LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ PHẦN THỨ NHẤT CỦA CHÍN MƯƠI HAI PHÁP ĐƠN ĐỀ

4. GIỚI: KHƠI LẠI SỰ TRANH CÃI.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, nhóm sáu Tỉ-kheo biết chúng Tăng như pháp, như luật diệt trừ sự tranh chấp rồi, liền nói:

—Việc ấy chưa xong, phải xử đoán lại. Nhóm 6 Tỉ-kheo nói những lời ấy xong, sự tranh chấp liền khởi lên trở lại, chư Tăng sống không hòa hợp. Các Tỉ-kheo liền đem việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật bảo gọi nhóm 6 Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật hỏi:

—Có thật các ông biết chúng Tăng như pháp, như luật dập tắt sự tranh chấp rồi, bèn làm cho phát sinh trở lại phải không?

—Có thật như vậy.

—Vì sao như thế?

—Chúng con tạo ra sự việc ấy là vì thấy thích thú.

—Này những kẻ ngu si, làm não loạn các bậc phạm hạnh, đó là việc ác, vì sao lại cho là vui? Các ông không từng nghe ta dùng vô số phương tiện khen ngợi những người phạm hạnh thường có tâm từ bi, thân khẩu từ bi hay sao? Do đó, cần phải tôn kính họ. Nay vì sao các ông lại làm việc ác như thế?. Đó là điều phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì 10 lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỉ-kheo biết Tăng đã như pháp, như luật dập tắt sự tranh cãi rồi mà làm phát sinh trở lại, nói rằng: Việc Yết-ma ấy chưa xong, phải làm lại, chỉ vì lý do như vậy, chứ không có gì khác, thì phạm Ba-dạ-đề”.

Giải thích

(Một số từ đã được giải thích ở trước)

Sự tranh cãi: Gồm có 4 việc: 1. sự tranh cãi về lời nói; 2. sự tranh cãi do hủy báng; 3. sự tranh cãi về tội phạm; 4. sự tranh cãi về những việc thường làm.

Dập tắt sự tranh cãi đúng pháp đúng luật: Trong 7 cách dập tắt sự tranh cãi nhất nhất đều đã dập tắt đúng pháp, đúng luật, rồi làm phát sinh trở lại mà không có lý do nào chính đáng, thì phạm Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói.

Bốn sự tranh cãi: 1. sự tranh cãi về lời nói; 2. sự tranh cãi do hủy báng; 3. sự tranh cãi về tội phạm; 4. sự tranh cãi về những việc thường làm.

Sự tranh cãi về lời nói, dùng 3 pháp Tì-ni (nguyên tắc) mỗi mỗi diệt trừ. Ba pháp đó là gì? Đó là: Dùng Hiện-tiền-tì-ni để diệt trừ; dùng Đa-mích-tì-ni để diệt trừ; dùng Bố-thảo (rải cỏ) Tì-ni để diệt trừ.

1. Hiện tiền Tì-ni: Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, bấy giờ các Tỉ-kheo ở Câu Diệm Di đấu tranh nhau, những người cùng sống một chỗ không hòa hợp. Pháp họ bảo là phi pháp; luật bảo là phi luật; tội bảo gọi là không phải tội; tội nặng, tội nhẹ; có thể trị, không thể trị; đúng pháp Yết-ma, phi pháp Yết-ma; Yết-ma có hòa hợp, Yết-ma không hòa hợp; nên làm, không nên làm. Bấy giờ có một Tỉ-kheo ngồi trong ấy nói như sau: “Này các Đại-đức, đó là việc phi pháp, phi luật, không phù hợp với kinh, không phù hợp với luật, không phù hợp với Ưu-ba-đề-xá (luận). Trái với kinh, luật, luận, sinh khởi các sự nhiễm ô, lậu-hoặc; như tôi nói mới đúng là pháp, là luật, là lời Phật dạy, tương ứng với kinh, luật, luận không sinh ra nhiễm ô, Lậu-hoặc. Này các Đại-đức, tôi không thể dập tắt sự tranh cãi này. Tôi phải đến thành Xá Vệ, chỗ Thế Tôn, để hỏi về giải pháp dập tắt sự tranh cãi này”.

Thế rồi, Tỉ-kheo này đi đến chỗ Thế Tôn cúi đầu đảnh lễ chân Phật rồi đứng một bên, bạch với Phật:

—Bạch Thế Tôn! Các Tỉ-kheo ở Câu Diệm Di đấu tranh nhau, cùng sống một chỗ mà không hòa hợp. Những việc như pháp mà họ bảo là phi pháp, (cho đến) con không thể dập tắt sự tranh đấu ấy, nên đến chỗ Thế Tôn hỏi về phương pháp dập tắt sự tranh đấu ấy. Cúi xin Thế Tôn, vì các Tỉ-kheo mà dập tắt sự tranh đấu ấy.

Bấy giờ Thế Tôn bảo Ưu Ba Li:

—Ông hãy đến nước Câu Diệm Di dập tắt sự tranh đấu ấy như pháp, như luật, theo nguyên tắc hiện tiền Tì-ni. Này Ưu Ba Li, sự tranh đấu có 3 chỗ khởi lên: Hoặc một người, hoặc nhiều người, hoặc chúng Tăng. Do đó, cũng phải 3 chỗ xả, 3 chỗ thủ, 3 chỗ diệt. Này Ưu Ba Li, ông hãy đến chỗ các Tỉ-kheo tại Câu Diệm Di, dập tắt sự tranh đấu ấy như pháp, như luật, theo nguyên tắc hiện tiền Tì-ni.

Tôn-giả Ưu Ba Li bèn bạch với Phật:—Bạch Thế Tôn! Vị Tỉ-kheo thành tựu bao nhiêu pháp thì có thể dập tắt được sự tranh đấu?

Phật nói với Ưu Ba Li:

—Vị Tỉ-kheo thành tựu năm pháp thì có thể dập tắt sự tranh đấu. Năm pháp đó là: Biết việc đó là có thật chứ không phải không có thật; làm vì lợi ích chứ chẳng phải không lợi ích; được mọi người tán thành, chứ chẳng phải không được tán thành; làm một cách công bằng chứ không phải không công bằng; hợp thời chứ chẳng phải không hợp thời.

Này Ưu Ba Li, nếu giải quyết sự việc không hợp thời, thì Tăng hoặc bị phá (bị chia rẽ), hoặc Tăng tranh cãi, hoặc Tăng ly tán. Trái lại, nếu dập tắt sự tranh đấu đúng lúc thì Tăng không bị phá, không tranh cãi, không phân tán. Đó gọi là vị Tỉ-kheo thành tựu năm pháp có thể dập tắt sự tranh đấu, làm cho các vị phạm hạnh thương nhớ, ca ngợi. Nay ông hãy đi đến chỗ các Tỉ-kheo ở Câu Diệm Di, giải quyết việc ấy như pháp, như luật, theo nguyên tắc hiện tiền Tì-ni.

