LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI NI TÁT KỲ

NÓI RÕ PHẦN ĐẦU CỦA BA MƯƠI PHÁP NI TÁT KỲ BA DẠ ĐỀ.

4. GIỚI: NHẬN Y CỦA NGƯỜI KHÔNG PHẢI BÀ CON.

Khi Phật an trú tại thành Xá vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tỳkheo ni Ưu Bát La đem chiếc y Tăng kỳ chi cho tôn giả A Nan Đà. Vì chiếc y này dơ bẩn không sạch, nên A Nan Đà đem tẩy những vết bùn lấm rồi phơi nắng. Phật biết nhưng vẫn hỏi: “A Nan Đà! Ông làm gì đó?”

Đáp: “Bạch Thế Tôn! Tỳkheo ni Ưu Bát La cho con chiếc y Tăng kỳ chi này nhưng nó dơ bẩn không sạch nên con đem tẩy bùn đất, rồi đem phơi nắng”.

Phật lại hỏi A Nan Đà: “Ông dùng vật dụng gì để đổi phải không?”

Đáp: “Không phải đổi, bạch Thế Tôn!”.

Phật nói với A Nan Đà: “Nên cho một vật gì đó để đổi lấy, vì người nữ ít có những lợi lộc”.

Thế nhưng A Nan Đà không muốn cho. Phật hỏi A Nan Đà: “Vì sao không cho?”

A Nan Đà bạch Phật: “Cho vật gì?”.

Phật bảo A Nan Đà: “Ông nên đem tấm vải kiếp bối dài 16 khuỷu tay, rộng 8 khuỷu tay do vua Ba Tư Nặc đã bố thí mà cho”.

Tuy vậy, A Nan Đà vẫn cố tình không cho, như kinh Kiếp Bối đã nói rõ.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tỳkheo ni Thiện Sinh mặc y rách rưới, dẫn đồ chúng đến đảnh lễ Thế Tôn. Phật biết nhưng vẫn hỏi các Tỳkheo: “Tỳkheo ni này là ai mà mặc y rách rưới đến đảnh lễ Ta vậy?”.

Các Tỳkheo bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đó là Tỳkheo ni Thiện Sinh”.

Phật hỏi các Tỳkheo:“Tỳkheo ni Thiện Sinh này được y mà không mặc, hay không được y?”.

Các Tỳkheo đáp: “Bạch Thế Tôn! Khi được y rồi cô bèn đem cho Ưu Đà Di”.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tỳkheo ni Thâu Lan Nan Đà mặc y rách rưới, dẫn đồ chúng đến hầu thăm Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật. Phật biết mà vẫn hỏi các Tỳkheo: “Tỳkheo ni này là ai mà mặc y rách rưới đến viếng Ta vậy?”.

Các Tỳkheo bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đó là Tỳkheo ni Thâu Lan Nan Đà”.

Phật hỏi các Tỳkheo: “Tỳkheo Thâu Lan Nan Đà này được y mà không mặc, hay vì không được y mà không mặc?”.

Các Tỳkheo đáp: “Chỉ vì khi được y rồi cô liền đem cho A Nan Đà”.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tỳkheo ni Tô Tì Đề mặc y rách rưới, dẫn đồ chúng đến viếng thăm Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật. Phật biết mà vẫn hỏi các Tỳkheo: “Tỳkheo ni này là ai mà mặc y rách rưới đến thăm Ta thế?”.

Các Tỳkheo bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đó là Tỳkheo ni Tô Tì Đề”.

Phật bèn hỏi các Tỳkheo: “Tỳkheo ni Tô Tì Đề này được y mà không mặc hay không được y?”.

Các Tỳkheo đáp: “Chỉ vì khi được y rồi cô liền đem cho Tỳkheo Thiện Giải”.

Lại nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tỳkheo ni Thất Lợi Ma mặc y rách rưới, dẫn đồ chúng đến viếng Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật. Phật biết mà vẫn hỏi các Tỳkheo: “Tỳkheo ni này là ai mà mặc y rách rưới đến viếng thăm Ta vậy?”

Các Tỳkheo bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đó là Tỳkheo ni Thất Lợi Ma”.

Phật hỏi các Tỳkheo:“Tỳkheo ni Thất Lợi Ma này được y mà không mặc hay không được y?”

