LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ phần thứ tư của CHÍN MƯƠI HAI PHÁP ĐƠN ĐỀ.

25. GIỚI: NGỒI VỚI NI Ở CHỖ KHUẤT.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ nói rộng như trên, bấy giờ Tỷ kheo ni Thiện sinh—vốn là vợ cũ của tôn giả Ưu Đà Di—nói với tôn giả Ưu Đà Di rằng: “Ngày mai đến phiên tôi sẽ nhận được phòng ở, thầy có thể đến để chúng ta cùng nói chuyện”. Thế rồi, sáng hôm sau, trong khi các Tỷ kheo ni vào xóm làng khất thực thì Ưu Đà Di đi đến phòng của Tỷ kheo ni Thiện Sinh, ngồi xoài chân ra tại chỗ khuất, kề cận nhau nói chuyện, khiến dục tâm phát sinh, nam căn khởi lên, rồi họ nhìn chăm chú vào nó. Bất thần có một Tỷ kheo ni già bệnh, từ trong phòng đi ra, trông thấy cảnh tượng ấy lấy làm hổ thẹn, liền trở về phòng. Đoạn bà đem việc ấy thuật lại với các Tỷ kheo ni. Các Tỷ kheo ni bèn khiển trách Tỷ kheo ni Thiện Sinh: “Cô là người xuất gia, vì sao lại làm việc phi pháp như vậy? thật là đáng xấu hổ!’.

Tỷ kheo ni Thiện sanh liền nổi sân lên, nói: “Kỳ quái thay! Kỳ quái thay! Đó là Tỷ kheo thân tình với tôi thường thường đến thăm tôi, nếu tôi không tiếp chuyện vui vẻ thì ai làm việc đó? Đó là phép nhà của tôi, có gì mà lấy làm lạ!”. Hễ các Tỷ kheo ni cật vấn đến đâu thì Tỷ kheo ni Thiện Sinh—vì có tài biện luận—trả lời đến đó. Các Tỷ kheo ni bèn đem việc ấy bạch với Đại Ái Đạo, Đại Ái Đạo liền bạch lên Thế Tôn. Phật bèn bảo gọi Ưu Đà Di đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi: “Ông có việc đó thật căng?”.

—Có thật như vậy bạch Thế Tôn.

—Đó là việc xấu. Ông không từng nghe ta dùng vô lượng phương tiện ca ngợi phạm hạnh, chê trách dâm dục hay sao? Vì sao ông lại làm một việc xấu bất thiện như thế? Đó là điều phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống tại Thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỷ kheo ngồi một mình với một Tỷ kheo ni tại chỗ vắng vẻ, trống trãi thì phạm Ba dạ đề”.

Giải thích

Một mình: Một Tỷ kheo ngồi với một Tỷ kheo ni, dù cho có người khác mà người này cuồng si điên loạn, hoặc đang ngủ, hoặc là loài phi nhân, súc sinh, thì tuy có những đối tượng như thế cũng được xem như không có người thứ ba.

Chỗ vắng vẻ: Tức nơi hoang vắng.

Ngồi: (hai người) cùng ngồi.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Nếu Tỷ kheo ni mời một Tỷ kheo đến thọ trai, rồi một Tỷ kheo ni cùng ngồi với một Tỷ kheo, một Tỷ kheo ni khác đi lại tiếp thức ăn, thì cứ mỗi lần Tỷ kheo ni tiếp thức ăn đi khỏi, Tỷ kheo phạm một tội Ba dạ đề. Nếu Tỷ kheo ni ngồi thì khi ấy Tỷ kheo nên đứng dậy, nhưng không được im lặng đứng dậy khiến cho Tỷ kheo ni nghi ngờ mình định làm điều phi pháp mà nên nói: “Tôi muốn đứng dậy”. Nếu Tỷ kheo ni hỏi: “Vì sao đứng dậy?”, thì nên đáp: “Đức Thế Tôn chế giới Tỷ kheo không được ngồi với Tỷ kheo ni”. Nếu Tỷ kheo ni nói: “Tôn giả cứ ngồi tôi sẽ đứng dậy”. Thì khi ấy Tỷ kheo ngồi lại không có tội.

Thậm chí nếu Tỷ kheo cùng ngồi với Sa di ni tại các chỗ như trên gác, dọc đường trên tấm ván, trên giày, hễ cứ mỗi lần Sa di ni di chuyển chỗ khác mà Tỷ kheo di chuyển theo thì phạm một tội Ba dạ đề. Hoặc giả Sa di ni dưới bảy tuổi đi nữa, thì Tỷ kheo cũng phạm tội Ba dạ đề.

Tỷ kheo ngồi một mình với Tỷ kheo ni ở chỗ khuất thì phạm Ba dạ đề. (ý này ở trên đã nói rồi).

Tóm lại, nếu Tỷ kheo ngồi một mình với một Tỷ kheo ni tại tinh xá mà cửa hướng ra đường, và ngoài đường người qua lại không gián đoạn; hoặc giả ngồi tại chỗ che khuất không trống trải, ngồi gần nhau chứ không xa, ngồi với một người chứ không phải với nhiều người, không kể ngày hay đêm, thì tất cả giống như giới: “thuyết pháp cho phụ nữ”đã nói rõ ở trước. Thế nên nói (như trên).