Bấy giờ Tôn-giả Ưu Ba Li bèn đảnh lễ chân Thế Tôn, đi tới chỗ Tỉ-kheo (sứ giả) của Câu Diệm Di, nói:

—Này trưởng lão, hãy trở về lại chỗ có sự tranh chấp, sinh khởi mà dập tắt ngay tại đó, chứ không giải quyết sự việc ở đây. Vì sao vậy? Vì ở đây chúng Tăng hòa hợp, hoan hỉ, không tranh chấp, cùng sống chung, không nên nhiễu loạn họ.

Khi ấy, Tỉ-kheo (sứ giả) của Câu Diệm Di liền bạch với Tôn-giả Ưu Ba Li:

—Thưa Đại-đức, nếu tôi có thể dập tắt sự tranh chấp tại đó được thì đã không tới đây. Nguyện xin Tôn-giả vì tôi mà đến đó dập tắt sự tranh chấp ấy.

Ưu Ba Li nói:

—Nếu tôi đến đó thì việc gì đáng làm Yêt-ma, tôi sẽ làm Yết-ma, việc gì đáng trị phạt thì sẽ trị phạt, hoặc đáng làm Yết-ma chiết phục, Yết-ma không nói, Yết-ma Ma-na-đỏa, Yết-ma A-phù-ha-na, có những lỗi lầm như vậy, như vậy, tôi sẽ làm Yết-ma như vậy, để trị phạt. Khi ấy, các Vị chớ nên sinh tâm không vui.

Vị Tỉ-kheo sứ giả ấy liền bạch với Tôn-giả Ưu Ba Li:

—Nếu chúng tôi có những lỗi lầm như vậy, thì sẽ chịu những sự trị phạt như vậy, trong lòng chẳng có gì là không vui.

Khi ấy Tôn-giả Ưu Ba Li bèn trở lại chỗ Phật, bạch với Phật rằng:

—Bạch Thế Tôn! Muốn dập tắt sự tranh chấp của các Tỉ kheo ấy phải dụng tâm như thế nào?

Phật nói với Ưu Ba Li:

—Muốn dập tắt sự tranh chấp thì trước hết phải trù tính năng lực của bản thân mình, năng lực phước đức, năng lực biện tài và năng lực vô úy và biết rõ sự duyên sinh khởi. Tỉ-kheo trước hết phải tự suy nghĩ xem mình có những khả năng như vậy không. Nếu thấy sự tranh chấp ấy khởi lên chưa lâu; tâm người đó nhu nhuyến, sự tranh chấp có thể dễ dập tắt, thì Tỉ-kheo này, lúc ấy mới dập tắt sự tranh chấp. Trái lại, nếu tự tư duy thấy mình không có các khả năng trên, sự tranh chấp khởi lên đã lâu, người ấy cang cường, không thể dập tắt nhanh được, thì nên tìm một Tỉ-kheo có đức vọng cùng với mình dập tắt việc ấy. Nếu không có Tỉ-kheo có đức vọng, thì nên tìm một Tỉ-kheo đa văn. Nếu không có Tỉ-kheo đa văn thì nên tìm một Tỉ-kheo ở A Luyện Nhã. Nếu không có Tỉ-kheo ở A Luyện Nhã, thì nên tìm một Ưu-bà-tắc có thế lực lớn. Vị Tỉ-kheo tranh chấp kia thấy Ưu-bà-tắc rồi, tâm sẽ sinh xấu hổ, thì sự tranh chấp dễ dập tắt. Nếu không có Ưu-bà-tắc như vậy, thì nên nhờ nhà vua, hoặc vị đại thần có thế lực. Khi ấy, Tỉ-kheo tranh chấp kia thấy người hào quí có thế lực như vậy, thì tâm sinh kính sợ, do đó, sự tranh chấp dễ dập tắt. Nếu sự tranh chấp được dập tắt vào mùa đông, thì nên đem đến chỗ không có giá lạnh, khí hậu ấm áp, một nơi vắng vẻ. Khi Tỉ-kheo khách đến, nên cung cấp lò sưởi. Nếu vào mùa xuân, nên đem đến một nơi mát mẻ, sắp giường ghế dưới gốc cây, trang bị nước lạnh, nước giải khát, nên dùng quạt để quạt. Nếu vào mùa hạ nên đem đến một nơi cao ráo mát mẻ, và cung cấp các thứ cần thiết theo thời. Bấy giờ, nên cử một Tỉ-kheo có khả năng và có trí tuệ, biết rõ nhân duyên sự việc, không khiếp sợ, không tìm lỗi người, không sợ số đông. Nếu có Ưu-bà-tắc đến, nên tán thán công đức làm cho chúng Tăng hòa hợp, lại nói với Ưu-bà-tắc: “Như đức Thế Tôn nói, một pháp xuất hiện ở đời khiến cho trời người khổ não, trời người bất lợi. Một pháp đó là: Phá hoại, làm rối loạn chúng Tăng, đến khi thân hoại mệnh chung sẽ rơi thẳng vào địa ngục”.

Lại nữa, này Ưu-bà-tắc, như đức Thế Tôn nói: “Một pháp xuất hiện ở đời khiến cho trời người an lạc, trời người được lợi. Một pháp đó là: Làm cho chúng Tăng hòa hợp, thì sau khi thân hoại mệnh chung sẽ sinh vào cõi Thiện, trên cõi trời, hoặc trong cõi người. Như vậy đó Ưu-bà-tắc, muốn được công đức lớn, nên làm cho chúng Tăng hoà hợp”.

Khi 2 nhóm trình bày, thầy Tỉ-kheo này (người xử đoán) phải xem xét sự việc cặn kẽ, ghi nhớ từng lời nói, từng câu, từng chữ, từng ý nghĩa. Bấy giờ trong hội chúng có một Tỉ-kheo không phải Thất-lại-tra (?) mà giả bộ Thát-lại-tra, nói như sau:

—Tôi nghe các Đại-đức trước kia nói: Những lời như vậy mà giờ đây lại nói những lời như vậy là không ăn khớp nhau.

Nếu thấy người này tính tình nhu nhuyến có thể chiết phục được thì nên nói giữa chúng Tăng như thế này để ông ta hổ thẹn: “Ông là kẻ bất thiện, gây nên việc bất hòa, làm cho chúng Tăng không hòa hợp. Hôm nay vì việc đó mà phải tập trung tại đây”. Trái lại, nếu đó là người ác tính, tính cang cường cố chấp, có thể làm tăng thêm sự tranh đấu, thì nên nói nhỏ nhẹ bằng những lời sau: “Trưởng lão, hôm nay chúng Tăng tập họp là để dập tắt sự tranh đấu, vậy trưởng lão nên hợp tác với tôi để dập tắt sự tranh đấu này”. Nếu thấy tâm ý của Tỉ-kheo ấy đã nhu nhuyến rồi thì bấy giờ vị Tăng đoán sự (người xửû đoán) nói với thầy Tỉ-kheo hữu sự thế này: “Giờ ông hãy trình bày sự việc đó”.

Rồi Tỉ-kheo ấy nói như sau: “Nay tôi trình bày sự việc này, mong chúng Tăng giải quyết cho tôi đúng pháp, đúng luật”.

