LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI NI TÁT KỲ

NÓI VỀ PHẦN HAI CỦA BA MƯƠI PHÁP NI-TÁT-KỲ BA-DẠ-ĐỀ

19. GIỚI: BUÔN BÁN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên, bấy giờ, nhóm 6 Tỉ-kheo mua các thứ sinh tô, dầu, mật, đường phèn, sữa, sữa chua tại giữa chợ để dùng, nên bị người đời chê trách rằng: “Vì sao Sa-mônthích tử không chịu khất thực mà đến các chợ mua thức ăn để ăn, mất hết cả phép tắc Sa môn, có đạo nào như thế?”

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm 6 Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi: “Có thật các ông mua các thức ăn tại chợ nên bị người đời chê trách không?”

Họ đáp:”Có thật như vậy, bạch Thế Tôn”.

Phật khiển trách: “Đó là việc xấu, đáng bị người chê trách. Các ông không nghe ta thường khen ngợi thiểu dục, khiển trách đa dục hay sao?. Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp”.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho tất cả các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi, cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỉ-kheo mua bán các thứ thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà”.

Giải thích

—Các thứ: Hoặc tự hỏi giá, hoặc nhờ người khác hỏi giá, hoặc tự thách giá, hoặc nhờ người khác thách giá, hoặc tự hạ giá, hoặc nhờ người khác hạ giá.

—Tự hỏi giá: Như hỏi: “Vật Này giá bao nhiêu?”. Và họ đáp: “Bán cho ông giá chừng đó”. Rồi hỏi: “Tôi mua với giá đó được không?”Vì cách hỏi không thanh tịnh, nên phạm tội Việt tì-ni. Nếu mua được vật ấy thì phạm Ni-tát-kì.

—Sai người khác hỏi: Như bảo: “Ngươi đến hỏi xem vật ấy họ đòi bao nhiêu”. Hoặc bảo: “Nếu họ đòi giá chừng đó thì ngươi nên trả cho họ”. Vì sai người ta hỏi những lời bất tịnh nên phạm tội Việt tì-ni. Nếu mua được vật đó thì phạm Ni-tát-kì.

—Thách giá: Chẳng hạn họ hỏi: “Vật Này giá bao nhiêu?”Rồi mình đáp: “Tôi bán cho ông với giá đó”. Và người kia nói: “Tôi muốn mua với giá đó”. Do tranh nhau thách trả nói những lời bất tịnh nên phạm tội Việt tì-ni. Nếu bán được vật đó, thì phạm Ni-tát-kì.

—Sai người thách giá: Như bảo tịnh nhân: “Ngươi đến thách giá như vậy. Nếu được giá đó thì bán”. Vì nói lời bất tịnh nên phạm tội Ni-tát-kì.

—Hạ giá: Như hỏi: “Giá vật Này bao nhiêu?”Rồi Họ đáp: “Một nghìn”, và mình nói: “Tôi trả cho ông 800”. Nếu họ đòi 900, rồi mình nói: “Tôi trả 700”… cho đến 10. Vì mong mua được vật của người ta mà bớt giá một cách bất tịnh, nên phạm tội Việt tì-ni. Nếu mua được thì phạm Ni-tát-kì.

—Sai ngưòi hạ giá: Cũng như vậy. Nếu căn cứ theo thời giá mà đi mua các vật, như vật dùng ban đêm, vật dùng trong 7 ngày, vật dùng suốt đời, vật tùy thân, vật nặng, vật bất tịnh, vật vừa thanh tịnh vừa bất tịnh, khi nói thì phạm tội Việt tì-ni, khi mua được thì phạm tội Ni-tát-kì. Nếu hỏi mua các vật dùng 7 ngày, trọn đời, tùy thân, vật nặng, vật vừa thanh tịnh vừa bất tịnh… , thì khi hỏi mua cũng phạm tội như vật dùng ban đêm kể trên.

