LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ phần thứ tư của CHÍN MƯƠI HAI PHÁP ĐƠN ĐỀ.

22. GIỚI: GIÁO GIỚI NI CHO ĐẾN TRỜI TỐI.

Khi Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên , bấy giờ các trưởng lão Tỷ kheo theo thứ tự đi giáo giới Tỷ kheo ni, nhưng tôn giả Nan Đà đến phiên mình đi giáo giới mà không chịu đi, khiến Tỷ kheo ni Đại Ái Đại Kiều Đàm Di, đi đến chỗ Phật cuối đầu đảnh lễ chân Phật rồi bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tôn giả Nan Đà theo thứ tự đi giáo giới Tỷ kheo ni mà không chịu đi, vậy thì ai là người nên đi đây?”. Nói thế xong, bà cuối đầu đảnh lễ chân Phật rồi ra đi.

Phật liền bảo một Tỷ kheo đi gọi Nan Đà đến. Khi thầy tới rồi, Phật bèn hỏi: “Đến phiên ông phải đi giáo giới Tỷ kheo ni, mà vì sao không đi?”.

—Bạch Thế Tôn! Vì con chưa được Tăng làm yết ma cử đi, do thế mà không đi.

Phật liền nói với các Tỷ kheo: “Người nào thành tựu mười hai việc thì Tăng nên cử đi giáo giới Tỷ kheo ni”. Thế nào là mười hai việc? Đó là:

1. Trì giới thanh tịnh.

2. Học nhiều A tì đàm.

3. Am tường tì ni.

4. Học giới.

5. Học định.

6. Học tuệ.

7. Có thể đoạn trừ ác kiến, tà kiến cho kẻ khác.

8. Tự mình giữ giới tinh nghiêm lại có thể làm gương cho người khác.

9. Rành ngôn ngữ lý luận

10. Không làm hoen ố phạm hạnh.

11. Không hỷ hoại trọng giới của Tỷ kheo ni.

12. Đủ hai mươi hạ lạp, hoặc hơn hai mươi hạ lạp.

Đó là mười hai pháp.

Người làm yết ma nên tác bạch (đề cử) như sau:

—Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tôn giả Nan Đà thành tựu mười hai pháp, nay Tăng sai Nan Đà giáo giới Tỷ kheo ni, các đại đức nào bằng lòng Nan Đà giáo giới Tỷ kheo ni thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.

Tăng đã bằng lòng sai Nan Đà giáo giới Tỷ kheo ni, vì Tăng đã im lặng. Vậy việc ấy cứ như thế mà thi hành.

Thế rồi, tôn giả Nan Đà tới đó thuyết pháp cho các Tỷ kheo ni kéo dài đến lúc mặt trời lặn, các Tỷ kheo ni mới vội vả trở về lại trong thành, khiến người đời trông thấy thế, chê trách rằng: “Sa môn Thích tử dẫn Tỷ kheo ni này đi mua vui cho đến mặt trời lặn mới trở về. Khá thương thay cho thân phận nữ nhi không được tự tại! Đến như thế thì thật là những kẻ bại hoại, nào có đạo hạnh gì!”.

Các Tỷ kheo nghe thế, bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo đi gọi Nan Đà đến. Khi thầy đến rồi, Phật bèn hỏi: “Ông có việc đó thật chăng?”.

—Có thật như vậy bạch Thế Tôn.

—Đó là việc xấu, phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỷ kheo được Tăng sai đi giáo giới Tỷ kheo ni mà ở lại từ lúc mặt trời lặn cho đến bình minh chưa xuất hiện, thì phạm tội Ba dạ đề”.

Giải thích

Tăng sai: Người thành tựu mười hai pháp. Tăng chúng thành tựu, tác bạch thành tựu và yết ma thành tựu.

Giáo giới: Hoặc là dạy về A tì đàm (luận), hoặc là dạy về tì ni (luật).

Trời tối: Từ lúc mặt trời lặn cho đến khi ánh sáng mặt trời chưa xuất hiện.

Ba dạ đề: Như đã nói trên

Mặt trời đã lặn mà tưởng là mặt trời chưa lặn cứ việc giáo giới thì phạm tội Việt tì ni.

Mặt trời chưa lặn mà tưởng là mặt trời đã lặn cũng phạm tội Việt tì ni.

Mặt trời đã lặn mà tưởng là mặt trời đã lặn (nhưng vẫn tiếp tục giáo giới) thì phạm tội Ba dạ đề.

Mặt trời chưa lặn mà tưởng chưa lặn thì không có tội.

Minh tướng (Ánh sáng bình minh) trong bốn trường hợp cũng như vậy.

Tỷ kheo ni mà tưởng là Thức xoa ma ni rồi giáo giới họ thì phạm tội Ba dạ đề.

Thức xoa ma ni mà tưởng là Tỷ kheo ni, rồi giáo giới thì phạm tội Việt tì ni.

Thức xoa ma ni mà tưởng là thức xoa ma ni rồi giáo giới, thì không có tội.

Tỷ kheo ni mà tưởng là Tỷ kheo ni rồi giáo giới (đến tối), thì phạm tội Ba dạ đề.

Sa di ni, nữ ngoại đạo xuất gia, Ưu bà di, trong bốn trường hợp, cũng như vậy.

Nếu Tỷ kheo ni ban đêm đảnh lễ dưới chân Tỷ kheo, rồi Tỷ kheo nói: “Mong hết khổ được giải thoát”, thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu nói: “Lành thay, cô đến đây”, thì không có tội.

Nếu trong đêm bốn bộ chúng tập họp để nghe pháp mà Tỷ kheo có dụng ý muốn thuyết pháp riêng cho Tỷ kheo ni rồi nói về các kinh Đại ái đạo xuất gia, Kinh Hắc cù đàm di, Kinh pháp dự Tỷ kheo ni thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu lâu nay chỉ đọc các kinh này, không biết các kinh khác rồi theo thứ tự mà đọc, thì không có tội.

Nếu ban đêm Tỷ kheo ngồi trên tòa cao thuyết pháp mà nói như sau: “Tất cả hội chúng ngồi lắng nghe cho rõ”, thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu không nói như thế mà chỉ lo thuyết pháp thì không có tội. Thế nên nói (như trrên).