Bấy giờ, Tỉ-kheo đoán sự nên khiển trách người này bằng những lời sau, để cho ông hổ thẹn: “Ông là kẻ bất thiện, có chúng Tăng nào lại dùng điều phi pháp, phi luật để giải quyết công việc!”. Nếu Tỉ-kheo ấy nói: “Tôi không định nói như thế với chúng Tăng, mong chúng Tăng hãy dạy bảo tôi về những cách thức”.

Bấy giờ người đoán sự nên dạy ông ta nói thế này: “Nay tôi trình bày nguyên nhân của sự tranh chấp này, tùy theo chúng Tăng chỉ dạy, tôi sẽ phụng hành”.

Nếu Tỉ-kheo ấy không theo lời nói mà Tăng chỉ dạy, thì nên nói với ông: “Nếu ông không vâng lời Tăng chỉ dạy, thì tôi sẽ lấy biểu quyết giữa Tăng, đuổi ông ra khỏi chúng”.

Nếu Tỉ-kheo ấy vẫn không chịu vâng lời, thì bấy giờ nên bảo một Ưu-bà-tắc hỏi ông ta: “Ông có chịu nghe lời Tăng dạy không? Nếu ông không chịu nghe lời, tôi sẽ áp dụng luật pháp của bạch y đối với ông, đuổi ông ra khỏi thành ấp xóm làng”.

Nếu biết sự tranh chấp của Tỉ-kheo ấy là sự tranh chấp nhỏ nhặt, thì Tăng có thể dập tắt sự tranh chấp trước mặt Ưu-bà-tắc. Nếu sự việc ấy bỉ ổi, xấu xa thì nên khuyên nhủ Ưu-bà-tắc ra khỏi hội chúng, rồi Tăng mới tùy theo sự thật, áp dụng hiện tiền Tì-ni mà diệt trừ sự việc ấy đúng pháp, đúng luật, đúng theo kinh giáo.

Bấy giờ, Tôn giả A Nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi bạch với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là dùng hiện tiền Tì-ni để dập tắt tranh chấp?”

Phật nói với A Nan: “Này A Nan, những sự tranh cãi của Tỉ-kheo gồm có: Như pháp, phi pháp; như luật, phi luật; tội, chẳng phải tội; tội nhẹ, tội nặng; tội có thể trừng trị, tội không thể trừng trị; như pháp Yết-ma, phi pháp Yết-ma; hòa hợp Yết-ma, không hòa hợp Yết-ma; Yết-ma nên làm, Yết-ma không nên làm. Này A Nan, nếu có những việc như thế phát sinh, thì nên nhanh chóng tập họp Tăng, tập họp Tăng rồi, kiểm điểm sự việc, như pháp, như luật, như kinh giáo, tùy theo sự thật mà áp dụng hiện tiền Tì-ni để diệt trừ. Nếu hội đủ 5 điều phi pháp (sau đây) thì không thành hiện tiền Tì-ni. Thế nào là năm? Đó là: Bất hiện tiền dữ (giải quyết sự việc không có mặt đương sự); không hỏi; không nhận lỗi; không đúng pháp; giải quyết việc không hòa hợp. Đó gọi là 5 điều phi pháp, áp dụng hiện hiền Tì-ni nên không thành. Nếu thành tựu 5 pháp thì mới thành áp dụng hiện tiền Tì-ni. Năm pháp đó là: Có sự hiện diện của đương sự; hỏi; nhận lỗi; đúng pháp; giải quyết sự việc trong sự hòa hợp.

Đó gọi là 5 pháp thành tựu áp dụng hiện tiền Tì-ni, như vậy đó A Nan, như pháp, như luật, như Phật dạy.

Khi áp dụng hiện tiền Tì-ni để dập tắt sự tranh chấp rồi, nếu có khách Tỉ-kheo, hoặc Tỉ-kheo ra đi, hoặc Tỉ-kheo gởi dục, hoặc Tỉ-kheo không gởi dục, hoặc Tỉ-kheo mới thọ giới, hoặc Tỉ-kheo đang ngồi ngủ gục, những Tỉ-kheo này nói như sau: “Yết-ma như vậy là không tốt, trái với Phật, pháp, Tăng giống như trâu dê, Yết-ma bất thiện, Yết-ma không thành tựu”. Này A Nan, do nói như thế mà sự tranh chấp khởi lên trở lại, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là tướng ngôn tránh (sự tranh cãi do những lời bắt bẻ).

Dùng hiện tiền Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi do hủy báng: Nếu Tỉ-kheo không thấy, không nghe, không nghi Tỉ-kheo khác phạm 5 thiên tội: Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dạ-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Việt-tì-ni mà dùng 5 thiên tội ấy hủy báng, đó gọi là sự tranh cãi do hủy báng. Trong trường hợp này nên dùng 2 pháp Tì-ni là “Ứùc niệm Tì-ni”và “Bất si Tì-ni”để dập tắt.

2.Ức niệm Tì-ni : Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, Tỉ-kheo-ni Từ Địa làm điều phi phạm hạnh, bị mang thai, bèn đến chỗ nhóm 6 Tỉ-kheo nói như sau: “Tôi làm việc phi phạm hạnh, nay bị mang thai, Tôn-giả có hiềm thù với ai, tôi sẽ vu cáo họ giúp cho”.

Nhóm 6 Tỉ-kheo nói: “Lành thay này chị em, nay muốn làm việc lợi ích cho chúng tôi. Này chị em, Đà-phiêu-ma-tử là kẻ thù suốt đời của chúng tôi, đã cho chúng tôi phòng ở dột nát, cung cấp mền gối không tốt, và thức ăn uống thô xấu. Nếu người này còn sống lâu trong nếp sống phạm hạnh, thì chúng tôi còn chịu khổ dài dài. Cô hãy chờ ngày chay, khi đại chúng thuyết pháp, rồi cô đến giữa đại chúng tố cáo Tỉ-kheo ấy đã làm điều phi phạm hạnh (đã giao hợp) với cô”.

Cô ấy đáp: “Tôi sẽ làm như lời Tôn-giả dạy”.

Thế rồi, Tỉ-kheo-ni ấy, vào các ngày mồng 8, 14, 15 lúc đại chúng thuyết pháp, bèn đến trước chúng, nói như sau: “Này Tôn-giả (Đà phiêu), hãy sắm các thức ẩm thực như sữa, dầu, nếp.v.v., và sửa chữa phòng ốc, tìm người hộ sinh giúp cho tôi, vì tôi sắp đến lúc sinh nở”.

Trưởng lão (Đà Phiêu) đáp: “Này cô, cô hãy tự biết, tôi không có việc ấy”.

Tỉ-kheo-ni Từ Địa lại nói: “Kỳ quái! Kỳ quái! Ông là kẻ trượng phu (nhân tình của tôi) sớm đi, tối đến, cùng với tôi chăn gối, mà giờ đây lại nói: “Tôi không có việc ấy”. Chớ có nhiều lời, hãy sắm cho tôi các thứ sữa, dầu.v..v.., Vì giờ sinh nở của tôi đã đến”.

Trưởng lão lại nói: “Cô tự biết lấy. Tôi không có việc đó”, nói như thế 3 lần, rồi bỏ đi.