Các Tỳkheo đáp: “Chỉ vì khi được y rồi cô liền đem cho chư Tăng”. Phật lại hỏi các Tỳkheo: “Nếu thấy Tỳkheo ni thân quyến mặc y rách rưới như vậy thì Tỳkheo thân quyến có đành lòng nhận y cô ta không?”.

Đáp: “Không nhận!”

Thế Tôn lại hỏi: “Nếu Tỳkheo ni thân quyến mặc chiếc y rách rưới thì có thể đem chiếc y đó cho Thầy Tỳkheo thân quyến hay không?”.

Đáp: “Không thể, bạch Thế Tôn!”.

Phật nói: “Thế nên Tỳkheo không nên lấy y của một Tỳkheo ni không phải bà con, trừ trường hợp trao đổi”.

Bấy giờ, Phật truyền lệnh cho các Tỳkheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, rồi vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỳkheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỳkheo nhận y của Tỳkheo ni không phải bà con—trừ trường hợp trao đổi—thì phạm Ni Tát Kì Ba Dạ Đề”.

Giải thích:

—Tỳkheo: Như trên đã nói.

—Tỳkheo ni không phải bà con: Không phải con cùng một cha, không phải con cùng một mẹ, thì gọi là Tỳkheo ni không phải bà con. Nếu một người là bà con mà nhiều người không phải bà con, hay nhiều người là bà con mà một người không phải bà con, như Sa di ni là bà con mà Tỳkheo ni không phải là bà con, hay Sa di ni không phải là bà con mà Tỳkheo ni là bà con, nếu được y—thuộc của chung—từ những người này thì phạm tội. Ngoại trừ hai chúng này thì không có tội.

—Y: Gồm các loại y Khâm bà la, y Kiếp bối, y Kiêu xá da, y Sô ma, y Xá na, y Ma, y Khu vật đề.

—Lấy (nhận): Nhận của người kia bố thí.

—Trừ trường hợp trao đổi: Phật dạy nếu trao đổi thì không có tội.

—Ni Tát Kì Ba Dạ Đề: Như trên đã nói.

—Ba Dạ Đề: Như trên đã nói.

Tỳkheo không phải bà con, sai sứ giả đi nhận, sứ giả trao tự tay mình nhận, tự tay người này đưa, tự tay người kia nhận, người này sai sứ đưa, người kia sai sứ nhận.

—Sai sứ giả nhận: Tỳkheo ni tự tay đưa y, rồi Tỳkheo sai sứ giả nhận lấy.

­ —Sứ giả trao, tự tay mình nhận: Tỳkheo ni sai sứ giả mang y đến cho Tỳkheo, rồi Tỳkheo tự tay mình nhận lấy.

—Tự tay người này đưa, tự tay người kia nhận: Tỳkheo ni tự tay đưa y rồi Tỳkheo tự tay nhận lấy.

—Người này sai sứ giả đưa, người kia sai sứ giả nhận: Tỳkheo ni sai sứ giả cầm y trao cho Tỳkheo, rồi Tỳkheo sai sứ giả nhận lấy.

Nếu Tỳkheo nhận y từ một Tỳkheo ni không phải bà con, hứa sẽ đổi một vật khác mà không đưa, cũng không bảo ai đưa, không nói trực tiếp, cũng không nhờ ai nói hộ, rồi trả lại y hoặc cắt xén bớt rồi trả, hoặc đưa một vật khác với vật đã hứa và để vật ấy cách xa chỗ thấy nghe, ngoài phạm vi cương giới, thì Tỳkheo ấy phạm tội Ba Dạ Đề.

—Không đưa: Tự mình không đưa.

—Không bảo ai đưa: Không bảo người khác đưa.

—Không nói trực tiếp: Không tự mình nói với Tỳkheo ni: “Bữa sau vào lúc đó, tôi sẽ đưa y cho cô”.

—Không nhờ ai nói hộ: Không nhờ người khác nói với Tỳkheo ni: “Sau này vào hôm nào đó, tôi sẽ đưa y cho cô”.

—Trả lại y trước: Trả lại chiếc y trước của Tỳkheo ni. Đó là điều không nên làm, mà nên đưa cho cô chiếc y khác.

