LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI NI TÁT KỲ

NÓI RÕ Phần thứ hai của BA MƯƠI PHÁP NI TÁT KỲ BA DẠ ĐỀ.

5. GIỚI: NHỜ NI KHÔNG PHẢI BÀ CON GIẶT Y.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, bấy giờ tôn giả Ưu Đà Di cầm y đưa cho Tỉ-kheo-ni Đại Ái Đạo và nói: “Lành thay Cù Đàm Di! Hãy giặt, nhuộm, ủi giúp cái y này cho tôi”.

Đại Ái Đạo liền giặt, nhuộm, ủi xong đem trao lại Ưu Bà Di, nói: “Chiếc y này đã giặt nhuộm ủi xong, nay tôi xin gửi lại”.

Ưu Đà Di liền chú nguyện: “Cầu mong được an lạc, không có bệnh”, rồi đem cất vào trong phòng.

Thế rồi, Đại Ái Đạo bèn đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật rồi đứng qua một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi: “Cù Đàm Di! Trên tay bà vì sao có màu phẩm?”

Đáp: “Bạch Thế Tôn! Con giặt, nhuộm y cho Ưu Đà Di nên tay có màu phẩm”.

Khi Cù Đàm Di đi chẳng bao lâu, Phật liền nói với các Tỉ-kheo: “Vì sao Ưu Đà Di lại sai Tỉ-kheo-ni đang tu tập giặt, nhuộm y, làm phương hại đến đạo nghiệp của Tỉ-kheo-ni?”

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, bấy giờ trưởng lão A Nan Đà không xem xét cẩn thận, đưa y cho Thâu Lan Nan Đà Tỉ-kheo-ni giặt, nói rằng: “Này chị! Hãy giặt,nhuộm, ủi giúp cái y này cho tôi”. Khi ấy Thâu Lan Nan Đà liền đem y về Tinh xá, căng ra thấy chất bất tịnh dính trên y, bèn đưa y ấy cho các Tỉ-kheo-ni xem và nói: “Các người hãy xem trên cái y này, đó là hình ảnh của trượng phu vậy”.

Lúc ấy các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Thâu Lan Nan Đà rằng: “Những thứ cần phải che giấáu như vậy, vì sao lại đưa cho người ta xem, lẽ ra, nếu muốn giặt thì nên giặt, nếu không muốn giặt thì nên đem cất mới phải”.

Khi đó, Thâu Lan Nan Đà Tỉ-kheo-ni bèn nói với các Tỉ-kheo-ni: “Cái đó có gì đáng xấu hổ mà bảo ta phải giấu đi? Đó chính là trượng phu, là hình ảnh của trượng phu”. Bèn cầm đưa lên lần nữa cho các Tỉ-kheo-ni xem.

Bấy giờ nhóm 6 Tỉ-kheo ở cách Tỉ-kheo-ni không xa, nghe nói thế bèn vỗ tay cười lớn, nói: “Thật là việc kỳ lạ, là việc kỳ lạ”.

Các Tỉ-kheo nghe lời nói ấy, bèn đến bạch với Thế Tôn. Phật bèn bảo gọi A Nan Đà đến. Khi thầy đến rồi Phật liền hỏi: “Ông có việc đó thật không?”. Thầy đáp: “Có thật như vậy. Vì con không xem cẩn thận, nên đưa y cho cô ấy”.

Phật liền hỏi các Tỉ-kheo: “Giả sử Tỉ-kheo bà con có chiếc y bất tịnh như vậy, thì có nên đưa cho Tỉ-kheo-ni bà con giặt hay không?”

Các Tỉ-kheo đáp: “Không nên đưa, bạch Thế Tôn”.

Phật lại hỏi: “Giả sử Tỉ-kheo-ni bà con thấy Tỉ-kheo bà con có việc cần phải che giấu như thế thì có nên đưa cho mọi người xem hay không?”

Họ lại bảo: “Không nên đưa xem, bạch Thế Tôn”.

Phật liền nói với Tỉ-kheo: “Tỉ-kheo-ni bà con mà còn không nên bảo giặt y bất tịnh, thì vì sao lại bảo Tỉ-kheo-ni không phải bà con giặt y như thế? Từ nay trở đi Ta không cho phép làm như vậy”.

