LUẬT MA HA TĂNG KỲ

HAI PHÁP BẤT ĐỊNH

1. GIỚI: NGỒI CHỖ KHUẤT VỚI NGƯỜI NỮ.

2. GIỚI: NGỒI CHỖ TRỐNG VỚI NGƯỜI NỮ.

Khi Phật an trú tại thành Xá vệ nói rộng như trên. Bấy giờ, ông Bà la môn đồng hương, bạn cũ của trưởng lão Ưu Đà Di có cô con gái vừa về nhà chồng, ưu sầu, không vui, nên cô sai người báo tin cho cha cô đến thăm, nếu không đi được thì nhờ trưởng lão Ưu Đà Di đến thăm cô. Người cha được tin bèn đến nói với Ưu Đà Di: “Con gái tôi vừa mới về nhà chồng, ưu sầu không vui, nên sai người nhắn tin tôi, đồng thời cũng nhắn tin thầy (đến thăm). Tôi nay là người thế tục có nhiều việc nên không thể đi được, xin thầy thỉnh thoảng đến thăm nó”.

Ưu Đà Di nói: “Có thể được! Nếu ông không dặn dò, tôi cũng phải đến thăm, huống gì ông đã dặn”. Thế rồi, trưởng lão Ưu Đà Di sáng sớm hôm sau khoác y đi đến nhà ấy. Khi ấy cô ta đang đóng cửa mà ngồi. Ưu Đà Di ở bên ngoài kêu: “Cô Tuyết có ở nhà không?”. Cô hỏi: “Ai đó?”. Đáp: “Tôi là Ưu Đà Di đây!”. Cô nói: “Sư phụ! Thầy hãy vào. Sư phụ, thầy hãy vào”. Thầy bèn bước vào, ngồi ở trong phòng cùng nói chuyện vãng với cô. Bấy giờ, bà mẹ chồng của cô là Tì Xá Khư Lộc Mẫu có ba mươi hai cậu con trai và ba mươi hai cô con gái, và các nàng dâu bà đều có phước đức, thành tựu các tướng tốt. Khi ấy bà thường dạy bảo con trai, con gái và các nàng dâu, khuyên răn họ về cách đối xử với cha mẹ, bà con. Rồi bà đi tới trước phòng của cô ấy. Bà vốn là người biết rõ lúc nào là đúng thời, nên không vào liền mà đứng trù trừ ở ngoài cửa. Thế rồi, bà nhìn vào khe cửa, thấy trong phòng có người cạo tóc, khoác y, đang nháy nhó thì thầm (với nàng dâu bà). Bà biết đó là người xuất gia nhưng không biết là Tỉ-kheo hay Tỉ-kheo ni, liền gọi cô dâu. Cô dâu ứng ngôn hỏi: “Ai đó?”

Đáp: “Ta đây”.

Cô nói: “Đại gia xin mời vào”.

Bà hỏi: “Người ở bên ngươi là ai vậy?”.

Cô đáp: “Thầy Ưu Đà Di đấy”.

Ưu Đà Di nói: “Ưu Bà Di vì sao không bước vào?”.

Lộc mẫu liền bước vào, hỏi: “Thầy Ưu Đà Di! Thầy ngồi đây sao?”

Đáp: “Đúng vậy”.

Bà thưa: “Thưa thầy, chỗ ngồi này không được tỏ rõ, giả sử có điều gì mờ ám thì ai có thể biết được! Con sẽ đem việc này nói với các thầy Tỉ-kheo”.

Ưu Đà Di vặn lại: “Bà nói những gì?”

Tì Xá Khư Lộc Mẫu nói: “Thấy Ưu Đà Di cùng ngồi với phụ nữ”.

Ưu Đà Di liền phản pháo: “Tôi cũng sẽ đến Phật nói về bà!”.

Bà bèn hỏi: “Thầy định nói điều chi?”.

Ưu Đà Di nói: “Tôi thấy Tì Xá Khư Lộc Mẫu cùng ngồi với đàn ông”.

Bà liền hỏi: “Đàn ông nào?”.

Ưu Đà Di nói:”Ta chẳng phải đàn ông sao?”

Bà liền nói: “Thưa thầy! Phật không cấm con cùng ngồi với đàn ông, nhưng thầy là người xuất gia phải giữ gìn phép của Sa môn chứ?”.

Ưu Đà Di giận dữ: “Than ôi! Ngươi đã não loạn ta không ít!”, rồi đứng lên bỏ đi.

