LUẬT MA HA TĂNG KỲ

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 10.

PHÉP ĂN CHUNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo cùng ăn chung bị người đời chê cười rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà ngồi ăn chung giống như những kẻ dâm dật ở thế gian?

Cho đến Phật bảo gọi nhóm sáu Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

—Các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Từ nay về sau, Ta không cho phép cùng ăn chung. Cùng ăn chung nghĩa là cùng ăn một bát. Còn thức ăn thì có 5 món ăn chính và 5 món ăn linh tinh nên đựng riêng ra mà ăn. Nếu không có bát thì nên dùng tô, chén để đựng. Nếu cũng không có tô, chén thì nên vò cơm thành viên bỏ trong bàn tay trái, dùng tay phải bốc ăn. Nếu cũng không thể được thì nên đặt bát trên cỏ, lá, rồi cùng bốc ăn. Không được dùng tay bốc ăn chung 5 thức ăn chính và 5 thức ăn tạp. Nhưng nếu là bột, bánh, rau, trái thì cùng ăn chung không có tội. Nếu cùng ăn chung trong một bát thì phạm tội Việt tỳ ni.

Đó là phép cùng ăn chung.

PHÉP ĂN TRÊN BÀN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, đức Như Lai vì 5 sự lợi ích nên cứ 5 hôm đi thị sát phòng các Tỉ-kheo một lần. Thấy bàn ăn trong phòng của Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà được vẽ nhiều màu sắc, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi các Tỉ-kheo:

—Cái bàn ăn này của ai mà được vẽ nhiều màu sắc thế này?

—Bạch Thế Tôn! Đó là bàn ăn của Nan-đà, Ưu Ba Nan-đà.

—Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn trên bàn ăn.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, đức Như Lai vì 5 sự lợi ích nên cứ 5 hôm đi thị sát phòng các Tỉ-kheo một lần. Thấy một Tỉ-kheo bị mụt nhọt ở tay, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Ông có được điều hòa, an lạc không?

—Bạch Thế Tôn! Con bị mụt nhọt ở tay khiến bát bị vỡ mà Thế Tôn chế giới không cho ăn trên bàn nên không được an vui.

—Từ nay Ta cho phép Tỉ-kheo bệnh được ăn trên bàn nhưng không cho phép vẽ trên bàn nhiều màu sắc.

Nếu bàn ăn của Tăng vẽ nhiều màu sắc thì không có tội.

Nếu là bàn riêng thì chỉ nên dùng một màu. Tỉ-kheo bệnh ăn trên bàn, trước hết nên đứng chú tâm tưởng niệm rồi ăn thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo không có bệnh thì hoàn toàn không cho ăn trên bàn.

Nếu vì già bệnh, hoặc mụt nhọt trên tay ra máu, hoặc bát nặng, hoặc đầy, hoặc nóng, hoặc lạnh thì được ăn trên bàn không có tội. Nhưng nếu Tỉ-kheo không bệnh mà ăn trên bàn thì phạm tội Việt tỳ ni. Đó gọi là phép ăn trên bàn.

Kệ tóm tắt:

Ăn tỏi và phú bát
Kết khuy cùng đai lưng
Ngồi xe, ngựa, ngồi chung
Ngồi cùng giường, ăn chung,
Bàn ăn nhiều màu sắc
Kết thúc phần thứ tám.

VÌ MÌNH MÀ NGƯỜI TA GIẾT SÚC VẬT.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đi du hành phương xa rồi trở về thành Xá-vệ. Đến giờ khất thực, họ khoác y, cầm bát đi vào một nhà đàn việt quen biết cũ tên là A Bạt Tra. Đàn việt thấy thầy liền chào:

—Chào sư phụ! Vì sao mà đã lâu lắm không thấy sư phụ đến?

—Này lão trượng! Đã lâu ngày tôi mới đến, vậy ông định đãi tôi món ngon vật lạ gì đây?

—Ngày mai con sẽ cúng dường trai phạn cho thầy!

—Ông đừng có cúng thức ăn của bọn thợ dệt.

—Thức ăn của thợ dệt là thứ gì?

—Tức là cơm hẩm, canh đậu đó!

—Con không cúng cơm hẩm, canh đậu cho thầy đâu, mà sẽ cúng cơm thịt.

—Ông đừng có cúng cho tôi thịt nguội.

