LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ PHẦN THỨ BA CỦA PHÁP ĐƠN ĐỀ

14. GIỚI: TRẢI ĐỒ CỦA TĂNG Ở CHỖ TRỐNG.

Khi Phật trú tại nước Bạt kỳ, Ngài đi du hành trong nhân gian, đến bên một con sông kia, thấy các ngư ông đang bủa lưới bắt cá. Các Tỷ kheo thấy thế liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Các ngư ông này làm một việc lẽ ra không nên làm”. Nhân các Tỷ kheo nói nên Thế Tôn liền đọc kệ:

“Đã được thân khó được Vì sao làm việc ác
Thân cưu mang ái nhiễm
Chết rồi vào ác đạo”.

Khi ấy, các ngư phủ bủa một mảng lưới lớn, ở bên dưới buột đá, ở bên trên cột những cái bầu nổi, thuận theo dòng nước kéo lên, mỗi đầu hai trăm năm mươi người, kêu la kéo lên bờ ầm ĩ. Các Tỷ kheo thấy thế, liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Những người này nếu ở trong Phật pháp mà tinh tấn như vậy, thì sẽ được lợi ích lớn”. Bấy giờ nhân sự việc ấy, Thế Tôn liền đọc kệ:

“Cái gọi là tinh tấn Không phải là các dục
Mà là lìa việc ác
Nuôi mạng sống đúng pháp”.

Như Kinh Bổn Sinh Ca-Tỳ-La đã nói rõ.

Lúc ấy, trong các con cá bị mắt lưới, có con cá lớn có hàng trăm cái đầu, mỗi đầu đều khác nhau. Thế Tôn thấy vậy liền gọi tên nó. Nó liền đáp Thế Tôn. Thế Tôn liền hỏi: “Mẹ ngươi ở đâu?”.

Nó đáp: “Đang làm thân giòi trong một cầu tiêu nọ”.

Phật liền nói với các Tỷ kheo: “Con cá lớn này vào thời đức Phật Ca Diếp, làm một Tỷ kheo thông tam tạng, vì ác khẩu mà chịu quả báo đủ kiểu đầu. Còn người mẹ vì thọ lợi dưỡng của y cho nên làm giòi trong cầu tiêu”.

Khi Phật kể nhân duyên ấy, năm trăm ngư phủ liền bỏ việc kéo lưới, xin xuất gia tu hành, và đều đắc quả A La Hán, rồi cư trú bên dòng sông Bạt Kỳ.

Thế rồi Phật bảo A nan: “Hãy sửa soạn chỗ ngồi cho các Tỷ kheo khách ấy”. A nan liền bạch Phật: “Xin Phật an ủi các khách Tỷ kheo”.

Phật lại nói với A nan: “Ông không biết đó thôi, Ta đã nhập vào Tứ Thiền an ủi khách Tỷ kheo rồi”.

Trong khi các gường gối bày ra tại chỗ đất trống (không ai dọn dẹp), thì tới giờ khất thực, các Tỷ kheo khách liền dùng thần lực, người thì đến Uất đơn việt phương bắc, kẻ thì đến cõi trời ba mươi ba, người khác lại xuống cung long vương khất thực. Do thế các gường gối bày ra chỗ trống kia bị nắng táp, gió thổi nên bụi bặm bám rất dơ bẩn. Phật biết mà vẫn hỏi. Rồi các Tỷ kheo đem nhân duyên trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật nói: “Đợi các Tỷ kheo ấy trở lại đã”.

Khi họ về rồi Phật liền hỏi: “Các ông có thật như thế chăng?”.

Họ đáp: “Có thật như vậy”

Phật nói: “Từ hôm nay nhân việc của các ông, ta chế giới cho các Tỷ kheo”.

Thế rồi Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống bên sông Bạt Kỳ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỷ Kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỷ kheo, ở tại trú xứ của Tăng, mà tự mình hoặc sai người khác đem giường nằm, giường ngồi, nệm gối ra chỗ đấùt trống, rồi lúc đi không dọn cất, cũng không sai người dọn cất, thì phạm Ba Dạ Đề”.

Giải thích

Trú xứ của Tăng: Hoặc trú xứ tại A luyện nhã, hoặc trú xứ tại thôn xóm.

Giường nằm, giường ngồi: Có mười bốn thứ:

1. Giường nằm chân tròn; 2. Giường ngồi chân tròn; 3. Giường nằm bằng nệm; 4. Giường ngồi bằng nệm; 5. Giường nằm bằng dây; 6. Giường ngồi bằng dây; 7. Giường nằm bằng ô-na-đà; 8. Giường ngồi bằng ô na đà; 9. Giường nằm bằng đà di; 10. Giường ngồi bằng đà di (ở đây chỉ có mười thứ).

Nệm: Nệm kiếp bối, nệm lông mịn, nệm len, nệm ca thi, nệm cỏ.

Gối: Gối kiếp bối, gối lông mịn, gối len, gối ca thi.

Trải: Hoặc tự mình trải, hoặc bảo người khác trải.