Thế rồi, thầy đi tới nơi khác và cùng ngồi với phụ nữ tại một chỗ trống. Còn Tì Xá Khư Lộc Mẫu thì dạy bảo các con gái, con dâu xong rồi, bèn đi ra, lại thấy Ưu Đà Di cùng ngồi nói chuyện với phụ nữ tại một chỗ trống, bà liền đến bên Ưu Đà Di nói: “Đó là việc bất thiện, không phải phép tắc của Sa môn. Vì sao thầy lại ngồi với phụ nữ ở chỗ trống trải, tôi sẽ đem việc này nói với các Tỉ-kheo”. Ưu Đà Di hỏi: “Bà nói việc gì?”. Tì Xá Khư Lộc Mẫu nói: “Thấy Ưu Đà Di ngồi một mình với phụ nữ ở chỗ trống mà nói chuyện”. Ưu Đà Di liền phản pháo: “Ta cũng sẽ đến Phật nói về việc của bà”. Tì Xá Khư Lộc Mẫu hỏi: “Thầy nói điều gì?”. Ưu Đà Di nói: “Tôi thấy Lộc Mẫu cùng ngồi nói chuyện với đàn ông ở chỗ trống”. Tì Xá Khư Lộc Mẫu hỏi: “Người đàn ông nào?”. Đáp: “Ta chẳng phải đàn ông chắc?”. Tì Xá Khư Lộc Mẫu nói: “Tôi là người thế tục ngồi với đàn ông thì Phật cho phép, còn thầy là Sa môn phải giữ gìn phép tắc chớ sao lại thế?”. Ưu Đà Di nói: “Bà quấy rầy ta ở mọi chỗ”. Nói như thế rồi, liền đứng dậy đi.

Bấy giờ Tì Xá Khư Lộc Mẫu bèn đem việc đó bạch với các Tỉ-kheo. Các Tỉ-kheo bèn đem bạch đầy đủ với Thế Tôn. Phật bảo: “Gọi Ưu Đà Di đến!”. Họ liền gọi đến. Phật bèn hỏi Ưu Đà Di: “Ông có thật như thế chăng?”Đáp: “Có thật như thế, bạch Thế Tôn!”. Phật liền khiển trách Ưu Đà Di: “Ông là kẻ ngu si. Đó là một việc xấu, người thế tục còn biết phép tắc của người xuất gia điều gì nên làm, điều gì không nên làm. Còn ông là người xuất gia mà lại không biết phép tắc ngồi đứng, nói năng, điều gì nên, điều gì không nên. Há ông không thường nghe Ta dùng nhiều nhân duyên chê trách việc tùy thuận dâm dục và khen ngợi ly dục hay sao? Nay vì sao ông làm việc xấu như thế? Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng nó để nuôi lớn thiện pháp”. Rồi Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo sống tại thành Xá vệ phải tập trung lại tất cả. Khi đã tập họp xong, Thế Tôn bèn đem nhân duyên ấy hướng đến các Tỉ-kheo nói rộng về các nguyên nhân sinh khởi những sự lỗi lầm, khiển trách những lỗi lầm đã sinh khởi, rồi tùy thuận thuyết pháp cho các Tỉ-kheo. Vì mười việc lợi ích mà Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri chế giới cho các đệ tử, lập ra pháp Ba La Đề Mộc Xoa.

Mười việc đó là:

1. Vì nhiếp phục Tăng.

2. Vì nhiếp phục Tăng một cách triệt để.

3. Vì để cho Tăng được an lạc.

4. Vì để chiết phục kẻ không biết xấu hổ.

5. Vì để những ai có tàm quí được sống an lạc.

6. Vì để cho người không có lòng tin khiến họ tin tưởng.

7. Vì để người đã có lòng tin tăng thêm tin tưởng.

8. Vì muốn chấm dứt Lậu hoặc ngay trong hiện tại.

9. Vì để cho các Lậu hoặc chưa sinh khởi thì không sinh khởi.

10. Vì muốn cho chánh pháp được tồn tại lâu dài, mở cửa cam lồ cho chư thiên và nhân loại.

Đó gọi là vì mười việc lợi ích mà Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri chế giới cho các đệ tử; ai chưa nghe thì nghe, ai nghe rồi nên nghe lại:

“Nếu Tỉ-kheo ngồi một mình với người nữ ở chỗ vắng vẻ, che khuất, có thể hành dâm được, rồi Ưu bà di khả tín tố cáo Tỉ-kheo ấy phạm một trong ba pháp: Hoặc Ba La Di, hoặc Tăng Già Bà Thi Sa, hoặc Ba Dạ Đề. Đoạn Tỉ-kheo ấy tự nói: “Tôi ngồi chỗ ấy”, thì trong ba pháp kia phạm pháp nào trị phạt theo pháp đó: Hoặc Ba La Di, hoặc Tăng Già Bà Thi Sa; hoặc Ba Dạ Đề, phải tùy theo lời tố cáo của Ưu bà di khả tín mà trị phạt đúng như pháp. Thầy Tỉ-kheo ấy là người phạm pháp Bất Định thứ nhất.