—Con sẽ không cúng thịt nguội cho thầy, mà sẽ nấu nóng rồi mới cúng.

—Tôi nói thịt nóng không phải kiểu nóng như vậy.

—Vậy thì nóng như thế nào?

—Nghĩa là thịt của con vật vừa mới chết.

—Nếu thầy muốn như vậy thì ngày mai hãy đến sớm, con sẽ giết con vật trước mặt thầy rồi mới nấu nóng.

—Vâng.

Sáng sớm hôm sau, họ khoác y, cầm bát đi đến nhà ấy, đàn việt bèn đem dê, heo, gà ra để la liệt trước mặt Tỉ-kheo, rồi giết thịt cúng dường. Khi ăn xong họ ra về, đàn việt chê trách:

—Sa-môn Cù Đàm dùng vô số phương tiện chỉ trích việc sát sinh, ca ngợi không sát sinh, vậy mà vị Sa-môn này bảo người ta giết ngay trước mắt thì có khác gì mình tự giết!

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

—Này các Tỉ-kheo! Các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Này các Tỉ-kheo! Đó là việc ác. (cho đến Phật nói) Vì sao các ông bảo người ta sát sinh ngay trước mặt? Từ nay về sau, Ta không cho phép thí chủ vì mình mà sát sinh. Vì mình mà sát sinh tức là vì Tỉ-kheo mà giết súc vật. Nếu thí chủ vì Tỉ-kheo mà giết súc vật thì tất cả Tỉ-kheo, Tỉ-kheo ni, Thức xoa ma ni, Sa di, Sa di ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đều không được ăn. Cũng vậy, nếu họ vì Ưu bà di mà giết hại thì tất cả Tỉ-kheo không được ăn cho đến Ưu bà di cũng không được ăn. Vì người khác mà giết có ba trường hợp: thấy, nghe và nghi. Thấy nghĩa là chính mắt mình thấy họ giết vì mình thì không được ăn. Đó gọi là thấy. Nghe nghĩa là chính tai mình nghe, hoặc nghe từ người khác rằng họ giết vì mình thì không được ăn. Nếu người thuật lại là kẻ không đáng tin, chỉ vì muốn nhiễu loạn Tỉ-kheo thì không nên nghe họ nói mà nên nghe người đáng tin để xác định chắc chắn. Đó gọi là nghe. Nghi nghĩa là Tỉ-kheo đến nhà đàn việt thường thấy con dê, sau đó đến thì thấy đầu, chân dê trên đất; thấy vậy tâm sinh nghi nên hỏi: “Con dê trước thấy ở đây bây giờ đâu rồi?” Nếu họ nói: “Tôi đã vì thầy mà làm thịt rồi”, thì không nên ăn. Nếu họ nói: “Thưa tôn giả! Vì tôi giết để tế trời rồi ăn thịt mà ăn không hết nên cúng cho thầy”, thì được ăn. Đó gọi là nghi.

Cũng thế, tất cả mọi sinh vật hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc nghi cũng đều như vậy.

Đó gọi là vì mình mà người ta giết súc vật.

THỊT NGƯỜI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, trong thành Xá-vệ có một Ưu bà tắc tên Tủy Ti, bà vợ cũng tên Tủy Ti, lại có một Tỉ-kheo khách cũng tên Tủy Ti. Ưu bà tắc nghe thế liền suy nghĩ: “Sư phụ cùng tên với ta, ta hãy đến mời thầy thọ trai”, bèn đi đến tinh xá mời về nhà, sửa soạn các thức ẩm thực cúng dường. Đoạn, ông cúi đầu đảnh lễ dưới chân, quì gối chắp tay bạch rằng:

—Kính xin tôn giả nhận bốn sự cúng dường của con, là: y phục, ẩm thực, sàng tọa và thuốc chữa bệnh.

Tỉ-kheo nhận lời mời. Thế rồi, ông chồng phải theo khách buôn đi xa, bèn dặn dò bà vợ:

—Tôi đi xa, bà ở nhà phải lo cúng dường sư phụ chu đáo, chớ để thiếu thốn.

Sau khi ông đi rồi, vị Tỉ-kheo thấy trong người không điều hòa, muốn uống thuốc xổ, liền nói với Ưu bà di:

—Tôi muốn uống thuốc xổ, bà có thể tùy thời theo thứ tự lo giúp thức ăn được không?

