LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI NI TÁT KỲ

NÓI RÕ PHẦN BA (NGUYÊN VĂN GỌI PHẦN BỐN) CỦA BA MƯƠI PHÁP NI-TÁT-KÌ BA-DẠ-ĐỀ.

24. GIỚI: CHO Y RỒI LẤY LẠI.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, trưởng lão Nan Đà, Ưu-ba-nan-đà, vào mùa Đông thời tiết khá lạnh, bèn mặc áo dày, trải chăn nệm ấm, trên đầu chít khăn Phú-la, ở trước đốt một lò lửa. Bấy giờ, có ngoại đạo da đen, mắt xanh, lạnh run lẩy bẩy đi đến, đứng trước hai thầy. Ngoại đạo thấy thế lòng sinh vui vẻ, liền nói với Tỉ-kheo: “Các vị xuất gia được sướng như vậy nhỉ! Thế rồi, tâm họ sinh hoan hỉ đối với Phật pháp, liền nói: “Chúng tôi cũng mang danh là xuất gia, nhưng Phất Lan Ca Diếp dạy chúng tôi sống lõa thể, nhổ tóc, leo lên núi, nhảy xuống khe, để cho năm sức nóng thiêu thân mà đi khất thực, chịu đau khổ oan uổng mà chẳng vui sướng gì”.

Các Tỉ-kheo liền bảo: “Các ông có thích giáo pháp này thì đến đây xin xuất gia, rồi sẽ sống an lạc như chúng tôi thôi”.

Ngoại đạo nói: “Tôi không có y Tăng-già-lê của Sa-môn”.

Tỉ-kheo nói: “Ông cứ đến, tôi sẽ cho ông”.

Thế rồi, ngoại đạo liền đến, các Tỉ-kheo bèn cho họ xuất gia, thọ giới cụ túc, rồi bảo: “Nay Ta đã độ ông xuất gia, thọ giới cụ túc, ông phải làm những việc cần thiết như sau: Sáng sớm Ta ngủ dậy, phải hỏi rằng: “Ngủ có an ổn không?”, mang ống nhổ và đồ tiểu tiện đi đổ, rồi đem rửa sạch để lại chỗ cũ, trao nước rửa mặt, tăm xỉa răng, mang bát đi lấy cháo. Khi Ta điểm tâm xong, ông phải rửa bát, lau khô rồi để lại chỗ cũ. Nếu có chỗ nào mời thọ trai thì phải đến đó nhận lấy thức ăn. Khi Ta muốn vào xóm làng, phải đem y thường mặc vào xóm làng trao cho Ta, rồi lấy y Ta vừa thay xếp lại ngay ngắn cất vào chỗ cũ. Khi Ta từ xóm làng trở về, ngươi phải trải ghế nhỏ cho Ta ngồi, trao Ta nước và lá cây. Khi Ta ăn, phải cầm quạt quạt. Ta ăn xong, phải rửa bát, lau khô, đem cất lại chỗ cũ, rồi cởi y Ta mặc vào xóm làng xếp lại đem cất, trao cho Ta y thường mặc. Khi ngươi ăn xong, phải đi lấy củi rác, giặt y, đem nhuộm, quét trong phòng sạch sẽ, rồi lau sàn nhà. Khi Ta muốn vào rừng ngồi thiền, ngươi phải mang tọa cụ đi theo, khi Ta trở về, thì theo về, rồi trao cho Ta nước rửa tay. Khi trao cho Ta hương hoa cúng dường xong, ngươi phải trải giường, đưa nước rửa chân cho Ta, rồi lấy dầu xoa bóp, trải ra, bỏ mùng, đưa ống nhổ, đồ tiểu tiện, đốt đèn.v.v., cung cấp các thứ như vậy cho Ta xong xuôi, sau đó mới tự lo phần mình”.

Khi ấy tân Tỉ-kheo (ngoại đạo) bèn đáp với Thầy rằng: “Những điều đó không phải là phép tắc xuất gia, mà là làm đầy tớ”.

Thầy nói: “Nếu ngươi không thể làm được thì phải trả y Tăng-già-lê lại cho Ta”.