Khi ấy trong dân chúng, những người không tin Tam bảo thì liền suy nghĩ: “Hai người này đều còn trẻ tuổi, ắt có việc đó”. Còn những người có ít lòng tin thì đều sinh nghi ngờ: Chẳng biết có hay không. Trái lại, những người có lòng tin kiên cố, thì nói: “Tôn-giả này đã diệt xong 3 độc, ác pháp đã đoạn tận vĩnh viễn, không thể có việc ấy”.

Bấy giờ, những tiếng xấu về Tôn-giả Đà Phiêu Ma La Tử làm điều phi phạm hạnh được truyền đi khắp nơi, ở chỗ kín đáo cũng nghe, ở chỗ nhiều người cũng nghe, ở giữa chúng Tăng cũng nghe. Các Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo:

—Này các Tỉ-kheo, những tiếng xấu đồn về Đà Phiêu Ma La tử làm điều phi phạm hạnh được truyền đi khắp nơi, vậy các ông phải đến chỗ kín đáo hỏi 3 lần, ở chỗ đông người hỏi 3 lần, ở giữa chúng Tăng hỏi 3 lần. Tại chỗ kín đáo nên hỏi như sau: “Trưởng lão Đà-phiêu-ma-la-tử, Tỉ-kheo-ni Từ Điạ đã nói như thế đó, thầy có biết chăng?”Nếu lúc ấy, trưởng lão nói: “Tôi không biết mình có làm hay không cũng không nhớ nữa”, thì phải hỏi như vậy đến lần thứ 2, thứ 3, rồi hỏi ở chỗ nhiều người 3 lần cũng như vậy, rồi lại hỏi ở giữa chúng Tăng: “Trưởng lão Đà Phiêu Ma La Tử, Tỉ-kheo-ni Từ Địa đã nói như thế, thầy có biết việc đó không?”. Nếu đáp: “Tôi không biết mình có làm hay không cũng không nhớ nữa”, thì lần thứ 2, thứ 3 cũng hỏi như vậy”.

(Sau khi đã làm theo lời Phật dạy) Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn! Trưởng lão Đà Phiêu Ma La Tử đã được hỏi ở chỗ kín đáo 3 lần, ở chỗ nhiều người 3 lần, ở giữa chúng Tăng 3 lần, ông đều nói: “Tôi không biết có làm hay không cũng không nhớ nữa”.

Khi ấy, Phật nói với các Tỉ-kheo: “Ông Đà Phiêu Ma La Tử này thanh tịnh, không có tội. Còn Tỉ-kheo-ni Từ Địa tự nói mình phạm tội thì phải khu xuất”.

Bấy giờ, các Tỉ-kheo-ni ở tại thành Vương Xá hiềm trách Thế Tôn như sau: “Xem ra việc xử đoán ấy không công bằng. Cả 2 người đều phạm tội, vì sao lại giữ Tỉ-kheo, đuổi Tỉ-kheo-ni! Nếu cùng có tội thì cùng đuổi, nếu không có tội thì đều giữ lại. Vì sao Thế Tôn lại đuổi một, giữ một?”

Các Tỉ-kheo liền đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bèn bảo A Nan: “Ông đi gọi các Tỉ-kheo-ni Tăng đang sống tại thành Vương Xá đến cả đây”.

Thế rồi, A Nan vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ các Tỉ-kheo-ni Tăng nói như sau: “Này các chị em, đức Thế Tôn cho gọi các vị!”

Lúc ấy, các Tỉ-kheo-ni nói với tôn giả A Nan: “Chúng tôi chẳng có duyên sự gì ở chỗ Thế Tôn, vì sao lại gọi đến? Nếu có sự duyên thì không gọi, chúng tôi cũng đến. Tôn-giả hãy trở về. Chúng tôi không có duyên sự nên không thể đến”.

Bấy giờ, A Nan bèn suy nghĩ: “Đây thật là điều lạ lùng! Nhờ ân đức của Thế Tôn mới được xuất gia hành đạo, thế mà vì sao đối với Phật không khởi tâm kính trọng, không vâng theo mệnh lệnh?”. Thế rồi, A Nan trở về lại chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đem sự tình ấy bạch đầy đủ với Thế Tôn. Phật liền bảo A Nan: “Ông hãy đến nói với các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá rằng: Các ngươi có lỗi, Thế Tôn ra lệnh cho các ngươi ra đi, không được ở đây”.

A Nan vâng lời dạy, liền đến chỗ Tỉ-kheo-ni nói như sau: “Này các chị em, các ngươi có lỗi, đức Thế Tôn ra lệnh các ngươi phải đi, không được ở đây nữa”.

Các Tỉ-kheo-ni trả lời tôn giả A Nan: “Chúng tôi không có duyên sự gì ở ngoài thành nên không đi đâu hết; nếu có duyên sự thì không cần ra lệnh cũng tự ra đi”.

Bấy giờ A Nan suy nghĩ: “Thực là lạ kì, nhờ ân đức của Thế Tôn mà được xuất gia tu hành, vì sao đối với Phật lại không có tâm kính trọng, bảo đến không đến, khiến đi cũng không đi!”

Thế rồi, A Nan bèn trở về chỗ Phật cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đem sự tình ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật nói với A Nan: “Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, nếu đối với các Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni Tăng ở các thành ấp thôn xóm mà bảo đến không đến, khiến đi cũng không đi, thì Như Lai phải tự mình đi lánh (nạn). A Nan, ông hãy lấy y Tăng-già-lê đưa đây”.

Khi ấy, Tôn giả A Nan bèn trao y Tăng-già-lê cho Thế Tôn. Thế rồi, vào giữa trưa, Thế Tôn không nói với các Tỉ-kheo-tăng, chỉ đem theo A Nan, đi qua thôn xóm có cư sĩ Ngũ-Thông, hướng về thành Xá Vệ. Bấy giờ, Vua A Xà Thế con bà Vi Đề Hi, sau khi sát hại phụ vương, ôm lòng ưu sầu cực độ, hằng ngày thường đến Thế Tôn sám hối 3 lần, vào bình minh, giữa trưa và buổi chiều. Ông sám hối sớm mai rồi giữa trưa lại đến mà không thấy Thế Tôn, bèn hỏi các Tỉ-kheo: “Thế Tôn đang ở đâu?”.

Các Tỉ-kheo đáp: “Thế Tôn đã đi rồi”.

Nhà vua nói: “Đức Thế Tôn mỗi lần đi đâu một tháng, nửa tháng đều nói với tôi. Nay vì nhân duyên gì mà im lặng ra đi?”

Khi ấy các Tỉ-kheo đã nghe được Phật nói, bèn đáp: “Thưa đại Vương, các Tỉ-kheo-ni ở Thành Vương Xá không vâng theo mệnh lệnh của Thế Tôn, gọi đến không đến, khiến đi cũng không đi, như thế đó Đại Vương có biết không, Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, nếu đối với các Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni Tăng đang sống tại các thành ấp xóm làng mà bảo đến không đến, khiến đi cũng không đi, thì Như Lai bèn tự mình đi ẩn lánh. Ngày nay các Tỉ-kheo-ni Tăng tại thành Vương Xá không vâng theo lời Phật dạy, vì vậy Thế Tôn im lặng mà đi”.

