LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ PHẦN THỨ BA CỦA PHÁP ĐƠN ĐỀ

12. GIỚI: NÓI ĐỂ NHIỄU LOẠN NGƯỜI KHÁC.

Khi Phật an trú tại Câu diệm di, nói rộng như trên. Khi ấy, Tăng tập họp định làm yết ma, thì Tôn giả Xiển Đà không đến. Tăng liền sai sứ đi gọi Xiển Đà nói: “Tăng tập họp định làm yết ma, Trưởng lão hãy đến”. Xiển Đà liền suy nghĩ: “Nay Tăng cho gọi ta, chính là muốn trị tội ta, chứ không có việc gì khác. Nay ta phải nhiễu loạn ai đây để cho tất cả Tăng chúng đều rối loạn không thể làm yết ma được? Có lẽ nên nhiễu loạn tôn giả Mục Kiền Liên thì mới thoát được việc này. Nhưng Mục Kiền Liên có đại thần lực ắt sẽ biết việc ta làm, hoặc ông có thể nắêm ta ném đến thế giới khác, nên việc này cũng không thể được”. Rồi lại suy nghĩ: “Nếu nhiễu loạn Đại Ca Diếp thì có thể thoát được việc này. Nhưng Đại Ca Diếp có uy đức lớn, ông có thể chiết phục, làm nhục ta ở giữa chúng Tăng, nên việc này cũng không thể được”. Rồi lại suy nghĩ: “Tôn giả Xá Lợi Phất tâm nhu nhuyến chất trực, dễ nói chuyện, nếu nhiễu loạn ông ta thì có thể khiến cho Tăng đều rối loạn không thể làm yết ma đối với ta”.

Nghĩ thế rồi, Xiển Đà bèn đi đến giữa Tăng, nói như sau: “Thưa tôn giả Xá Lợi Phất, tôi muốn hỏi nghĩa kinh”.

Xá Lợi Phất nói: “Nay vì việc khác mà tập họp Tăng, lúc này không phải là lúc hỏi nghĩa kinh”.

Xiển Đà lại nói với tôn giả Xá Lợi Phất: “Đối với chánh pháp của Phật không có lúc nào là lúc phi thời. Nếu được thiện quảû ngay trong hiện tại, trừ diệt phiền não, các hiền thánh vui vẻ, thì đều không có gì phải chọn lựa thời gian”.

Tôn giả Xá Lợi Phất nói: “Tôi xin nghe thầy hỏi”.

Xiển Đà liền hỏi: “Đức Thế Tôn thuyết tứ niệm xứ, vậy thế nào là tứ niệm xứ?”.

Khi ấy Tôn giả Xá Lợi Phất bèn giảng về tứ niệm xứ cho Xiển Đà. Xiển Đà lại nói: “Tôi không hỏi tứ niệm xứ, tôi hỏi tứ chánh cần. Trưởng lão chỉ nên nói về Tứ Chánh cần cho tôi”.

XáLợi Phất nói: “Thầy muốn nghe tứ Chánh Cần thì hãy lắng nghe”, rồi nói về tứ Chánh Cần.

Xiển Đà lại nói: “Tôi hỏi về Tứ Như Ý Túc”. Như vậy lần lượt hỏi đến ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, Bát chánh đạo phần cũng như tứ niệm xứ, hỏi đi hỏi lại ba lần.

Lúc ấy các Tỷ kheo ngồi lâu mỏi mệt, liền lần lượt bỏ ra, khiến Tăng không hòa hợp, chung cục yết ma không thành. Do vậy, các Tỷ kheo đem sự việc ấy bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Xiển Đà đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi: “Xiển Đà, ông có thật như vậy không?”.

Thầy đáp: “Có thật như vậy”.

Phật nói: “Xiển Đà, đó là việc xấu. Ta đã không vì ông mà dùng vô lượng phương tiện chê trách những lời nói nhiễu loạn, khen ngợi những lời nói tùy thuận hay sao? Nay vì sao ông gây ra sự nhiễu loạn? Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Phật dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp”. Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo sống tại Câu diệm di phải tập họp lại tất cả, vì mười việc lợi ích mà chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỷ kheo nói những lời khác làm não loạn người khác, thì phạm Ba-dạ-đề”.