Người ấy bèn cởi y để dưới đất rồi ra đi.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,Tôn-giả Nan Đà là anh của Ưu-ba-nan-đà, Ưu-ba-nan-đà bèn nói với người đệ tử tùy tùng của anh mình như sau: “Ta cùng với ngươi vào xóm làng, Ta sẽ cho ngươi phẩm vật. Nếu Ta có làm điều gì trái oai nghi, ngươi chớ nói với người khác, vì Ta là chú của ngươi”.

Người đệ tử nói: “Nếu tôi thấy cha tôi làm điều phi pháp, tôi cũng sẽ nói với người khác, huống gì là chú”.

Ưu-ba-nan-đà lại nói: “Nếu ngươi như thế, Ta sẽ cho ngươi biết tay, bèn dẫn y đến nhà hào quí. Nhà đàn việt này bèn mời họ ở lại dùng cơm.

Vì không muốn cho y ăn nên Ưu-ba-nan-đà làm ra vẻ suy nghĩ đợi cho mặt trời gần trưa để cho y không thể khất thực, mà trở về trú xứ cũng quá bữa, bèn nói với y: “Ngươi hãy trở về tinh xá”.

Người này liền trở về, vì sợ trễ bữa, nên vội vàng vừa nhìn mặt trời vừa đi, nhưng vừa tới tinh xá, thì thấy các Tỉ-kheo đã ăn xong, đang đi kinh hành trước cửa.

Các Tỉ-kheo từ xa trông thấy Thầy đi vội vàng, nghi ắt có điều gì bất thường, liền hỏi: “Hôm nay, ngươi cùng với Tỉ-kheo có nhiều người quen biết đi giáo hóa các nơi, được những thức ăn gì ngon mà mặt mày hớn hở như thế?”

Đáp: “Hôm nay tôi bị mất bữa ăn, chứ làm gì được thức ngon!”

Ưu-ba-nan-đà bảo y trở về rồi, sau đó ăn uống các thứ, ăn xong, sợ sự tình tiết lộ, bèn nhanh chân trở về, thì thấy các Tỉ-kheo đang tụ tập đông đảo bàn luận, liền suy nghĩ: “Mọi người tụ họp bàn luận, ắt Tỉ-kheo kia đã nói với các vị phạm hạnh về hành vi xấu ác của Ta, liền nói với Nan Đà: “Trưởng lão, đệ tử của Ngài đã hướng đến các vị phạm hạnh nói về những việc xấu của tôi”.

Nan Đà bèn giận dữ, nói với đệ tư û: “Hôm nay, vì sao ngươi lại nói về lỗi của em Ta? Ngươi hãy trả y Tăng-già-lê lại cho Ta”.

Các Tỉ-kheo nghe thế, cùng nhau bảo: “Thầy Tỉ-kheo này hôm nay gặp hai việc khổ não: Một là mất ăn. Hai là mất y”.

Phật nghe được việc ấy, biết mà vẫn hỏi các Tỉ-kheo: “Đó là Tỉ-kheo nào mà cao giọng lớn tiếng như thế?”

Các Tỉ-kheo liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Đó là Nan Đà đoạt lại y của đệ tử tùy tùng, cho nên mới lớn tiếng”.

Phật bảo gọi Nan Đà đến. Khi Thầy tới rồi, Phật bèn hỏi kỹ Nan Đà: “Có thật ông vì muốn được cung cấp cho mình mà độ người, cho y, khiến cho đệ tử giận không chịu làm thân phận tôi đòi, rồi ông đoạt lại y của đệ tử tùy tùng phải không?”

Thầy đáp: “Có thật như vậy”.

Khi ấy, Phật nói với Nan Đà: “Vì sao ông độ người xuất gia, không dạy pháp luật, mà chỉ sai họ chấp tác, cung cấp cho bản thân mình?”.