Đi: Đi đến nơi khác.

Không đem cất: không tự mình đem cất, không sai người đem cất, thì phạm Ba dạ đề.

Nếu muốn thuyết pháp tại chỗ đất trống, rồi người coi giữ giường nệm đem bày giường nệm ra, sau đó bỏ đi cách hai mươi lăm khuỷu tay mà không dặn lại người khác đem cất, thì phạm Ba dạ đề.

Nếu cả hai người cùng biết (có giường ở ngoài trời) thì khi một người ra đi phải dặn người thứ hai. Nếu người thứ hai muốn đi, phải đợi người thứ nhất trở lại dặn dò xong mới được đi. Nếu đem giường gối ra bày rồi có người đến ngồi mà người đem ra biết được họ, thì bỏ đi không có tội.

Nếu vào những tháng mùa xuân, Tỷ kheo đem giường nệm để ngoài trời, rồi Tỷ kheo trẻ tuổi đến ngồi ngủ trên đó, thì người đem ra phải dặn Tỷ kheo ấy đem cất.

Nếu Tỷ kheo ban đêm đi đại tiểu tiện, đụng nhằm giường của Tăng mà trên ấy không có Tỷ kheo rồi bỏ đi, thì tùy theo chạm mỗi cái phạm mỗi tội Ba dạ đề. Nếu trên giường ấy có Tỷ kheo, bèn dặn họ đem cất thì không có tội.

Nếu thầy tri sự của Tăng muốn trao Giường nệm cho ai, rồi lấy ra để ngoài trời, bỏ đi cách xa hai mươi lăm khuỷu tay, thì phạm Ba dạ đề. Nếu người nhận giường nệm của Tăng, rồi để phơi ngoài nắng bỏ đi cách xa hai mươi lăm khuỷu tay, cũng phạm Ba dạ đề.

Nếu Tỷ kheo bị bệnh, nằm ngủ ở chỗ trống, đệ tử đến đảnh lễ, nếu thấy thầy đứng dậy đi, thì đệ tử phải đem giường ấy vào trong phòng cất. Nếu hai người cùng ngồi một giường, thì khi Thượng tọa muốn đi phải dặn lại Hạ tọa. Hạ tọa muốn đi thì phải bạch với Thượng tọa rằng: “Con muốn đi, cái giường này nên cất ở chỗ nào?”. Nếu Thượng tọa nói: “Ông cứ đi đi, giường này ta sẽ cất cho”, thì khi ấy Hạ tọa đi, không có tội.

Nếu Tỷ kheo đem giường nệm ra để cho Hòa thượng A xà lê nằm, rồi bỏ đi thì phạm tội Việt tì ni. Nếu Hòa thượng A xà lê biết đệ tử đem ra cho mình nằm, thì khi ra đi nên dặn họ cất, nếu không dặn mà đi, thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu Tỷ kheo đặt hình tượng trên giường của chúng Tăng, rồi các Tỷ kheo khác đến lễ bái, tay chạm vào hình tượng mà không đem cất thì phạm Ba dạ đề. Nếu Tỷ kheo theo thứ tự đến lễ bái, tay chạm vào hình tượng, thì nên dặn người sau cùng đem cất.

Có các trường hợp: Hoặc được dặn dò mà không thuộc trách nhiệm, hoặc thuộc trách nhiệm mà không dặn dò; hoặc vừa phải dặn dò, vừa thuộc trách nhiệm; hoặc chẳng phải dặn dò, cũng chẳng thuộc trách nhiệm.

Được dặn dò mà không thuộc trách nhiệm: Đó là trường hợp Sa di.

Thuộc trách nhiệm mà không phải được dặn dò: Đó là trường hợp Tỷ kheo thượng tọa.

Vừa phải dặn dò, vừa thuộc trách nhiệm: Đó là trường hợp Tỷ kheo Hạ tọa.

Chẳng phải dặn dò, cũng chẳng thuộc trách nhiệm: Đó là trường hợp người thế tục.

Nếu Tỷ kheo có đức lớn có nhiều đệ tử, rồi họ trải giường nệm, mà thầy biết họ trải cho mình, thì khi đi nên dặn họ đem cất, nếu không dặn, thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu tại trú xứ của chúng Tăng có những giường nệm để ngoài trời, mà khi Tỷ kheo ra đi, không đem cất thì phạm Ba dạ đề.

Nếu thấy giường nệm của chúng Tăng để ngoài trời tại chỗ ở của mình, mà khi ra đi không đem cất, thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu thấy giường nệm của mình đễ ngoài trời tại chỗ ở của chúng Tăng mà khi ra đi không đem cất, thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu thấy giường nệm của mình để ngoài trời tại chỗ ở của mình, mà khi ra đi không đem cất, thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu thấy giường nệm của Tăng để ngoài trời tại nhà bạch y, mà khi ra đi không đem cất, thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu thấy giường nệm của người thế tục đễ ở ngoài trời, thì khi ra đi nên nói cho họ biết. Thế nên nói (như trên).