì ông rất hoan hỷ, tự tay dọn các thức ăn. Ai không đáp được thì ông hủy nhục, sai nô tì dọn thức ăn thô sơ. Vì thế theo thứ lớp đến phiên Thượng Tọa đi thì không đi, liền bảo: “Mời tiếp những người dưới”, cho đến những người trẻ tuổi cũng đều không muốn đi. Do vậy mà lời qua tiếng lại om sòm. Phật biết mà vẫn hỏi các Tỉ-kheo:

—Vì sao mà có lời qua tiếng lại om sòm như vậy?

—Bạch Thế Tôn! Ưu bà tắc Pháp Dự thường mời chư Tăng thọ trai theo thứ lớp. Thế rồi, người phải đi thì không đi, vì vậy mà có lời qua tiếng lại om sòm.

—Này các Tỉ-kheo! Ưu bà tắc Pháp Dự khinh mạn các Tỉ-kheo, Tăng nên làm Yết-ma phú bát (tẩy chay). Nếu Ưu bà tắc có 8 việc sau đây, thì Tăng nên làm Yết-ma phú bát, đó là:

1. Phỉ báng Tỉ-kheo ngay trước mặt.

2. Khiển trách Tỉ-kheo ngay trước mặt, nói như sau: “Ông là kẻ ác hạnh”.

3. Nổi giận mắng chửi Tỉ-kheo ngay trước mặt.

4. Cắt đứt lợi dưỡng của Tỉ-kheo.

5. Không thích làm việc chung với Tỉ-kheo.

6-8—Chửi Phật, chửi Pháp và chửi Tăng.

Đó gọi là 8 việc Tăng nên làm Yết-ma phú bát. Người làm Yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Ưu Bà tắc Pháp Dự này khinh mạn các Tỉ-kheo. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Ưu Bà tắc Pháp Dự—khinh mạn các Tỉ-kheo—pháp Yết-ma phú bát. Đây là lời tác bạch.

(Thế rồi bạch tam Yết-ma cho đến)

Tăng đã cho Ưu Bà tắc Pháp Dự—khinh mạn các Tỉ-kheo—pháp Yết-ma phú bát xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Đoạn, nói về Ưu Bà tắc Pháp Dự, vốn thường cúng dường trai phạn cho chư Tăng rồi mới ăn. Nhưng hôm ấy, đợi Tỉ-kheo đã quá giờ mà không thấy đến, ông liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, rồi bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Vì cớ gì mà các Tỉ-kheo không đến thọ trai?

—Vì ông khinh mạn các Tỉ-kheo, muốn cho ông được lợi ích, Tăng đã làm Yết-ma phú bát đối với ông.

Khi ấy, có một vị La Hán đang ở cách Phật không xa. Phật liền bảo Ưu Bà tắc:

—Ông hãy đến hỏi vị Tỉ-kheo kia như sau: “Thế nào là muối? Muối có mấy thứ.

Ông liền đi đến, chào:

—Kính chào thầy!

Tỉ-kheo đáp:

—Lành thay cư sĩ.

Thế rồi ông hỏi:

—Thưa tôn giả! Thế nào gọi là muối? Muối có mấy loại?

—Tôi đã biết ông là Ưu Bà tắc Pháp Dự, vốn khinh mạn các Tỉ-kheo, nên Tăng đã cho ông pháp Yết-ma phú bát, chưa đủ rồi sao? Tôi đang ở đây an lạc ông lại đến đây não loạn tôi. Muối chính là muối (còn hỏi gì nữa?

Nghe Tỉ-kheo trả lời như thế, lòng ông cảm thấy chán nản, liền đi đến chỗ Phật. Phật biết mà vẫn hỏi:

—Ông hỏi về nghĩa lý của muối có được toại ý không?

—Bạch Thế Tôn! Vị Tỉ-kheo ấy ít biết, chưa từng theo thầy để học, con hỏi muối thì đáp là muối.

Lúc ấy, cách Phật không xa, có một Tỉ-kheo pháp sư tên Phất Hi Lô, Phật liền bảo Pháp Dự:

—Ông hãy đến hỏi vị Tỉ-kheo kia về nghĩa của muối xem sao!

Thế là ông đến đó, chào:

—Kính chào thầy!

—Lành thay đàn việt đến đây.

Đoạn, thầy mời ông ngồi. Tuy chưa hỏi nghĩa nhưng nghe thầy mời ngồi, ông đã thấy rất hoan hỷ, liền đến ghế ngồi, rồi hỏi:

—Thưa tôn giả! Muối có ý nghĩ gì?

—Đó là câu hỏi rất hay. Nay tôi sẽ giải thích về ý nghĩa của muối cho ông rõ. Muối có hai phương diện: VịTánh . Vị tức là như nước biển cùng một vị mặn. Tánh thì gồm có: muối đen, muối đỏ, muối tân đầu, muối vị bạt già, muối tì lãm, muối ca già, muối tư đa, muối tỉ ca. Nói tóm lược thì có hai loại, hoặc sống, hoặc được nấu chín; đó gọi là muối.