Tại chợ, giá vải đã được quy định sẵn, Tỉ-kheo đem tiền đến mua vải, khi đặt tiền xuống sạp thì nên nói với chủ sạp: “Đây là giá tiền của tấm vải đó”. Nếu không nói (mà đặt tiền xong) im lặng cầm vải đi thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu mua dù lọng, rương, giày da, quạt, mía, cá, sữa chua, dầu, mật… các vật ấy cũng như vậy.

Có những quốc gia, việc mua bán tại các chợ đã có phép nhất định, người mua chỉ cần cầm tiền đặt ở chỗ vật cần mua, và người chủ sạp gật đầu, thì biết là đồng ý bán. Nhưng Tỉ-kheo khi mua cũng phải nói: “Giá tiền của vật Này đây”. Người chủ sạp biết hay không biết, đều phải nói như thế. Nếu không nói như thế mà im lặng cầm món hàng đi thì phạm tội Việt tì-ni.

Nếu món hàng đáng giá 50 đồng mà người chủ sạp thách giá 100 đồng, rồi Tỉ-kheo nói: “Tôi chỉ trả 50 đồng”. Chỉ mong mua với giá như vậy, thì không gọi là bớt (hạ) giá.

Nếu Tỉ-kheo biết người đứng trước mình đang muốn mua vật nào đó thì không được tranh mua mà nên hỏi: “Bà đã thôi chưa?”Nếu họ nói: “Tôi đang cố mua với giá đó”. Bấy giờ Tỉ-kheo không nên xen vào tranh mua với họ. Nếu mua thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng nếu người mua nói: “Tôi dừng rồi”, thì Tỉ-kheo nên nói với người chủ sạp: “Tôi muốn mua vật kia với giá đó”.

Nếu Tỉ-kheo trao đổi y bát với nhau thì không được làm trung gian tranh giành. Nếu tranh giành thì Phạm tội Việt tì-ni. Nếu người trước đã bỏ cuộc, rồi mình đổi lấy thì không có tội.

Nếu bán đồ vật giữa chúng tăng thì được phép ra giá, khi bán được thì không có tội.

Nếu Hòa thượng, A-xà-lê muốn mua lấy thì không được tranh giành. Nếu Tỉ-kheo với Tỉ-kheo mua bán đổi chác, nói những lời bất tịnh để mua thì không có tội. Đối với 96 hạng người xuất gia, dùng những lời bất tịnh trao đổi với họ để mua được vật thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo thấy người ta bán bát bèn suy nghĩ: “Cái bát Này đẹp, nếu đem đến nơi kia bán sẽ được lời”, rồi mua, thì phạm tội Việt tì-ni. Trái lại, nếu suy nghĩ: “Ta có vật Này mà không có tịnh nhân, đây là vật thanh tịnh”, thì được mua mà không có tội. Khi đến đó, hoặc Hòa thượng, A-xà-lê cần đến, hoặc mình bị bệnh, hoặc muốn làm công đức, được giá cao bèn bán đi mà không vụ lợi, thì không có tội. Đối với tất cả các vật khác cũng như vậy.

Nếu Tỉ-kheo khi cất giữ lúa suy nghĩ: “Loại Này về sau sẽ quí giá”, thì khi cất giữ phạm tội Việt tì-ni, khi đem bán, phạm Ni-tát-kì. Nếu suy nghĩ: “Sợ lúc nào đó giá lúa đắt đỏ, bấy giờ ta sẽ bán lúa Này và nhờ đó mà ta yên tâm tụng kinh ngồi thiền, hành đạo”. Đến khi đó, quả nhiên lúa đắt đỏ, thì hoặc dùng để ăn, hoặc cho Hoà Thượng, A-xà-lê, hoặc dùng làm công đức, còn thừa ra đem bán được lời, thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo cất thảo dược với suy nghĩ: “Sau Này giá đắt ta sẽ bán”, thì phạm tội Việt tì-ni. Về sau đem bán thật thì phạm tội Ni-tát-kì.