—Dạ thưa được.

Sau khi thầy uống thuốc xổ, theo thứ tự bà cho dùng những thức ăn phù hợp với bệnh như cháo lỏng, cháo đặc rồi đến thịt. Bà lấy một số tiền đưa đứa tớ gái bảo:

—Ngươi cầm số tiền này đi mua thịt đem về.

Đứa tớ gái bèn đi ra chợ, nhưng hôm đó nhằm ngày ăn chay không có ai mổ thịt nên không mua được, phải về tay không. Lúc ấy, Ưu bà di lòng không vui, suy nghĩ: “Sư phụ uống thuốc, nếu không có thức ăn hợp với bệnh, sợ e bệnh nặng thêm”. Nghĩ thế, bà lấy hạt cải đem nghiền, rồi tẩm với dầu, đoạn đi vào phòng, dùng dao bén cắt thịt bắp vế đưa cho nữ tì, bảo:

—Ngươi dùng dầu hạt cải rửa sạch miếng thịt này, rồi nấu chín đem đến cho thầy, hỏi thầy ngày mai cần thức ăn gì nữa?

Đứa nữ tì theo lời dạy, nấu thịt chín đưa đến, rồi hỏi thầy:

—Ngày mai thầy cần ăn món gì?

—Thôi đừng đem đến nữa.

Khi ấy, Ưu bà di bị vết thương đau đớn nên nằm nghỉ. Người chồng đi buôn trở về (không thấy bà vợ ra đón) liền nghĩ: “Thường khi ta đi xa về, bà vợ ra tận cửa thứ hai, thứ ba nghênh đón, hôm nay vì sao không thấy ra đón”. Đoạn, ông vào phòng, thấy bà vợ đang nằm trên giường liền nổi giận mắng:

—Vì sao ngươi khinh ta không ra đón tiếp?

—Ông đi lần này có công đức gì mà muốn tôi phải ra nghênh đón?

—Ta đi chuyến này được cả trăm nghìn vạn bạc.

—Đó là thứ tài sản bên ngoài có gì là ghê gớm đâu! Còn tôi thì đã tự cắt thịt mình để cung cấp cho sư phụ.

—Bà cắt ở chỗ nào vậy?

Bà vợ liền vén y phục lên chỉ cho xem. Ông chồng thấy thế ngất xỉu, nằm sóng soải trên đất. Lúc ấy, quỉ thần thấy vậy liền báo với Tỉ-kheo, Tỉ-kheo nghe thế bèn nhập từ tam muội dùng định lực truyền cảm khiến bà vợ bình phục lại như trước. Đoạn, bà nói với chồng:

—Đứng dậy! Đứng dậy! Đừng sợ, nhờ uy thần của sư phụ mà vết thương của tôi đã bình phục rồi.

Người chồng đứng dậy thấy vết thương của vợ đã bình phục, lòng rất hoan hỷ, liền đi đến nơi thị tứ, nói như sau:

—Bà vợ tôi tinh tấn bằng cách cắt thịt trên mình để cúng dường.

Mọi người nghe thế, liền chê trách:

—Vì sao Sa-môn Thích tử ăn thịt người?

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! Vì con không nhập định (nên không biết).

—Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn thịt người.

Lại nữa, khi Phật trú tại vườn Lộc Dã Tiên Nhân ở Ba-la-nại, có một Tỉ-kheo mắc bệnh vàng da. Lương y nói với thầy:

—Nếu tôn giả uống máu người thì có thể khỏi bệnh. Nếu không uống thì sẽ chết, không còn có phương kế nào khác.

Lúc ấy, có một người phạm vương pháp, bị bắt trói ngoặt hai tay ra sau lưng, mình khoác vòng hoa Ca tì la, lính đánh trống tuyên đọc án lệnh, dẫn đến pháp trường. Tỉ-kheo đến chỗ tên đao phủ nói:

—Này tráng sĩ! Cho tôi uống máu của người này nhé!

Tên đao phủ nói:

—Nếu thầy muốn ăn thịt tôi cũng cho huống gì là máu!

Y liền đặt tội nhân ngồi dưới đất, lấy dao cắt mạch máu hai bên yết hầu cho máu chảy ra. Tỉ-kheo bèn dùng hai tay bụm lấy máu mà uống, bị người đời chê trách rằng:

—Đây không phải là Tỉ-kheo mà là quỉ uống máu người.