—Cắt xén bớt: Cắt xén chiếc y trước rồi trả lại cô ấy, thì đó không thể gọi là trao đổi.

—Đưa cái y thiếu kích thước: Nhận của họ cái y hoàn toàn, rồi đưa cho họ cái y nhỏ thiếu kích thước. Đó không phải là cách trao đổi, mà phải đưa cho họ một cái y hoàn toàn.

—Trao cho vật khác: Chẳng hạn lấy y của họ, rồi đưa họ một cái bát nhỏ hoặc một cái tô, hoặc đưa thức ăn và những thứ khác. Đó không phải gọi là trao đổi, mà nên trao đổi bằng y.

—Để cách xa chỗ thấy, nghe: Nếu Tỳkheo lấy y của một Tỳkheo ni không phải bà con, rồi không đưa lại trực tiếp, không nhờ ai đưa, mình không tự nói, cũng không nhờ ai nói, lại để cách xa chỗ nghe thấy, thì phạm Ba Dạ Đề.

—Cách xa cương giới: Nếu Tỳkheo lấy y của một Tỳkheo ni không phải bà con mà không đổi lại vật khác, không tự mình đưa, không nhờ người khác đưa, mình không nói trực tiếp, cũng không nhờ ai nói giúp, rồi bỏ y ngoài cương giới 25 khuỷu tay thì phạm Ba Dạ Đề.

Nếu Tỳkheo lấy y của một Tỳkheo ni không phải bà con hứa đổi lại vật khác mà không đưa, không tự mình đưa, không bảo người khác đưa giúp, không nói trực tiếp, không nhờ người khác nói giúp, rồi ngồi hoặc nằm, hoặc nhập định, đều phạm tội Ba Dạ Đề. Nếu Tỳkheo ni không phải bà con đưa y cho một người quen biết rồi dặn: “Sa di! Tôi đưa cho chú chiếc y này, chú cầm đưa cho Tỳkheo mỗ giáp, sẽ được phước đức”. Rồi Tỳkheo nhận lấy thì không có tội. Cũng vậy (nếu Tỳkheo ni ấy) đưa y cho Sa di ni, Thức xoa ma ni, Ưu bà tắc, cho đến các Ưu bà di và nói: “Ta đưa cho ngươi chiếc y này, ngươi hãy cầm đưa cho tôn giả Tỳkheo mỗ giáp, thì sẽ được công đức”. Rồi Tỳkheo nhận lấy thì không có tội.

Nếu Tỳkheo ni nói với Tỳkheo: “Tôi cho tôn giả mượn chiếc y này, tùy ý mặc”, thì Tỳkheo được quyền mặc cho đến rách rồi trả lại vẫn không có tội.

Nếu nhiều Tỳkheo ni cho y cho một Tỳkheo, thì Tỳkheo này phải đổi y lại cho mỗi Tỳkheo ni ấy, cũng có thể dùng một chiếc y cho các Tỳkheo ni ấy, và nói: “Này các chị em, chúng ta hãy trao đổi qua lại”. Hoặc một Tỳkheo ni cho các Tỳkheo mỗi người một chiếc y, thì các Tỳkheo này mỗi người cũng phải cho lại Tỳkheo ni ấy một chiếc y. Cũng có thể chỉ cho một chiếc và nói: “Này chị, chúng tôi đổi lại cho chị chiếc y này”.

Hoặc nhiều Tỳkheo ni cho y cho nhiều Tỳkheo, thì các Tỳkheo cũng phải cho y lại cho các Tỳkheo ni ấy.

Hoặc một Tỳkheo ni cho y một Tỳkheo, thì Tỳkheo này phải cho y lại cho Tỳkheo ni ấy.

Nếu Tỳkheo ni cho Tỳkheo bát, hoặc chén, hoặc tô, hoặc thức ăn và các vật nhỏ nhặt khác, thì Tỳkheo đều có thể lấy mà không có tội. Thế nên nói:

“Nếu Tỳkheo nhận y từ Tỳkheo ni không phải bà con—trừ trường hợp trao đổi—thì phạm Ni Tát Kì Ba Dạ Đề”.

Hết giới thứ 4

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hết quyển thứ tám.