Nhà vua nghe lời trình bày, cực kỳ giận dữ, bèn ra lệnh cho các quan: “Hiện giờ trong lãnh thổ của ta có bao nhiêu Tỉ-kheo-ni Tăng phải đuổi đi tất cả”.

Khi ấy, có vị quan trí tuệ liền can nhà vua: “Không phải tất cả Tỉ-kheo-ni trong lãnh thổ đều có lỗi, mà chỉ có Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá trái lời dạy của Thế Tôn mà thôi”.

Nhà Vua bèn chấp nhận lời can của vị đại thần, ra lệnh quan Hữu ty đuổi các Tỉ-kheo-ni tại thành Vương Xá đi. Lúc ấy, quân lính bèn cầm cây gậy đất đá ngói gạch, đánh ném các Tỉ-kheo-ni, đuổi ra khỏi kinh thành, dùng những lời trách cứ thế này: “Các ngươi là những kẻ tệ ác, nhờ ân đức của Thế Tôn mới được xuất gia tu hành, thế mà không biết cung kính, trái lời Phật dạy, hãy rời khỏi đây nhanh, hỡi những mụ già tệ ác. Vì các ngươi mà chúng ta không gặp Thế Tôn, không nghe chánh pháp. Các ngươi hãy đi nhanh, không được ở đây nữa”.

Bấy giờ tại các thôn làng, dân chúng thấy sự kiện như vậy, đều từ xa mắng rằng: “(cho đến) Khiến chúng ta không gặp Thế Tôn, không nghe chánh pháp. Các ngươi hãy ra đi nhanh, không được ở đây nữa”.

Khi ấy, Ưu Đà Di cũng cầm gậy xua đuổi các Tỉ-kheo-ni, và cũng trách cứ những lời như trên. Nhà vua bèn ra lệnh cho các quan: “Các ngươi thấy Tỉ-kheo-ni nào đi theo đức Thế Tôn thì phải tìm cách bảo vệ họ, để cho họ được yên ổn. Nếu họ đi về hướng khác thì tùy ý họ, không cần phải bảo vệ”.

Khi các Tỉ-kheo-ni ra khỏi thành rồi, người nào cũng đều nói: “Nếu chúng ta đi tới những phương khác thì ở đâu cũng đều bị xua đuổi, không có chỗ nào ở được. Vậy, giờ đây chúng ta nên đi theo sau đức Thế Tôn”.

Do vậy, nơi nào đức Thế Tôn buổi sớm ra đi, thì các Tỉ-kheo-ni buổi chiều tới đó. Như vậy ở trên đường đi thường cách nhau một ngày.

Bấy giờ, Thế Tôn vì muốn hóa độ nên đi qua xóm làng có cư sĩ Ngũ-thông hướng về thành Xá Vệ. Cư sĩ Ngũ-thông theo lệ thường hễ nghe Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni tới thì đi cách một do tuần đón rước và dâng các thức cúng dường. Bấy giờ, ông nghe các Tỉ-kheo-ni kia sắp đến, liền nhập định quan sát xem các Tỉ-kheo-ni vì nhân duyên gì mà đến. Quán sát rồi, ông thấy rằng các Tỉ-kheo-ni ấy tất cả đều có lỗi, đều bị trị phạt đuổi đi, chưa được giải tội, chẳng phải là khí cụ thanh tịnh, không có phần nào thánh pháp. Quán sát thấy thế nên ông không đến nghênh đón và dâng các thức cúng dường. Các Tỉ-kheo-ni lần lượt hỏi thăm, bèn tìm đến được nhà ông, nói: “Các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá nay đang ở ngoài cửa, xin báo cho cư sĩ biết”.

Cư sĩ bèn ra lệnh cho những người giúp việc giao cho (các Tỉ-kheo-ni) nhà dột, mền gối rách nát, không cung cấp nước nóng, nước rửa chân và dầu thoa chân, cũng không cho nước uống phi thời, cũng không hỏi thăm, an ủi, ban đêm không thắp đèn, sáng sớm không cung cấp tăm xỉa răng và nước sạch, và đưa cho các thứ ẩm thực thô sơ. Họ ăn rồi, liền bảo đi nhanh.

Các Tỉ-kheo-ni rời khỏi nhà ông rồi liền bảo nhau: “Tôi nghe nói ông cư sĩ này thường có tín tâm, cung kính cúng dường chúng Tăng, nhưng nay xem ra thì không có lòng kính tín”.

Trong số họ, có một Tỉ-kheo-ni bảo với mọi người: “Thôi im đi các dì! Hãy tự quán sát chính mình. Chúng ta đã trái lời dạy của Thế Tôn, được cúng dường như thế là quá lắm rồi”.

Thế rồi, các Tỉ-kheo-ni dần dần đi tới, đến thành Xá Vệ, tới chỗ A Nan, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua một bên, bạch vớiù A Nan: “Chúng tôi muốn được yết kiến Thế tôn để đảnh lễ thăm hỏi, mong Tôn-giả hãy vì Tỉ-kheo-ni Tăng mà bạch giúp Thế Tôn, xin thương xót hứa cho”.

A Nan đáp: “Lành thay này các chị!”Liền đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân đứng qua một bên, bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá muốn đến hầu Thế Tôn, nếu Thế Tôn cho phép, con sẽ gọi đến”.

Phật nói với A Nan: “Ông chớ bảo Tỉ-kheo-ni Tăng ở Vương Xá đến gặp Ta”.

A Nan nói:—Lành thay!

Rồi lễ Phật, trở lại chỗ các Tỉ-kheo-ni, nói: “Này các chị, đức Thế Tôn dạy không cho các vị tới”.

Rồi thầy xin đến lần thứ 2, thứ 3 cũng như vậy.

Phật liền nói với A Nan: “Vì sao ông tỏ ra ân cần đối với Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá đến như thế?”

A Nan liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Con không nghĩ họ là Tỉ-kheo-ni, mà Thế Tôn gọi đến không đến, khiến đi không đi, nhưng vì Thế Tôn đã nhắc đến Tỉ-kheo-ni Tăng ở thành Vương Xá với một lý do khác. Chính vì Tăng (đoàn) cho nên con mới ân cần”.

Phật nói: “Ta cho phép Tỉ-kheo-ni Tăng ở thành Vương Xá đến đây”.

A Nan liền trở về chỗ các Tỉ-kheo-ni, nói: “Các chị được lợi ích rất lớn! Vì Thế Tôn đã cho phép các vị tới hầu”.

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế rồi, liền khen ngợi: “Lành thay, lành thay A Nan!”, rồi đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua một bên, bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Chúng con bất thiện, dại dột như trẻ con, không biết ruộng phước, không biết ân tình, chẳng vâng lời Thế Tôn dạy. Nay chúng con đã tự thấy biết tội lỗi. Kính xin Thế Tôn nhận sự hối lỗi của chúng con”.

