LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ phần thứ tư của CHÍN MƯƠI HAI PHÁP ĐƠN ĐỀ.

17. GIỚI: CƯỠNG CHIẾM CHỖ NẰM CỦA NGƯỜI KHÁC.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn du hành trong nhân gian đến Câu diệm di, thế rồi vào một hôm đầu đêm, Thế Tôn thuyết pháp cho các Thanh Văn; sau khi nghe thuyết pháp xong, các Tỷ kheo trở về phòng an trú. Khi ấy, nhóm sáu Tỷ kheo còn nấn ná, chuyện vãn với các người khác đến khuya mới trở về, gõ cửa phòng. Người trong phòng hỏi: “Ai đó?”, thì họ đáp: “Chúng tôi là nhóm sáu Tỷ kheo đây, muốn nghỉ lại trong phòng này”. Các Tỷ kheo trong phòng đáp: “Phòng này đã hết chỗ rồi”.

Nhóm sáu Tỷ kheo bèn hạ giọng nhỏ nhẹ van nài: “Cho chúng tôi một chỗ để ngồi một lát thôi”.

Họ van nài như thế mà không được, rồi họ đi đến phòng khác van nài lại cũng không được. Họ bèn đi tới chỗ trú của các Tỷ kheo Hạ tọa, như căn phòng sưởi, phòng tọa thiền, giảng đường gõ cửa. Các Tỷ kheo trong phòng hỏi: “Ai đó?”thì họ đáp: “Chúng tôi là nhóm sáu Tỷ kheo, muốn xin nghỉ ở đây”.

Các Tỷ kheo trong phòng đáp: “Phòng này đã đầy cả rồi”.

Nhóm sáu Tỷ kheo lại kỳ kèo, van nài không ngừng. Các Tỷ kheo trong phòng liền mở cửa. Họ bèn bước vào trong phòng, rồi nằm ngang dọc trên giường, hoặc dùng tay chân gác lên người bên cạnh, hoặc dùng cùi chỏ, đầu gối húc vào hông những người đó, hoặc nói: “Nếu các trưởng lão thấy khó chịu thì đi chỗ khác”. Nói thế xong họ liền thổi tắt đèn, rồi gọi các Tỷ kheo bạn hữu ở ngoài, nói: “Các vị phạm hạnh có thể vào đây”.

Khi vào phòng xong, họ nằm quay đầu ngược nhau, người này gác cùi chỏ lên đầu gối người kia, mặc sức đùa giỡn. Các Tỷ kheo suy nghĩ: “Ai mà có thể nằm chung với những kẻ phi oai nghi này”, rồi cầm tọa cụ đi ra khỏi phòng. Thế rồi, các Tỷ kheo đem sự kiện ấy bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: “Đợi ta đi Kiều Tát La xong, trở về lại Thành Xá Vệ, các thầy hãy trình bày lại việc này với ta, Ta sẽ chế giới cho các Tỷ kheo”.

Lại nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Các Tỷ kheo khách nhận được phòng của nhóm sáu Tỷ kheo, ban đêm họ đóng cửa nằm ngủ. Nhóm sáu Tỷ kheo vì trước đó có mối hiềm khích với Tỷ kheo khách nên họ hốt bùn lầøy đổ ngay lối đi trước cửa phòng, rồi bỏ đá gạch lẫn lộn vào. Tỷ kheo khách ban đêm đi ra khỏi phòng, đạp nhằm bùn lầy, té trên gạch đá, bèn la lên: “Các trưởng lão! Nhóm sáu Tỷ kheo hại tôi làm gãy cổ tôi. Họ làm cái việc như thế (đổ bùn đá trên lối đi) là muốn nhiễu loạn tôi. Ai mà có thể sống với họ được”.

Các Tỷ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo các Tỷ kheo đi gọi nhóm sáu Tỷ kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi: “Các ông có làm chuyện ấy thật chăng?”.

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Đó là việc ác.

Thế rồi, các Tỷ kheo liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Nhóm sáu Tỷ kheo không những làm một việc ác này mà lúc Thế Tôn đi du hành đến nước Kiều Tát La, họ cũng đã từng nhiễu loạn các Tỷ kheo, đến nỗi các Tỷ kheo ấy phải mang tọa cụ rời khỏi trú xứ”.

Phật liền hỏi nhóm sáu Tỷ kheo:

—Các ông có làm việc ấy thực chăng?

—Có thực, bạch Thế Tôn.

—Vì sao các ông đã biết những người ấy đến trước, trải tọa cụ rồi, mà các ông đến sau làm nhiễu loạn muốn đuổi họ đi? Đó là việc ác, phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang cư trú tại Thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỷ kheo biết Tỷ kheo khác đến trước trải giường nệm rồi, mình đến sau cũng trải đồ đạc ra rồi suy nghĩ: “Nếu người kia không thích thì bỏ đi”. Làm việc đó với dụng tâm như thế chứ chẳng có gì khác, thì phạm tội Ba dạ đề”.

Giải thích

Biết: Tự biết hoặc nghe từ người khác mà biết.

Trải đồ đạc ra trước: Trải ra từ lúc đầu.

Giường nệm: Như trước đã giải thích.

Đến sau rồi bày đồ đạc ra: Vì muốn nhiễu loạn người trước muốn cho họ bỏ đi. Nếu vì nguyên nhân ấy chứ không có lý do nào khác thì phạm tội Ba dạ đề.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Nếu chỗ ở thiếu thì mỗi Tỷ kheo nên chiếm cứ trong phạm vi một cây cột, trải giường nệm, tọa cụ, rồi đi đến các Hòa Thượng, A xà lê lễ bái, hoặc thăm hỏi, hoặc đọc Kinh. Thế rồi Tỷ kheo đến sau bèn cuốn tọa cụ người trước, trải tọa cụ mình ra, ngồi tán kệ rầm rì. Vị Tỷ kheo ở trước trở về phòng, thấy thế, suy nghĩ: “Ai mà có thể nhiếp phục được người này!”, bèn cầm tọa cụ bỏ đi, thì vị Tỷ kheo đến sau ấy phạm tội Ba dạ đề. Hoặc ngồi thiền, tụng kinh, dưỡng bệnh cũng như vậy. Hoặc mình là Thượng tọà đến sau rồi nằm ngủ trên giường người khác, thì người kia nên nói: “Trưởng lão không biết Thế Tôn ngăn cấm việc đó sao?”. Nếu Tỷ kheo nằm ngủ này là Hạ Tọa, thì người kia nên khiển trách: “Ông không biết rõ giới luật. Ông không biết Thế Tôn đã chế giới sao? Vì sao đến sau mà ngủ trên giường người khác?”.

Nếu Tỷ kheo đi kinh hành tại chỗ của một Tỷ kheo khác mà trông thấy người ấy đến thì nên lánh đi. Nếu Tỷ kheo ban đêm nằm ngủ rồi nói mớ mà không có ý nhiễu loạn tha nhân thì vô tội. Nhưng nếu có chủ tâm nhiễu loạn thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu Tỷ kheo ni có tâm nhiễu loạn bạn đồng phạm hạnh thì phạm tội Thâu lan giá; nhiễu loạn Thức xoa ma ni, sa di, sa di ni thì phạm tội Việt tì ni; nhiễu loạn người thế tục thì phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói (như trên).