Nghe xong, lòng vui mừng khấp khởi, liền đi đến chỗ Phật cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Vị Tỉ-kheo ấy giải thích rất thấu đáo, phân biệt rành mạch, nói nghĩa lý của muối rộng hẹp, ngược xuôi đều thông thạo.

—Đó là kẻ phàm phu, chưa hưởng được pháp vị trong giáo pháp của Ta; còn vị Tỉ-kheo trước là A la hán, nhưng vì ông kiêu mạn nên không biết được chân ngụy, sẽ mãi mãi làm những việc vô ích.

Pháp Dự nghe Phật nói như thế tâm sinh hoảng sợ, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi bạch Phật:

—Bạch Thế Tôn! Nay con xin sám hối, kính mong Thế Tôn bảo các Tỉ-kheo từ nay về sau, trở lại nhận sự cúng dường của con như trước.

—Ông hãy trở về nhà tắm rửa, mặc y phục mới, rồi cùng với quyến thuộc đi đến giữa chúng Tăng xin Tăng xả pháp Yết-ma phú bát, Tăng sẽ xả cho ông.

Vâng lời Phật dạy, Pháp Dự trở về nhà tắm rửa, mặc y phục mới, rồi đi đến giữa Tăng quì gối, chắp tay, nói như sau:

—Xin đại đức Tăng ghi nhớ cho! Con là Ưu bà tắc Pháp Dự, khinh mạn Tỉ-kheo Tăng; vì muốn cho con được lợi ích, Tăng đã làm pháp Yết-ma phú bát. Nay con đã thấy lỗi, tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến. Kính mong Tăng thương xót xả pháp Yết-ma phú bát cho con. (xin như vậy ba lần).

Thế rồi, Tăng nên đem Pháp Dự đến đứng ở chỗ mắt thấy mà tai không nghe trong phạm vi cương giới, rồi Tăng hiện tiền làm Yết-ma đối với vị đồ chúng không hiện tiền. Người làm Yết-ma nên nói như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Ưu bà tắc Pháp Dự này khinh mạn Tỉ-kheo Tăng, vì muốn cho ông ta được lợi ích, trước đây Tăng đã làm Yết-ma phú bát. Ngày nay ông đã thấy lỗi, tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến, theo Tăng xin xả pháp Yết-ma phú bát. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng xả pháp Yết-ma phú bát cho Ưu bà tắc Pháp Dự. Đây là lời tác bạch.

Thế rồi bạch tam Yết-ma cho đến:

Tăng đã xả pháp Yết-ma phú bát cho Ưu bà tắc Pháp Dự xong, vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Nếu Tăng đã làm Yết-ma phú bát rồi thì Tỉ-kheo, Tỉ-kheo ni, Thức xoa ma ni, Sa di, Sa di ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đều không được phép đến đó. Đồng thời phải đem áo ca sa máng trên cửa họ, rồi tuyên bố trong xóm rằng:

—Nhà mỗ giáp này đã làm Yết-ma phú bát.

Nếu có Tỉ-kheo khách đến thì nên nói:

—Gia đình mỗ kia đã được làm Yết-ma phú bát, không nên đến đó.

Khi làm Yết-ma phú bát không nên làm hấp tấp. Nếu họ nói: “Sa-môn không đến nhà ta thì càng tốt”, thì đối với hạng người ấy không nên làm. Nếu họ biết hổ thẹn thì nên làm. Sau đó, nếu họ tự thấy lỗi tỏ ra tùy thuận, tâm nhu nhuyến thì nên xả pháp Yết-ma.

Đó gọi là cách thức phú bát.

PHÉP KẾT KHUY VÀO Y.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, có Tỉ-kheo khất thực, một tay cầm bát, một tay cầm túi đựng bát, bỗng có cơn gió lốc thổi đến khiến y thầy bị bay đi; rồi thầy mặc nội y vào tinh xá Kỳ hoàn. Phật biết mà vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Y ông đâu rồi?

—Bạch Thế Tôn! Bị gió lốc thổi bay mất rồi.

—Từ nay về sau phải kết khuy để buộc y.