Thế rồi, họ dùng gạch, đá, đất cục ném Tỉ-kheo đó đến què chân, khi ấy mới thoát được. Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Này Tỉ-kheo! Đó là việc ác, yêu quí mạng sống của mình đến như vậy sao? Từ nay về sau Ta không cho phép uống máu người, cho đến tủy người; tất cả đều không được uống. Nếu Tỉ-kheo mọc mụt nhọt trên đầu mà thầy thuốc bảo phải mài xương người thoa mới lành thì được thoa. Nhưng khi đã thoa thì không được ở trong chúng mà nên ở trong một căn phòng nhỏ bên cạnh; đến khi khỏi bệnh phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới được vào trong chúng.

Lại nữa, khi Phật an trú tại Tì-xá-li, có một giống người chuyên ăn thịt rồng, các Tỉ-kheo cũng ăn thịt rồng. Vì thế mà rồng bị sát hại rất nhiều. Khi ấy có một Long nữ đến đứng trước giường của Thế Tôn, khóc lóc. Phật biết nhưng vẫn hỏi:

—Vì sao mà ngươi khóc?

—Bạch Thế Tôn! Có người ở Tì-xá-li này ăn thịt rồng, các Tỉ-kheo cũng ăn thịt rồng, vì thế mà rồng bị sát hại rất nhiều, kính xin Thế Tôn đừng cho các Tỉ-kheo ăn thịt rồng.

Bấy giờ, Thế Tôn tùy thuận thuyết pháp chỉ dạy, khiến Long nữ hoan hỷ rồi cáo lui. Đoạn, Thế Tôn đi đến chỗ đông đúc các Tỉ-kheo, trải tọa cụ ra ngồi, thuật lại đầy đủ sự việc trên với các Tỉ-kheo. Rồi Phật chế định:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn thịt rồng, máu rồng, xương rồng, gân rồng, tủy rồng, nói chung tất cả đều không cho ăn. Nhưng nếu có các bệnh ngoài da cần xương rồng thì được dùng xương rồng mài thành bột để thoa, không có tội.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, con voi của vua Bình Sa chết, có những bọn chiên đà la ti tiện đem ăn thịt, trong các Tỉ-kheo, có người cũng ăn. Bấy giờ, đồng tử Kỳ Cựu đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng hầu một bên, bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Con voi của vua Bình Sa chết có những kẻ Chiên đà la ti tiện đem ăn thịt, các Tỉ-kheo có người cũng ăn mà Tỉ-kheo là người xuất gia được người ta kính trọng, vậy xin Thế Tôn đừng cho họ ăn thịt voi.

Thế Tôn bèn tùy thuận thuyết pháp chỉ dạy khiến đồng tử được lợi ích, hoan hỷ liền cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật mà cáo lui. Khi ấy, Thế Tôn đi đến chỗ có đông các Tỉ-kheo, trải tọa cụ ngồi, thuật lại đầy đủ sự việc trên với các Tỉ-kheo. Rồi Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho ăn thịt voi cho đến tủy voi cũng không cho ăn. Nhưng dùng ngà voi, xương voi làm vật để kiền bát, làm khuy y thì không có tội.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy con ngựa của vua Bình Sa chết, cũng như trường hợp con voi đã nói ở trên. Nếu ở ngoài da có bệnh ghẻ nhọt cần máu ngựa để bôi thì dùng để bôi không có tội. Nhưng khi đã bôi thì không được ở trong chúng mà nên ở một căn phòng nhỏ ở bên cạnh phòng Tăng.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, vì các Tỉ-kheo ăn thịt chó nên khi vào xóm làng bị các con chó chạy theo sủa vang. Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn cho đến Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn thịt chó, tủy chó cũng đều không cho ăn. Nhưng nếu bị chó cắn cần đốt lông chó bôi vào vết thương thì được dùng, không có tội.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, có một Tỉ-kheo ăn thịt quạ. Lúc thầy vào xóm làng khất thực, hoặc khi đi kinh hành trong rừng thì bầy quạ bay theo kêu vang. Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, cho đến Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn thịt quạ cũng như tủy quạ.v.v… đều không cho phép ăn. Nhưng nếu cần lông cánh dùng để trị bệnh ngoài da thì được dùng không có tội.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, có một Tỉ-kheo ăn thịt diều hâu. Lúc thầy đi kinh hành trong rừng bị bầy diều hâu bay theo kêu vang. Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, cho đến Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn thịt diều hâu, cũng như tủy diều hâu đều không được ăn. Nếu cần lông cánh trị bệnh ngoài da thì được phép dùng không có tội.