Phật liền nói với các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá: “Các ngươi bất thiện, dại dột như trẻ con, không biết ruộng phước, chẳng biết ân tình, Thế Tôn (Ta) gọi đến không đến, khiến đi cũng không đi. Nay các ngươi đã tự thấy lỗi lầm, Ta cho phép các ngươi sám hối. Trong giáo pháp của bậc thánh, ai có thể hối lỗi thì căn lành tăng trưởng. Từ nay trở đi chớ có phạm trở lại”.

Nếu Tỉ-kheo-tăng như pháp gọi Tỉ-kheo-ni Tăng, thì Tỉ-kheo-ni Tăng đúng pháp phải đến liền, nếu không đến, thì phạm tội Việt-tì-ni. Do đó, Tỉ-kheo-tăng được phép ngăn Tỉ-kheo-ni Tăng này Bố tát, tự tứ, hoặc khi họ đến thì không cho vào cửa.

Nếu Tỉ-kheo-tăng như pháp gọi nhiều Tỉ-kheo-ni, hoặc gọi một Tỉ-kheo-ni thì cũng như vậy.

Nếu nhiều Tỉ-kheo như pháp gọi Tỉ-kheo-ni Tăng, thì đúng pháp Tỉ-kheo-ni Tăng phải đến, nếu không đến thì phạm tội Việt-tì-ni. Do đó, phải ngăn những Tỉ-kheo-ni này Bố tát, tự tứ, hoặc khi họ đến, thì không cho vào cửa.

Nếu nhiều Tỉ-kheo như pháp gọi nhiều Tỉ-kheo-ni, hoặc gọi một Tỉ-kheo-ni cũng như vậy.

Nếu một Tỉ-kheo như pháp gọi Tỉ-kheo-ni Tăng, hoặc gọi nhiều Tỉ-kheo-ni, hoặc gọi một Tỉ-kheo-ni thì Tỉ-kheo-ni đúng pháp phải đến, nếu không đến thì phạm tội Việt-tì-ni. Do đó, cần phải ngăn Tỉ-kheo-ni này Bố tát, tự tứ, hoặc lúc họ đến thì không cho vào cửa.

Nếu Ni Tăng, hoặc nhiều Tỉ-kheo-ni, hoặc một Tỉ-kheo-ni hướng về Tỉ-kheo-tăng, hướng về nhiều Tỉ-kheo, hướng về một Tỉ-kheo sám hối lỗi lầm thì cũng như trong pháp hướng về Phật sám hối lỗi lầm trước kia đã nói rõ.

Khi ấy, Thế Tôn vì các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá tùy thuận thuyết pháp, chỉ dạy khiến họ được lợi ích, vui vẻ. Do thế một Tỉ-kheo-ni đạt được pháp nhãn thanh tịnh. Phật liền nói với các Tỉ-kheo-ni: “Các ngươi hãy trở về men theo con đường cũ, nếu cư sĩ Ngũ-thông có chỉ bảo điều chi thì hãy thọ trì”.

Bấy giờ, các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá liền trở về ngang qua thôn Ngũ-thông. Lúc ấy, cư sĩ Ngũ-thông liền nhập định, quán sát thấy các Tỉ-kheo-ni này đã hướng về Phật sám hối, đều được thanh tịnh, thành tựu pháp khí. Thế nên, theo thường lệ, ông ngồi xe ngựa trắng đi một do tuần nghênh đón, từ xa trông thấy các Tỉ-kheo-ni Tăng, bèn xuống xe, đi bộ, trật vai áo bên phải, quỳ gối phải trên đất, chấp tay bạch rằng: “Lành thay quí Ni-sư, đi đường không vất vả đấy chứ?”.

Thế rồi, ông mời các Tỉ-kheo-ni đi trước, ông đi theo sau mà trở về. Khi về đến nhà, ông cung cấp phòng ở và giường nệm ngọa cụ mới đẹp, lại cung cấp nước nóng, nước rửa chân, dầu thoa chân, nước giải khát, buổi tối thắp đèn, an ủi hỏi thăm rằng: “Quý Ni-sư hãy nghỉ ngơi yên ổn”.

Thế rồi, vào buổi sáng sớm, ông cung cấp tăm xỉa răng, nước rửa mặt và cháo sáng, đến giờ ăn lại dâng các thức ẩm thực thích hợp. Sau khi họ ăn xong, ông trật vai áo bên phải, quỳ gối phải trên đất, chấp tay bạch rằng: “Nay con xin mời quý Ni-sư an cư mùa hạ, con sẽ cung cấp các thứ cần thiết như y phục, ẩm thực, giường nằm, thuốc chữa bệnh, và sẽ chỉ bảo cho các cô đọc tụng kinh kệ, chỉ trừ việc Bố-tát, Tự-tứ”.

Bấy giờ các Tỉ-kheo-ni liền suy nghĩ: “Nay đã đến ngày 12 tháng 4, việc Hạ-an cư đã gấp rút, hơn nữa, đức Thế Tôn đã dạy chúng ta phải lãnh giáo Ngũ-thông cư sĩ”. Suy nghĩ thế rồi, họ liền chấp nhận an cư mùa Hạ tại đấy. Và hàng ngày cư sĩ thuyết giảng về Tứ-niệm-xứ cho các Tỉ-kheo-ni. Các Tỉ-kheo-ni nghe được pháp đó rồi, thì đầu đêm, cuối đêm tinh cần không biếng nhác, tụ tập thánh đạo, thành tựu quả chứng. Sau khi thọ Tự-tứ xong, các Tỉ-kheo-ni suy nghĩ: “Chúng ta hãy đi đến Thế Tôn, đảnh lễ thăm hỏi và trình bày quả chứng”. Nghĩ thế rồi, các Tỉ-kheo-ni bèn hướng về thành Xá Vệ đi đến chỗ A Nan, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua một bên, bạch với Tôn giả A Nan: “Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì các Thanh-văn giảng Tứ Niệm Xứ, chúng tôi đầu đêm, cuối đêm tinh tấn không lười biếng, tu tập thánh đạo, thành tựu quả chứng”. Nói như thế rồi họ bèn trở về trú xứ.

Sau khi các Tỉ-kheo-ni đi không bao lâu, tôn giả A Nan bèn đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, đem những gì mà các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá đã nói, trình bày đầy đủ với Thế Tôn, cho đến việc tu đạo, chứng quả. Sau khi trình bày xong, thầy liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Việc ấy như thế nào xin Thế Tôn-giải thích rõ”.

Phật liền nói với A Nan: “Đúng như các Tỉ-kheo-ni đã nói chân thật không khác. Tại vì sao? Là vì, nếu Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, ai có khả năng tu tập Tứ Niệm Xứ một cách tinh cần, thì tất cả đều thành tựu, chứng quả, như trong kinh Tứ Niệm Xứ đã nói rõ”.

Khi ấy các Tỉ-kheo liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá không biết tri ân đối với Thế Tôn? Rồi khi tới thành Xá Vệ, lại đi thẳng đến chỗ A Nan mà không hầu thăm Thế Tôn, khiến cho Ưu Đà Di phải cầm gậy gộc xua đuổi, rồi tôn giả A Nan ân cần giải cứu, xin Thế Tôn giải thích rõ việc ấy”.