Thế rồi, các Tỉ-kheo dùng vàng bạc làm khuy. Phật dạy:

—Tất cả vàng bạc châu báu đều không được dùng làm khuy, mà nên dùng đồng, sắt, thiếc hoặc gỗ, tre, rồi dùng chỉ kết khuy vào để buộc. Ta không cho phép Tỉ-kheo không mặc y có khuy mà vào thôn xóm. Nếu không có vật gì để làm, thì nên dùng kim khâu lại. Nếu cũng không có kim thì ít nhất dùng tay để nắm. Nếu y không có khuy mà mặc vào thôn xóm thì phạm tội Việt tỳ ni tâm hối. Cũng vậy, nếu mặc đi vào các nhà thì vào mỗi nhà phạm mỗi tội Việt tỳ ni tâm hối. Nếu có mà không buộc thì phạm tội Việt tỳ ni tâm hối. Trường hợp không phạm: nếu đi vào tinh xá của Tỉ-kheo ni, tinh xá của ngoại đạo, hoặc đàn việt tuyên bố: “Tùy nghi sao cho tốt thì thôi”, thì không có tội.

Đó gọi là phép kết khuy vào y.

PHÉP DÙNG ĐAI LƯNG.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, có một Tỉ-kheo khất thực, một tay cầm bát, một tay cầm túi đựng bát, bỗng một cơn gió thổi làm rơi y nội, thế là thầy mặc thượng y đi vào tinh xá Kỳ hoàn. Phật biết mà vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Y an đà hội của ông đâu rồi?

—Bạch Thế Tôn! Bị gió lốc thổi bay mất rồi.

—Từ nay về sau nên buộc đai lưng.

Thế rồi, các Tỉ-kheo làm đai lưng bằng những sợi vải rời, hoặc kết khuy, hoặc làm đai rỗng bên trong. Phật dạy:

—Làm đai bằng những sợi vải rời, hoặc kết khuy đều không được phép dùng. Còn đai lưng rỗng bên trong thì nên khâu ở giữa, hoặc ken chặc, hoặc làm tròn đều được buộc. Khi buộc, không được buộc bốn vòng hay một vòng mà nên buộc hai vòng cho đến ba vòng. Nếu thân thể Tỉ-kheo mềm yếu, buộc không chịu nổi thì nên cầm đi, khi đến đầu thôn nên lấy ra buộc để đi vào thôn, và lúc trở ra thì lại tháo ra. Nếu không buộc đai lưng mà đi vào thôn xóm thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu có mà không buộc thì phạm tội Việt tỳ ni tâm hối. Nếu buộc một vòng thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu buộc hai vòng, ba vòng thì không có tội.

Đó gọi là phép dùng đai lưng.

PHÉP DÙNG ĐAI CÓ DÂY CỘT.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, có Tỉ-kheo cầm cái đai không buộc chặt ở đầu, đi vào giữa phố thị, cái đai xổ ra thầy bèn kéo lê trên đất mà đi, bị người đời mỉa mai rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử lại kéo lê khúc ruột mà đi.

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Từ nay về sau ở đầu cái đai nên làm dây cột.

Thế rồi, có Tỉ-kheo dùng vàng bạc làm dây buộc đai. Phật dạy:

—Tất cả bảo vật không nên dùng làm dây buộc đai. Ở đầu đai nên cột hai hay ba lần, không được cột một hay bốn lần. Nếu tất cả đai không làm dây cột thì phạm tội Việt tỳ ni.

Đó gọi là phép dùng đai có dây cột.

PHÉP CƯỠI NGỰA, ĐI XE.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhằm dịp lễ hội, nhân dân đổ ra đi xem; nhóm sáu Tỉ-kheo hoặc cưỡi voi, cưỡi ngựa, có người cưỡi lừa đi xem, bị người đời chê rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như vương gia, đại thần, cưỡi voi, cưỡi ngựa mà đi?

Có người thấy họ cưỡi lừa, bèn móc méo:

—Sa-môn Thích tử này giống như sứ giả của kẻ hạ tiện, cưỡi lừa mà đi.

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

—Từ nay về sau Ta không cho phép cưỡi lừa, cưỡi ngựa.

Lại nữa, khi Phật an trú tại tinh xá trong vườn Am Bà La của đồng tử Kỳ Cựu nơi thành Vương Xá; vì 5 việc lợi ích nên đức Như Lai cứ 5 hôm đi thị sát phòng các Tỉ-kheo một lần. Phật thấy một Tỉ-kheo bị bệnh hoàng đãng, gầy ốm, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Bệnh ông tăng hay giảm, hơi thở có điều hòa không?

—Bạch Thế Tôn! Con bị bệnh khổ sở, hơi thở không điều hòa.

—Ông không thể đi đến nhà y sĩ Kỳ Cựu để khám bệnh sao?

—Vì Thế Tôn chế giới không cho phép ngồi xe, ngựa, mà bệnh của con đau đớn nên không thể đi bộ.