Tóm lại, các loại thực phẩm kể sau không được ăn:

1. Thịt người.

2. Thịt rồng.

3. Thịt voi.

4. Thịt ngựa.

5. Thịt chó.

6. Thịt quạ.

7. Thịt diều hâu.

8. Thịt heo.

9. Thịt khỉ.

10. Thịt sư tử và tỏi gồm các loại sống, chín, vỏ, lá tất cả đều không được ăn.

Nếu cần dùng tỏi để bôi vết thương ở ngoài da thì được dùng. Nhưng khi đã bôi thì không được vào trong chúng mà nên ở một căn phòng nhỏ bên cạnh phòng Tăng. Khi bệnh lành phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới được vào trong chúng. Đó gọi là phép dùng thịt, tỏi.

PHÉP DÙNG DA.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến nhà một người chăn trâu, ngồi trên giường. Bỗng có con trâu nghé mới sinh thấy màu y của Tỉ-kheo giống mẹ nó, nó liền chạy đến bên thầy. Tỉ-kheo dùng tay xoa trên đầu, vuốt nhè nhẹ nói như sau:

—Da con này mềm mại, đẹp đẽ, có thể làm tọa cụ được.

Lúc ấy, người chăn trâu suy nghĩ: “Vị Tỉ-kheo này vốn là chỗ quen biết của vua, đại thần quí hiển, có thế lực lớn đang muốn được tấm da con này”, liền hỏi:

—Thầy đang cần da sao? Tôi sẽ cho.

—Hãy cho tôi tấm da con trâu nghé này đây.

—Trong nhà tôi có tấm da khô của con trâu nghé cũng mềm mại, đẹp đẽ, tôi sẽ chải chuốt thẳng thớm rồi cho thầy.

—Nếu ông muốn cho thì hãy cho tôi tấm da con này chứ tôi không cần cái khác.

Lúc ấy, người chăn trâu liền suy nghĩ: “Vị Tỉ-kheo này có thế lực lớn, có thể gây ra điều bất lợi cho ta”. Vì sợ tai họa, ông ta liền giết con nghé trước mặt Tỉ-kheo, rồi lột da cho thầy. Lúc con trâu mẹ đi ăn trở về không thấy con mình, đi quanh các bờ rào kêu vang. Người chăn trâu liền oán trách:

—Sa-môn Thích tử mà không có lòng từ. Nếu Sa-môn ở vào hoàn cảnh con trâu mẹ thì tâm ý sẽ như thế nào?

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi, Phật hỏi:

—Này các Tỉ-kheo! Các ông có việc đó thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

—Này các Tỉ-kheo! Đó là việc ác. Vì sao các ông bảo người ta giết sinh vật ngay trước mắt mình? Từ nay về sau, Ta không cho phép dùng da. Da gồm có các loại: da bò, da trâu, da cọp, da báo, da gấu, da nai; đại loại tất cả các loại da như vậy đều không được dùng để ngồi, chỉ cho phép dùng da dê ở biên địa thứ nô mà thôi. Da dê có hai loại: một là dê đen, hai là dê lang. Và dê đen, dê lang mỗi loại được chia làm mười thứ như trên kia đã nói. Nếu ngồi trên da thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu ngồi trên nệm bông đặt trên da thì phạm hai tội Việt tỳ ni. Nếu ngồi trên giày da thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu nằm trên giày da thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu nằm trên giày da từ đầu gối trở lên thì phạm tội Việt tỳ ni; nhưng nếu từ đầu gối trở xuống thì không có tội. Hoặc dùng da làm giường ngồi lên trên thì không có tội. (Đó gọi là phép dùng da).