Rồi Phật ra lệnh cho các Tỉ-kheo sống tại thành Xá Vệ phải tập họp tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỉ-kheo sai Tỉ-kheo-ni không phải bà con giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc ủi, thì phạm Ni-tát-kỳ Ba dạ đề”.

Giải thích:

—Tỉ-kheo: Như trên đã nói.

—Không phải bà con: Không phải cùng Cha sinh ra, không phải cùng Mẹ sinh ra.

—Y cũ: Dù chỉ dùng gối đầu một lần cũng gọi là y cũ.

—Y: Như trên đã nói.

—Giặt: Tẩy trừ cáu bẩn.

—Nhuộm: Hoặc nhuộm bằng rễ cây, bằng vỏ cây, bằng lá cây, bằng hoa, bằng trái.v.v… các thứ như thế.

—Ủi: Cho đến dùng tay vuốt một lần thì gọi là ủi.

(Một số từ khác đã được giải thích ở trên).

Tóm lại, nếu Tỉ-kheo bảo giặt, (Tỉ-kheo ni) liền giặt, bảo nhuộm liền nhuộm, bảo ủi liền ủi, thì phạm Ni-tát-kỳ.

Nếu Tỉ-kheo sai Tỉ-kheo-ni không phải là bà con giặt y, cô ta liền nhuộm; hoặc bảo nhuộm cô ta liền ủi; bảo ủi, liền giặt; hoặc bảo mà cô ta không làm; hoặc không bảo mà làm đều phạm tội Việt tỳ ni.

Nếu Tỉ-kheo bảo Tỉ-kheo-ni không phải bà con giặt y, cô ta bèn nhuộm, ủi; hoặc bảo nhuộm, cô ta bèn giặt, ủi; hoặc bảo ủi, cô ta liền giặt, nhuộm; hoặc bảo mà không làm, hoặc không bảo mà làm đều phạm tội Việt tỳ ni.

Lại có các trường hợp Tỉ-kheo đưa y cho Tỉ-kheo-ni bà con mà Tỉ-kheo-ni không phải bà con giặt; hoặc đưa y cho Tỉ-kheo-ni không phải bà con mà người bà con giặt; hoặc đưa y cho người bà con, rồi người không bà con giặt; hoặc đưa y cho người không phải bà con, rồi người không phải bà con giặt.

—Đưa cho người bà con mà người không phải bà con giặt: Nếu Tỉ-kheo có mẹ, chị, hoặc em xuất gia, và Tỉ-kheo đưa y bảo họ giặt, đoạn Tỉ-kheo-ni ấy đem y về Tinh xá, bấy giờ có người đệ tử ni nói: “Thầy có việc gì cần làm con làm cho”, bèn lấy y đem giặt, nhuộm, ủi, thì Tỉ-kheo không có tội. Đó gọi là đưa cho người bà con mà người không phải bà con giặt.

—Đưa cho người không phải bà con mà người bà con giặt: Nếu Tỉ-kheo đưa y cho Tỉ-kheo-ni không phải bà con giặt, nhuộm, ủi. Rồi Tỉ-kheo-ni ấy cầm y về Tinh xá, bấy giờ Tỉ-kheo ấy có mẹ, chị hoặc em xuất gia, biết chiếc y ấy (của người thân mình) liền hỏi Tỉ-kheo-ni đó: “Chiếc y ấy là của ai?”. Người ấy đáp: “Chiếc y của Tỉ-kheo mỗ giáp”. Vị ni bà con này liền suy nghĩ: “Thầy ấy không biết Luật”. Rồi cô muốn cho Tỉ-kheo ấy khỏi phạm tội Ni tát kì liền lấy y đi giặt, thì Tỉ-kheo ấy phạm tội Việt tỳ ni. Đó gọi là đưa cho người không phải bà con mà người bà con giặt.