—Từ nay về sau, Ta cho phép Tỉ-kheo bệnh được ngồi xe, ngựa. Được cưỡi các loại như: cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi lừa, cưỡi lạc đà, cưỡi trâu, ngồi thuyền, ngồi xe, ngồi kiệu. Tất cả các loại như thế nếu không có bệnh thì không được ngồi, còn có bệnh thì được ngồi. Nhưng không cho phép cưỡi súc vật cái, mà nên cưỡi súc vật đực. Nếu bệnh nặng không phân biệt được, thì cưỡi không có tội. Nếu có nhân duyên đi xuôi ngược dòng nước hay đi ngang qua sông, nên suy nghĩ: “Ta có duyên sự cần thiết”, thì lúc ấy được cưỡi đi qua sông. Nếu Tỉ-kheo không có bệnh mà ngồi xe, cưỡi ngựa thì phạm tội Việt tỳ ni.

PHÉP NẰM CHUNG GIƯỜNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo cứ hai người, ba người nằm chung một giường khiến giường nệm bị hư hỏng, bỏ lăn lóc dưới đất. Vì 5 việc lợi ích nên đức Như Lai cứ 5 hôm đi thị sát phòng của các Tỉ-kheo một lần, thấy giường bị hư bỏ trên đất, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Giường hư này của ai mà bỏ ngổn ngang trên đất vậy?

Các Tỉ-kheo bèn trình bày đầy đủ lại sự việc kể trên. Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép cùng ngủ chung giường.

Vấn đề giường nệm như trên đã nói, một người nên nằm ngủ một giường. Nếu giường ngồi thì hai người được kê ba giường sát nhau mà ngủ, nhưng khi ngay chân ra không được để đầu gối lòi ra ngoài. Nếu nệm ngang thì cho phép ba người cùng nằm ngang mà ngủ. Nếu nệm vuông thì hai người được lót ba nệm nằm chung mà ngủ, nhưng khi duỗi chân ra, đầu gối không lọt ra ngoài. Nếu lót cỏ ở dưới thì mỗi người được trải ngọa cụ ra để ngồi, nằm không phạm. Nếu trời lạnh thì được trùm kín ở trên, ở dưới, nhưng không được nằm quá gần nhau mà phải để cách ở giữa chừng một khuỷu tay, cũng không được nằm duỗi tay ra. Người lớn nhỏ cách nhau ba tuổi hạ được ngồi cùng giường mà không được nằm ngủ cùng giường. Nếu nằm ngủ cùng giường thì phạm tội Việt tỳ ni.

Đó gọi là phép nằm ngồi cùng giường.

PHÉP CÙNG NGỒI CHUNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo cứ ba người, bốn người cùng ngồi chung một giường, khiến giường ghế bị gãy nát. Đức Như Lai vì 5 sự lợi ích nên cứ 5 hôm đi thị sát phòng các Tỉ-kheo một lần. Thấy giường bị hư hỏng nằm ngổn ngang trên đất, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Giường bị gãy này của ai mà bỏ ngổn ngang trên đất như vậy?

Các Tỉ-kheo bèn thuật lại đầy đủ sự việc trên cho Thế Tôn. Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép cùng ngồi chung một giường.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Thế Tôn hỏi Ưu-ba-li:

—Các Tỉ-kheo có tụng Luật hay không?

—Có, nhưng ít người tụng, bạch Thế Tôn!

—Vì sao ít người tụng?

—Vì Thế Tôn chế giới không cho phép cùng ngồi chung giường, các Tỉ-kheo mỗi người ngồi một giường, vì thế nên ít người tham dự tụng Luật.

—Từ nay về sau, Ta cho phép Tỉ-kheo cách nhau ba tuổi hạ được ngồi chung một giường. Tỉ-kheo không có tuổi hạ được ngồi chung với Tỉ-kheo ba tuổi hạ. Cũng vậy, cho đến Tỉ-kheo bảy tuổi hạ được ngồi với Tỉ-kheo mười tuổi hạ. Nếu giường nằm thì được phép ngồi ba người. Nếu giường ngồi thì được phép ngồi hai người. Nếu giường dài một khuỷu rưỡi tay thì hai người cách nhau ba tuổi hạ được phép ngồi chung. Nếu cách nhau nhiều hơn thì nên nhường cho Thượng tọa. Nếu giường nằm dài hơn ba khuỷu tay thì Tỉ-kheo cách nhau bốn tuổi hạ được phép ngồi chung. Nếu cách nhau nhiều hơn thì không được ngồi chung. Nếu ngày đại hội nhiều người tụ họp mà giường ghế ít thì được kê sát các giường vào nhau rồi buộc lại. Khi buộc phải buộc cho chắc, đừng để giường nệm lung lay thì được ngồi chung. Nếu tấm nệm dài ba khuỷu tay thì Tỉ-kheo cách nhau 4 tuổi hạ được ngồi chung. Nếu cách xa hơn thì không được ngồi chung. Nếu rải cỏ trên đất rồi cùng ngồi (thì không cần phân biệt tuổi tác) không có tội.

Đó gọi là phép cùng ngồi chung.

Hết quyển thứ ba mươi mốt.