Phật khiển trách đủ điều, xong rồi liền nói với các Tỉ-kheo: “Từ nay trở đi không được rắp tâm vì muốn cung cấp cho chính mình mà độ người xuất gia, ai độ thì phạm tội Việt-tì-ni. Trái lại, nên nghĩ thế này: “Mong cho kẻ kia nhờ Ta hóa độ, tu các thiện pháp, thành tựu đạo quả”.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười việc lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỉ kheo cho y cho Tỉ-kheo khác, rồi sau đó nổi giận không vui, hoặc tự đoạt, hoặc sai người đoạt lại, nói như sau: “Tỉ-kheo, trả y lại cho Ta, Ta không cho ngươi nữa”. Khi được y thì phạm tội Ni-Tát-kì Ba-dạ-đề”.

Giải thích

(Một số từ đã được giải thích)

—Đoạt: Hoặc tự đoạt, hoặc sai người đoạt, nói như sau: “Trả y lại cho Ta, Ta không cho ngươi nữa”. Khi lấy lại được, phạm Ni-Tát-kì Ba-dạ-đề.

—Ni-Tát-kì Ba-dạ-đề: Như trên đã nói.

Tóm lại, có các trường hợp: Hoặc tự mình cho, rồi sai người đoạt lại; hoặc sai người cho, rồi tự mình đoạt lại; hoặc tự mình cho, rồi tự mình đoạt; hoặc sai người cho, sai người đoạt; hoặc cùng cho, đoạt riêng, hoặc cho riêng, cùng đoạt; hoặc cùng cho cùng đoạt; hoặc cho riêng, đoạt riêng.

—Cùng cho, đoạt riêng: Tỉ-kheo một lần cho 3 y, về sau đoạt riêng từng cái, nói: “Trả cho Ta Tăng-già-lê, trả cho Ta Uất-đa-la-tăng, trả cho Ta An-đà-hội”. Đoạt như vậy thì phạm nhiều tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là cùng cho, đoạt riêng.

—Cho riêng, đoạt chung: Tỉ-kheo cho y Tăng-già-lê, cho Uất-đa-la-tăng, cho An-đà-hội không cùng một lần, nhưng đòi lại một lần, nói: “Ngươi trả các y lại cho Ta”. Đoạt như vậy thì phạm một tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là cho riêng, đoạt chung.

—Cùng cho, cùng đoạt: Tỉ-kheo một lần cho các y, sau đó nói: “Trả hết các y lại cho Ta”. Đoạt như vậy, phạm một tội Ba-dạ-đề.

—Cho riêng, đoạt riêng: Tỉ-kheo cho Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội không phải cùng lúc, rồi sau đó đòi lại dần dần, nói: “Trả cho Ta Tăng-già-lê, trả cho Ta Uất-đa-la-tăng, trả cho Ta An-đà-hội”. Nói như vậy mà được, thì phạm nhiều tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo khi cho y Tỉ-kheo khác, nói: “Ngươi ở gần bên Ta, Ta sẽ cho ngươi y, nếu không ở, Ta sẽ lấy lại”, thì khi lấy lại không có tôïi.

Nếu Tỉ-kheo khi cho y Tỉ-kheo khác, nói: “Ngươi ở đây, Ta sẽ cho, nếu không ở, Ta lấy lại”, thì khi lấy lại không có tội.

Nếu Tỉ-kheo cho y cho Tỉ-kheo khác, nói: “Ngươi làm vui lòng Ta thì Ta cho”. Sau đó, không làm vui lòng, bèn lấy lại, thì không có tội.

Vì người xem Kinh mà cho, sau đó, họ không xem, bèn lấy lại, thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo bán y chưa lấy tiền, hoặc lấy chưa đủ, nên lấy lại y thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo cho y cho đệ tử tùy tùng, đệ tử y chỉ mà không thể dạy dỗ được, vì muốn chiết phục mà đoạt lại y, sau khi chiết phục được,bèn trả lại, thì không có tội.

Nếu đoạt y của Tỉ-kheo, phạm tội Ni-Tát-kì Ba-dạ-đề; đoạt y Tỉ-kheo-ni, phạm tội Thâu-lan-giá; đoạt y Thức-xoa-ma-ni, Sa-di, Sa-di-ni, phạm tội Việt-tì-ni; đoạt y người thế tục, phạm tội Việt-tì-ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói (như trên).