—Đưa cho người bà con rồi người (không) bà con giặt: Nếu Tỉ-kheo có mẹ, chị, hoặc em xuất gia, thầy bèn đưa y nhờ họ giặt giúp. Tỉ-kheo-ni ấy nói: “Tôi đang bị bệnh”. Tỉ-kheo này liền nói: “Mẹ… có đệ tử khỏe mạnh, vậy hãy bảo họ giặt giúp”. Rồi Tỉ-kheo-ni ấy liền sai đệ tử giặt, giặt xong bèn đem y trả lại, thì Tỉ-kheo ấy phạm tội Ni-tát-kỳ. Nhưng nếu Tỉ-kheo không bảo (sai đệ tử giặt) mà Tỉ-kheo-ni tự sai đệ tử giặt, thì Tỉ-kheo không có tội. Đó gọi là đưa cho người thân rồi người (không) thân giặt.

—Đưa cho người không bà con rồi người không bà con giặt: Nếu Tỉ-kheo đưa y cho Tỉ-kheo-ni không phải bà con, rồi Tỉ-kheo-ni không phải bà con giặt, nhuộm, ủi thì Tỉ-kheo phạm Ni-tát-kỳ Ba dạ đề. Đó gọi là đưa cho người không phải bà con rồi người không phải bà con giặt.

Nếu Tỉ-kheo đem y và đồ dùng để giặt gởi tại một Tinh xá của Tỉ-kheo-ni rồi đi đến một nơi thanh vắng an cư. Tỉ-kheo-ni nhận ký gởi ấy nhân sau mùa hạ, đem y mình ra giặt, luôn tiện giặt giúp y cho Tỉ-kheo. Tỉ-kheo an cư xong, trở về Ni xá đòi lại y để giặt. Tỉ-kheo-ni kia nói: “Tôi đã giặt nhuộm xong rồi”, thì Tỉ-kheo ấy không phạm tội. Nhưng nếu khi gởi y, Tỉ-kheo ấy suy nghĩ: “Họ sẽ giặt, nhuộm, ủi giúp ta”. Quả nhiên sau đó, y được giặt, nhuộm, ủi thì thì Tỉ-kheo phạm Ni-tát-kỳ Ba dạ đề.

Nếu Tỉ-kheo đi vào thôn xóm, gặp voi điên, hoặc xe ngựa làm văng bùn bẩn cả y, rồi đến Tinh xá Tỉ-kheo ni, nhờ Tỉ-kheo-ni giặt giúp thì phạm Ni-tát-kỳ Ba dạ đề, Nhưng nếu Tỉ-kheo-ni xối nước, Tỉ-kheo tự giặt lấy thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo đang giặt y tại giếng nước, nhằm ngày trai kỳ, các Tỉ-kheo-ni đi đến Tinh xá đảnh lễ chư Tỉ-kheo, rồi họ trông thấy Tỉ-kheo đang giặt y, bèn hỏi: “Thưa thầy, thầy không có ai giặt y giúp cho sao?”. Tỉ-kheo đáp: “Không có”. Tỉ-kheo-ni này vì có tín tâm nên bảo Tỉ-kheo dừng tay để mình giặt giúp cho. Rồi Tỉ-kheo đồng ý để cho họ giặt giúp thì không có tội. Nhưng nếu Tỉ-kheo ấy cố ý giặt y vào ngày trai kỳ với ý nghĩ: “Tỉ-kheo-ni ắt sẽ đến và họ sẽ giặt giúp y cho ta”, rồi đưa cho Tỉ-kheo-ni giặt thì phạm Ni-tát-kỳ Ba dạ đề.

Nếu Tỉ-kheo có nhiều đệ tử ni, tuy không được sai họ giặt, nhuộm, ủi y vẫn có thể sai lượm củi, lấy nước về đun nhuộm, lấy thức ăn, dâng nước uống, cầm quạt quạt, và khi ăn xong dọn cất bát. Tất cả các việc ấy… đều có thể sai làm, nhưng nếu sai họ giặt, nhuộm, ủi y, thì phạm Ni-tát-kỳ Ba dạ đề.

Nếu vì Hòa thượng, A Xà lê mà đưa y bảo Tỉ-kheo-ni giặt thì phạm tội Việt-tì-ni. Nhưng nếu vì tháp, Tăng mà sai Tỉ-kheo-ni giặt, nhuộm, ủi, thì không có tội. Thế nên nói:

“Nếu Tỉ-kheo sai Tỉ-kheo-ni không phải bà con giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc ủi thì phạm Ni-tát-kỳ Ba dạ đề”.

Hết giới Ni-tát-kì thứ năm.