VẬT LAU CHÂN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà sắm các vật để lau chân, đệ tử ngoại đạo thấy thế suy nghĩ: “Chúng ta hãy cùng nhau quấy nhiễu kẻ ưu bà tắc kia” như trong vấn đề mạt vụn ở trên đã nói rõ cho đến Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép dùng các vật để làm đồ lau chân. Đồ lau chân hoặc vuông, hoặc tròn, nếu khắc trên chớp có hình hạt đậu ma sa, đậu môn cụ thì tất cả đều không cho dùng. Nếu dưới chân bị dơ bẩn thì được phép dùng cỏ vo tròn lại, hoặc dùng gạch, ngói để chùi. Đó gọi là vật dùng để lau chân.

THUỐC BÔI MẮT.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, nhằm ngày lễ hội, trai gái ra khỏi thành đi du ngoạn, nhóm sáu Tỉ-kheo dùng màu xanh da trời và màu đen trang điểm đôi mắt nên bị người đời chê cười rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như những đồng tử quí hiển, dùng màu xanh da trời trang điểm đôi mắt?

Có người thấy trang điểm màu đen thì nói:

—Sa-môn Thích tử giống như sứ giả của kẻ hạ tiện, dùng màu đen bôi lên mắt mà đi. Đây là hạng người bại hoại nào có đạo hạnh gì!

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn cho đến Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép trang điểm mắt.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, ở trong vườn Am Bà La của đồng tử Kỳ Cựu. Bấy giờ, các Tỉ-kheo bị đau mắt, đồng tử Kỳ Cựu nói:

—Tôn giả có thể dùng loại thuốc này để bôi mắt.

—Đức Thế Tôn chế giới không cho phép bôi mắt.

—Tôi sẽ đến xin Thế Tôn cho phép việc này.

Thế rồi, ông đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Các Tỉ-kheo là những người ăn mỗi ngày một bữa, mắt là bộ phận trọng yếu của con người, xin Thế Tôn cho phép các Tỉ-kheo bôi thuốc vào mắt.

—Từ nay về sau, Ta cho phép dùng thuốc bôi mắt, chỉ trừ thuốc màu xanh da trời. Nhưng nếu thầy thuốc nói: “Thưa tôn giả! Bệnh đau mắt này nếu được thuốc có màu xanh da trời bôi vào thì mới lành, ngoài ra không có phương kế nào khác”. nếu như vậy thì được bôi. Khi đã bôi thuốc thì không được ở trong chúng mà nên ở một căn phòng nhỏ cạnh phòng chúng Tăng. Khi bệnh lành phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới vào trong chúng.

Đó gọi là thuốc bôi mắt.

LỌ ĐỰNG THUỐC NHỎ MẮT.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, các Tỉ-kheo dùng lá cây đựng thuốc nhỏ mắt, Phật biết nhưng vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Đây là cái gì vậy?

—Đó là thuốc nhỏ mắt, bạch Thế Tôn!

—Thuốc nhỏ mắt là vật quí nên dùng lọ mà đựng.

Thế rồi, các Tỉ-kheo dùng vàng bạc làm lọ đựng thuốc. Phật dạy:

—Ta không cho phép dùng vàng bạc và tất cả các vật báu làm lọ, mà nên dùng đồng, sắt, thiết, tre, lau, lông, cánh chim, ít nhất là làm bao da để đựng.

Đó gọi là lọ đựng thuốc nhỏ mắt.

QUE BÔI THUỐC VÀO MẮT.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, có Tỉ-kheo dùng tre làm que bôi thuốc vào mắt, Phật biết mà vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Đây là cái gì vậy?

—Bạch Thế Tôn! Đó là cái que để bôi thuốc vào mắt.

—Đôi mắt là bộ phận mềm mại, nên dùng vật trơn để làm que.

Thế rồi, Tỉ-kheo dùng vàng bạc để làm. Phật dạy:

—Ta không cho phép dùng vàng bạc và tất cả những bảo vật để làm, mà nên dùng đồng sắt, răng, xương, chiên đàn, gỗ cứng để làm, rồi bào chuốt cho trơn tru ít nhất là dùng ngón tay để bôi thuốc. Đó gọi là que bôi thuốc vào mắt.

PHÉP DÙNG Ô DÙ.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, nhằm ngày lễ hội của người đời, trai gái đi dự lễ, nhóm sáu Tỉ-kheo cầm dù ô nhiều màu sắc, có người còn cầm ô dù bằng vỏ cây, bị người đời chê bai rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như vương tử, đại thần cầm ô dù với nhiều màu sắc?