Phật liền nói với các Tỉ-kheo: “Các Tỉ-kheo-ni không những ngày nay đối với Ta không biết tri ân, khiến Ưu Đà Di cầm gậy xua đuổi, rồi A Nan ân cần cầu xin Ta giải cứu mà trong đời quá khứ cũng đã từng có như thế, như trong Kinh Bổn Sinh Tượng Vương đã nói rõ”.

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hết quyển mười hai.

NÓI RÕ PHẦN THỨ HAI CỦA

CHÍN MƯƠI HAI PHÁP ĐƠN ĐỀ

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ trong thành có một dâm nữ nhà rất giàu có, của cải thật nhiều, châu báu đủ loại, kho tàng đầy ắp, giữ gìn kiên cố, kẻ trộm rình mò, không làm gì được. Lúc ấy, tên chúa đảng cướp nghĩ được kế hay, bèn sai sứ giả đến nói với dâm nữ: “Bọn chúng tôi muốn đến trên hồ kia, mời thêm nhiều cô gái làng chơi nữa, bày ra các thức ẩm thực, rồi tha hồ hưởng lạc. Vậy cô nên trang sức thật đẹp, rồi đến hồ ấy chớ để lượm thượm mà bọn họ chê cười”.

Tâm lý của phụ nữ là ưa ganh tỵ, háo thắng, nên cô ta khoác các loại danh y thượng hạng, trang sức trên thân đủ các thứ chuỗi ngọc anh lạc, ánh sáng của chúng chiếu ra chói mắt rồi đi tới chỗ mà họ đã mời. Lúc ấy, tên tướng cướp bèn khéo léo dụ dỗ đưa cô ta đến một nơi vắng vẻ, kín đáo, rậm rạp. Dâm nữ liền hỏi: “Trước đây nghe nói có mời các phụ nữ khác, giờ đây họ ở đâu?”

Tên tướng cướp đáp: “Lát nữa họ sẽ đến, ta hãy cùng nhau hoan lạc đã”.

Lúc ấy, dâm nữ bèn suy nghĩ: “Giờ đây, xem người này chắc là tướng cướp chứ không gì khác. Vì sao mà biết? Vì nơi này không phải là chỗ hẹn trước. Vả lại, các phụ nữ kia chắc chắn là không đến, mà mặt trời đã về chiều”. Thế rồi, dâm nữ nói: “Tôi muốn trở về nhà”.

Tên tướng cướp nói: “Hãy cùng nhau vui chơi đã, có gì đâu mà gấp gáp thế!”

Khi ấy dâm nữ suy nghĩ: “Thế này là hắn định ăn cướp rồi, chắc ta bị hắn làm khốn đốn mất. Ta có 64 diệu thuật giờ chính là lúc phải áp dụng, nếu không áp dụng thì làm sao thoát nạn!”. Thế rồi, cô ta giả vờ hiện ra vẻ ủy mị yêu thương, cùng chén tạc chén thù với tên tướng cướp, mình uống cầm chừng, mời hắn cạn chén, bên ngoài ra vẻ ân cần thân thiết trìu mến, nhưng trong lòng giữ một khoảng cách, khiến cho tâm hồn của tên cướp say đắm khoái lạc, không nghi ngờ gì nữa.

Lúc ấy, tên tướng cướp một mình dìu dâm nữ tới một chỗ kín đáo thì hơi men phát tác, say túy lý không còn hay biết gì nữa. Dâm nữ bèn từ từ thoát ra khỏi vòng tay của tướng cướp, lấy y phục mặc vào, rồi đi tới thành Xá-vệ, nhưng cửa thành đã đóng. Cô bèn đi về phía tinh xá Kỳ Hoàn, thì cửa tu viện cũng đã đóng. Khi ấy, ở bên ngoài cửa có một trưởng lão Tỉ-kheo tên Ca-lô đang trải giường dây mà ngồi tại một chỗ khuất, cách cổng chùa không xa. Y của Thầy phủ xuống 4 phía giường. Vì trong cơn sợ hãi, cần tìm chỗ an ổn nên dâm nữ này bèn chui vào dưới giường trưởng lão. Nhưng Ca-lô lúc ấy đang nhập định không quan sát dưới giường. Sau lúc nửa đêm, tên tướng cướp tỉnh rượu, định lột đồ của dâm nữ, nhưng tìm cô ta không thấy. Hắn bèn hỏi chúng bạn: “Các ngươi có thấy cô gái ấy không?”. Bọn chúng đều đáp: “Không thấy”. Thế rồi, cả bọn đều cầm đuốc đi tìm, nhưng tuyệt nhiên không biết cô ta ở đâu. Chúng bèn bảo nhau: “Nếu tìm không được thì hãy theo vết chân”. Thế là chúng men theo dấu chân tìm đến cửa thành Xá-vệ, thì thấy cửa thành đóng, bèn theo dấu chân đến trước cửa Kỳ Hoàn, lại cũng mất dấu vết, không biết đi về phương nào. Bọn cướp tuy thấy Tỉ-kheo nhưng không có bụng nghi ngờ. Bấy giờ trời sắp hừng đông, trong thành Xá-vệ đã có tiếng trống đánh, lại nghe tiếng voi ngựa gà chó, cho nên tên tướng cướp bèn bàn với đồng bọn: “Giờ đây đã mất cô ấy, không biết ở đâu, trời lại sắp sáng, không nên ở lâu nơi đây mà phải trở lại chỗ ẩn núp trong rừng”. Bàn bạc thế rồi, chúng bèn trở lại trong rừng. Khi ấy trời sáng, dân chúng, voi ngựa, xe cộ từ trong thành đi ra, lại có các Ưu-bà-di cũng rời khỏi thành đi thăm viếng đảnh lễ Thế Tôn. Thế rồi, họ sang đảnh lễ Tỉ-kheo Ca-lô, bỗng thấy dâm nữ kia từ dưới giường chui ra. Mọi người thấy thế, liền chê trách, nói: “Đây là nơi A-luyện-nhã, vì sao kẻ nạp y khất thực lại ngủ chung với dâm nữ suốt đêm, đến sáng mới thả đi, mất hết phép tắc Sa-môn, có đạo nào như thế!”

Lúc ấy tiếng xấu về trưởng lão Đà-phiêu-ma-la-tử Ca-lô Tỉ-kheo được loan truyền khắp nơi. Các Tỉ-kheo nghe thế, bèn bạch lên Thế Tôn. Phật nói: “Này các Tỉ-kheo, tiếng xấu về Tỉ-kheo Đà-phiêu-ca-lô làm điều phi phạm hạnh được loan truyền khắp nơi, vậy các ông phải đến chỗ kín đáo hỏi ông 3 lần, đến chỗ đông người hỏi 3 lần, rồi hỏi giữa chúng Tăng 3 lần. Khi ở chỗ kín đáo nên hỏi như sau: “Trưởng lão Đà-phiêu Ca-lô, các vị phạm hạnh nói như thế, việc đó Thầy có biết không?”. Nếu ông ta đáp: “Không biết tôi có làm hay không cũng không nhớ nữa”, thì phải hỏi như vậy đến lần thứ 2, thứ 3. Rồi hỏi ở chỗ nhiều người 3 lần, hỏi giữa chúng Tăng 3 lần cũng như vậy”.