Giải thích

Nói những lời khác làm não loạn người khác: Có tám trường hợp. Đó là: 1. Lúc làm yết ma; 2. Lúc bàn luận như pháp; 3. Lúc bàn luận về A-Tì đàm; 4. Lúc bàn luận về tỳ ni; 5. Không bàn về việc khác; 6. Không bàn với người khác;7. Ngưng luận bàn; 8. Nói những lời khác làm não loạn người khác.

1. Làm yết ma :Tỷ kheo tập trung hòa hợp làm yết ma Chiết phục, cho đến yết ma biệt trụ. Đó gọi là làm yết ma.

2. Bàn luận như pháp: nói về phi thường (vô thường), phi đoạn (không đoạn diệt). Đó gọi là bàn luận như pháp.

3. A tỳ đàm: Chỉ cho chín bộ kinh. Đó gọi là A tỳ Đàm.

4. Tì ni: Nói đủ, hoặc nói tóm lược Ba la đề mộc xoa (giới). Đó gọi là tì ni.

5. Không bàn về việc khác: Không được rời bỏ vấn đề đang bàn luận mà bàn về vấn đề khác. Đó gọi là không bàn về việc khác.

6. Không luận bàn với người khác: Không được rời bỏ người vừa hỏi để hỏi người khác. Đó gọi là không bàn luận với người khác.

7. Ngưng bàn luận: Lúc đương thuyết pháp liền bảo: “Dừng lại, sau sẽ bàn tiếp”. Đó gọii là ngưng bàn luận

8. Nói những lời khác làm não loạn người khác: Như tôn giả Xiển Đà đã nói những lời khác (ngoài mục đích yết ma) để làm não loạn người khác.

Đó gọi là tám trường hộp.

Trong đây, dùng những lời khác làm não loạn người khác, phạm Ba dạ đề. Nếu ngoài tám việc trên đây thì không phạm Ba dạ đề.

Nếu có người hỏi: “Tỷ kheo, Thầy từ đâu đến?”

—Từ quá khứ đến.

—Thầy sẽ đi về đâu?

—Hướng về vị lai mà đi.

—Thầy ngủ ở đâu?

—Ngủ trên tám loại cây.

—Hôm nay thầy ăn tại đâu?

—Ăn bằng năm ngón tay.

Nếu hỏi một đằng mà đáp một ngã như vậy, thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu có bọn cướp xâm nhập vào chùa, hỏi Tỷ kheo: “Chỉ cho tôi những đồ vật của chư Tăng”.

Khi ấy, Tỷ kheo không được chỉ cho họ các thứ châu báu, cũng không được nói dối, mà nên chỉ cho họ phòng ốc, giường ghế các thứ. Nếu bọn cướp nói: “Chỉ cho tôi những vật dụng của tháp”, thì cũng không được chỉ cho họ những bảo vật của tháp, cũng không được nói dối, mà nên chỉ những khí cụ cúng dường ở cạnh tháp.

Nếu bọn cướp nói: “Chỉ cho tôi nhà bếp “, thì Tỷ kheo cũng không được chỉ cho họ chỗ cất tiền, mà nên chỉ cho họ chỗ để các thứ nồi niêu xoong chảo.

Nếu súc vật của nhà đồ tể chạy thoát, họ đến hỏi Tỷ kheo có thấy không, thì Tỷ kheo không được nói dối, cũng không được chỉ chỗ, mà nên nói: “Xem móng tay đây, xem móng tay đây (tiếng phạn có nghĩa là không thấy).”

Nếu Tỷ kheo ở tại A luyện nhã, có tù nhân đào thoát, rồi quân lính đến hỏi thì Tỷ kheo cũng đáp như trường hợp súc sinh trên.

Nếu Tỷ kheo ở giữa Tăng mà hỏi một đàng đáp một ngả, thì phạm Ba dạ đề. Nếu ở giữa nhiều người, trước Hòa Thượng, A xà Lê, trước các trưởng lão Tỷ kheo mà hỏi một đàng đáp một ngả, thì phạm tội Việt tì ni. Thế nên nói (như trên).