Có kẻ thấy họ cầm dù bằng lá cây thì nói:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như sứ giả của kẻ hạ tiện, cầm ô dù bằng lá cây mà đi? Đây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, cho đến Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép dùng ô dù.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, trưởng lão A Na Luật, Kim Tỳ La an cư tại núi Tháp vừa xong, trở về thành Xá-vệ, lễ bái Thế Tôn. Phật biết nhưng vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Vì sao trên y bị muối đóng bẩn như vậy?

—Vì Thế Tôn chế giới không cho phép đội dù, con đi khất thực bị mắc mưa nên mới ra nông nổi này.

—Từ nay về sau, Ta cho phép đội dù. Các loại dù như dù bằng vỏ cây, dù bằng lá cây, dù tre, đại loại các thứ như thế đều cho phép dùng. Nhưng không cho phép dùng loại dù có nhiều màu sắc.

Đó gọi là phép dùng ô dù.

PHÉP DÙNG QUẠT.

Vào ngày lễ hội của người đời, trai gái đi du ngoạn đông đảo, nhóm sáu Tỉ-kheo cầm quạt được trang điểm bằng vân mẫu, có vị cầm quạt nan bị người đời chê cười rằng:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như vương tử đại thần cầm quạt được trang điểm bằng vân mẫu?

Có người thấy họ cầm quạt bằng nan liền phê bình:

—Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như sứ giả của kẻ hạ tiện cầm quạt nan. Đây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn, cho đến Phật dạy:

—Từ nay về sau, Ta không cho phép cầm quạt.

Lại nữa, khi Phật an trú tại Tì-xá-li, vì bị muỗi quấy rối trong phòng thiền, các Tỉ-kheo dùng y để quạt phát ra tiếng kêu. Phật biết nhưng vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Các ông làm gì mà phát ra tiếng kêu giống như voi vẫy tai vậy?

—Bạch Thế Tôn! Vì Thế Tôn chế giới không cho dùng quạt, các Tỉ-kheo bị muỗi cắn phải dùng y quạt muỗi nên phát ra tiếng kêu như vậy.

—Từ nay về sau, Ta cho phép dùng quạt tre, quạt sậy, quạt lá cây, chỉ trừ quạt vân mẫu và quạt được vẽ nhiều màu sắc. Nhưng nếu quạt của Tăng thì vẽ nhiều màu sắc không có tội. Còn quạt riêng cá nhân thì phải hoại sắc. Nếu có người dùng hương thơm bôi trên quạt rồi đem đến cúng dường thì được phép chùi sạch rồi sử dụng.

Đó gọi là phép dùng quạt.

PHÉP DÙNG PHẤT TRẦN.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, nhằm ngày lễ hội, nam nữ đi du ngoạn, nhóm sáu Tỉ-kheo cầm phất trần bằng lông đuôi trâu trắng có cán nạm vàng bạc, bị người đời chê cười, cho đến Phật dạy:

—Từ nay về sau, ta không cho phép cầm phất trần.

Lại nữa, khi Phật an trú tại Tì-xá-li, vì trong phòng thiền bị muỗi quấy rầy nên các Tỉ-kheo dùng phất trần bằng lá cây đập muỗi kêu ra tiếng. Phật biết nhưng vẫn hỏi:

—Này Tỉ-kheo! Đó là tiếng gì vậy?

—Bạch Thế Tôn! Vì Thế Tôn chế giới không cho phép cầm phất trần nên các Tỉ-kheo dùng phất trần bằng lá cây đuổi muỗi mà phát ra tiếng.

—Từ nay về sau, Ta cho phép dùng phất trần. Phất trần gồm các loại: Phất trần bằng chỉ sợi, bằng vải tua, bằng cỏ rối, bằng vỏ cây. Trong đây chỉ trừ phất trần bằng đuôi trâu trắng, đuôi ngựa trắng có cán nạm vàng bạc, ngoài ra tất cả đều cho phép dùng. Nếu có màu trắng nên nhuộm cho hoại sắc thì được dùng. Khi cầm phất trần không được làm ra dáng ẻo lả như kiểu dâm nữ cầm phất trần.

Đó gọi là phép dùng phất trần.

Kệ tóm tắt:

Giết cho mình, ăn thịt người,
Thuốc nhỏ mắt, lọ và que,
Da trâu cùng đồ lau chân,
Dùng ô dù và phất trần.
Phẩm thứ chín đến đây hết.