Nếu Tỉ-kheo ngồi một mình với người nữ tại chỗ trống, không thể hành dâm được, rồi có Ưu bà di khả tín tố cáo Tỉ-kheo ấy phạm một trong hai pháp: Hoặc Tăng Già Bà Thi Sa, hoặc Ba Dạ Đề. Đoạn Tỉ-kheo ấy tự nói: “Tôi ngồi chỗ ấy”, thì phải căn cứ vào lời tố cáo của Ưu bà di khả tín mà trị phạt Tỉ-kheo ấy đúng như pháp: Hoặc Tăng Già Bà Thi Sa, hoặc Ba Dạ Đề”.

Giải thích

(Xem lại một số từ ngữ đã được chú thích ở trước)

—Chỗ che khuất: Hoặc ở chỗ tối, hoặc chỗ có che chắn.

—Chỗ có thể hành dâm: Chỗ nam nữ có thể giao hoan mà không sợ hổ thẹn.

—Một mình: Chỉ có một nam, một nữ mà không có người khác; giả sử có người khác mà đang ngủ, hoặc điên cuồng, hoặc trẻ con, phi nhân, súc sinh thì cũng gọi là một mình.

—Ngồi chung: Ngồi gần nhau.

—Ưu bà di khả tín: Người thành tựu mười sáu pháp sau đây thì gọi là Ưu bà di khả tín:

1. Qui y Phật.

2. Qui y Pháp.

3. Qui y Tăng.

4. Không làm tổn thương lòng tịnh tín đối với Phật.

5. Không làm tổn thương lòng tịnh tín đối với Pháp.

6. Không làm tổn thương lòng tịnh tín đối với Tăng.

7. Tăng chưa được lợi ích có thể làm cho lợi ích.

8. Tăng đã được lợi ích có thể làm cho tăng trưởng.

9. Tăng chưa được danh dự thì có thể làm cho danh dự vang xa.

10. Tăng bị tiếng xấu có thể sớm trừ diệt.

11. Không hành động tùy theo sự thiên vị.

12. Không hành động tùy theo sự giận dữ.

13. Không hành động tùy theo sự sợ hãi.

14. Không hành động tùy theo sự mê muội.

15. Hướng đến sự ly dục.

16. Thành tựu thánh giới.

Những ai thành tựu mười sáu pháp này thì gọi là người khả tín (đáng tin).

Nếu Tỉ-kheo ấy tự nói rằng biết sự việc, nhưng không biết là mình có ngồi hay không, thì nên trị phạt về sự việc. Nếu nói biết là mình có ngồi, nhưng không biết về sự việc, thì nên trị phạt về lỗi đã ngồi. Nếu nói biết về sự việc cũng biết là mình có ngồi, thì nên trị phạt cả hai. Nếu nói không biết về sự việc, cũng biết là mình có ngồi hay không, thì nên căn cứ vào lời tố cáo của Ưu bà di khả tín mà làm phép Yết ma mích tội tướng (tìm xem dấu hiệu của tội).

(Một số từ ngữ đã giải thích ở trước)

—Chỗ trống trải: Chỗ sáng sủa trống trải, không có gì che chắn, đó gọi là chỗ trống trải.

—Chỗ không thể hành dâm: Chỗ mà, nếu nam nữ giao hoan thì có thể công xúc tu sĩ.

Thế nên nói:

“Nếu Tỉ-kheo ngồi một mình với một người nữ ở chỗ che khuất, kín đáo, có thể hành dâm được… , cho đến bị Ưu bà di khả tín tố cáo, thì Tăng phải trị phạt Tỉ-kheo ấy đúng pháp. Đó gọi là pháp Bất Định thứ nhất.

Nếu Tỉ-kheo ngồi một mình với người nữ ở chỗ trống trải, không thể hành dâm được… , cho đến bị Ưu bà di khả tín tố cáo, thì Tăng phải trị phạt Tỉ-kheo ấy đúng pháp. Đó gọi là pháp Bất Định thứ hai.

Hết hai pháp Bất Định

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hết quyển thứ bảy.