Nếu Tỉ-kheo mua thuốc với suy nghĩ: “Về sau Này khi có bệnh sợ giá thuốc đắt đỏ khó mua”, nhưng sau đó nếu không bệnh, hoặc uống còn thừa đem bán có lợi, thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo kinh doanh thuê thợ làm đồ gốm, thợ mộc làm việc, nói những lời bất tịnh, thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu đi thuê các loại thợ như thợ hồ, thợ vẽ, thì cũng như vậy. Nếu đi thuê xe ngựa, bò, lừa, lạc đà, người, thuyền… cũng như vậy.

Nếu Tỉ-kheo phụ trách công việc hằng tháng cho chúng Tăng, ra chợ mua các loại sữa, dầu, gạo, đậu, lúa mạch, bún, bột mì, khi đi tìm mua các thứ đó, nói những lời bất tịnh, thì phạm tội Việt tì-ni. Hoặc tự mua cho chính mình các thứ sữa, dầu… nói những lời bất tịnh thì phạm tội Việt tì-ni. Khi đã mua được thì phạm Ni-tát-kì.

Nếu Tỉ-kheo lúc đi mua đồ khen chê một cách trung thực về những vật ở trước người rằng: “Cái Này tốt, cái Này xấu, hoặc thô, hoặc tế, hoặc cân lượng lớn, nhỏ, thơm, thối… thì không có tội. Nếu người bán hàng nói: “Tôi sẽ cân đo đầy đủ”. Tỉ-kheo nên nói: “Ông bán đúng với giá Này thì thôi”.

Nếu Tỉ-kheo khất thực có mì, bún, thừa đem ra cửa hàng đổi sữa, dầu, tô lạt, nói những lời bất tịnh thì phạm tội Việt tì-ni. Khi đổi được thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà.

Tỉ-kheo không được đến những cửa hàng của những người tại chợ búa ồn náo để mua đồ, mà được đến những cửa hàng ít người, nói: “Nên biết rằng tôi mua với giá Này đây”. Tất cả đều nên nói như thế.

Nếu Tỉ-kheo khất thực có bún dư thừa, đem cho người khác để nhờ họ sửa chữa giày dép, nói những lời bất tịnh thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu trước đó cho người ta bún, sau đó người ta sửa chữa giày giúp, hoặc nguời ta sửa chữa trước, sau đó mình cho họ bún thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo dùng thức ăn thừa trong bát đem thuê người bảo họ sửa chỗ đi kinh hành, nói những lời bất tịnh, thì phạm tội Việt tì-ni. Chỉ nên nói rằng: “Hãy biết cái Này”. Nếu trước cho ăn, sau nhờ họ làm, hoặc trước nhờ họ làm, sau cho họ ăn, thì không có tội.

Có đàn việt muốn giúp đỡ Tỉ-kheo bèn đưa tiền cho chủ quán, nói: “Nếu Tỉ-kheo mỗ giáp hằng ngày đến đây có cần thứ gì thì tùy ý đưa cho thầy ấy”. Về sau, khi cần đến đòi hỏi, nói những lời bất tịnh, thì không có tội. Thầy Tỉ-kheo ấy đòi đồ vật mà ở sạp hàng không có, nên chủ quán đưa tiền cho Tỉ-kheo đến chỗ khác tìm mua, rồi Tỉ-kheo đến chỗ khác tìm mua vật mình cần, nói những lời bất tịnh, khi được vật thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà.

Tỉ-kheo đến cửa hàng dùng bất tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ, hoặc tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ, hoặc bất tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ, hoặc tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ.

—Bất tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ: Như hỏi người chủ sạp: “Vật Này đòi giá bao nhiêu? Tôi muốn biết giá của nó”.

—Tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ: Biết vật đó đề giá như thế, nhưng trả: “Tôi muốn mua với giá đó”.

—Bất tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ: Vật đó họ đòi giá như thế, nhưng nói: “Tôi mua với giá đó”.

—Tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ: Biết vật ấy giá chừng đó và mình mua đúng với giá đó.

Hai trường hợp Bất tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ và tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ, phạm tội Việt tì-ni. Trường hợp bất tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ, phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà. Trường hợp Tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ không có tội. Thế nên nói (như trên).

Hết giới Ni-tát-kì 18