Thế rồi, các Tỉ-kheo liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Tỉ-kheo Đà-phiêu-ca-lô ấy đã được hỏi ở chỗ vắng 3 lần, hỏi ở chỗ nhiều người 3 lần và hỏi giữa chúng Tăng 3 lần. Nhưng Thầy tự nói: “Không biết tôi có làm hay không cũng không nhớ nữa”.

Bấy giờ, Phật bèn nói với các Tỉ-kheo: “Tỉ-kheo Đà-phiêu-ca-lô ấy thanh tịnh, không có tội. Tăng nên cho pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng), cùng sống thanh tịnh. Khi làm pháp Yết-ma cầu thính, người làm Yết-ma nên nói như sau:

“Xin Đại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Đà-phiêu-ca-lô này đã tự nói trước các bậc phạm hạnh như sau: “Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa”. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, nay Tăng cho Trưởng lão Đà-phiêu-ca-lô đến trước Tăng xin pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt tai tiếng, mà sống thanh tịnh. Các Đại-đức nào bằng lòng cho Tỉ-kheo Đà-phiêu-ca-lô đến trước Tăng xin pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng) mà sống thanh tịnh thì im lặng; ai không bằng lòng thì hãy nói.

Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Việc ấy cứ như thế mà thi hành”.

Thế rồi, người xin là Tỉ-kheo Đà-phiêu-ca-lô phải trật vai áo phải, cởi bỏ giày dép, quỳ gối phải trên đất, nói như sau: “Tôi là Tỉ-kheo Đà-phiêu-ca-lô đã nói trước các bậc phạm hạnh như sau: “Tôi không biết có làm hay không cũng không nhớ nữa”. Tôi là Đà-phiêu-ca-lô nay đến trước Tăng xin pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng), mà sống thanh tịnh, cúi xin Tăng cho tôi pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng), mà sống thanh tịnh” (xin như vậy đến lần thứ 2, thứ 3). Rồi người làm Yết-ma nên nói thế này:

“Xin Đại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Đà-phiêu-ca-lô được các bậc phạm hạnh nói như thế, rồi Thầy tự nói: “Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa”. Nay Thầy đến trước Tăng xin pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng) mà sống thanh tịnh. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, nay Tăng cho trưởng lão Đà-phiêu-ca-lô pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng) mà sống thanh tịnh. Đây là lời tác bạch.

Xin Đại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Đà-phiêu-ca-lô này được các bậc phạm hạnh hỏi như thế, rồi Thầy tự nói: “Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa”. Nay Thầy đến trước Tăng xin pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng), mà sống thanh tịnh. Các Đại-đức nào bằng lòng cho trưởng lão Đà-phiêu-ca-lô pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng), mà sống thanh tịnh, thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Đây là Yết-ma lần đầu (lần thứ 2, thứ 3 cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho trưởng lão Đà-phiêu-ca-lô pháp ứùc niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng) mà sống thanh tịnh, vì Tăng đã im lặng. Việc ấy cứ như thế mà thi hành”.

Thế rồi, Phật hỏi các Tỉ-kheo đã cho Đà-phiêu-ca-lô pháp Ức niệm Tì-ni chưa. Các Tỉ-kheo đáp: “Đã cho”.

Phật nói: “Này các Tỉ-kheo, có 5 trường hợp cho pháp Ức niệm Tì-ni phi pháp. Năm pháp đó là gì? Đó là: 1—Không thanh tịnh, tưởng là thanh tịnh mà cho. 2—Thanh tịnh, tưởng là không thanh tịnh mà cho. 3—Không kiểm điểm trước. 4—Làm phi pháp. 5—Không hòa hợp. Đó gọi là 5 điều phi pháp khi cho Ức niệm Tì-ni.

Trái lại, có 5 đều như pháp khi cho Ức niệm Tì-ni. Năm pháp đó là gì? Đó là: 1—Thanh tịnh, tưởng là thanh tịnh mà cho. 2—Không thanh tịnh, tưởng là không thanh tịnh mà cho. 3—Có kiểm tra trước. 4—Làm như pháp. 5—Hòa hợp. Đó gọi là 5 điều như pháp khi cho Ức niệm Tì-ni”.

Khi ấy, các Tỉ-kheo liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Vì sao nàng dâm nữ ấy bị bọn cướp truy đuổi?”

Phật nói: “Không những ngày nay cô ta bị bọn cướp truy đuổi mà trong thời quá khứ cũng đã từng bị bọn chúng truy đuổi, như trong kinh Oan Gia Bản Sinh đã nói rõ”.

Bấy giờ, tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật rồi đứng qua một bên, bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Ức niệm Tì-ni?”

Phật nói với A-nan: “Nếu Tỉ-kheo này vu cáo Tỉ-kheo khác phạm Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dạ-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Việt-tì-ni, thì phải cấp tốc tập họp Tăng. Khi tập họp Tăng rồi bèn hỏi Hòa-thượng A xà lê, bạn hữu tri thức của Tỉ-kheo ấy rằng: “Trưởng lão, Thầy có biết Tỉ-kheo mỗ giáp kia từ trước đến nay là người giới hạnh thế nào không? Ông quen biết với ai? Người quen biết ấy thiện hay ác?”Nếu nói: “Ông ấy từ trước đến nay giữ giới hạnh thanh tịnh, nhưng ông ta cùng với bạn bè quen biết có phạm vài lỗi nhỏ nhặt, mà trong lòng thấy hổ thẹn, liền tức khắc sám hối để tiêu trừ”. Người như vậy thì Tăng nên trao cho pháp Ức niệm Tì-ni. Nếu nói: “Tôi biết Tỉ-kheo ấy từ trước đến nay giới hạnh không thanh tịnh, lại cùng kết bạn với kẻ ác, phạm tội mà không chịu sám hối như pháp”. Này A-nan, nếu Tỉ-kheo như vậy thì Tăng không nên trao cho pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tiếng xấu). Như vậy đó A-nan, khi đã như pháp, như luật trao cho pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt sự hủy báng gây ra tranh cãi xong rồi, mà có khách Tỉ-kheo hoặc Tỉ kheo ra đi, hoặc Tỉ-kheo gởi dục, hoặc Tỉ-kheo không gởi dục, hoặc Tỉ-kheo ngồi ngủ gục trong phòng họp, hoặc Tỉ-kheo mới thọ giới, trong các Tỉ-kheo ấy, nếu ai nói: “Làm Yết-ma như vậy không thành tựu, không đúng pháp, ngu si, vô trí, trái với Phật, Pháp, Tăng, giống như trâu dê, pháp Yết-ma ấy bất thiện, không thành”. Do nói như vậy khiến cho sự tranh cãi sinh khởi trở lại, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là sự tranh cãi do hủy báng dùng pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt.

3. Sự tranh cãi do hủy báng dùng pháp Bất si Tì-ni để dập tắt.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Tôn-giả Kiếp Tân Na có 2 đệ tử tùy tùng, một tên là Nan-đề, 2 tên là Bát Già Nan-đề. Hai Tỉ-kheo ấy trước kia bị bệnh cuồng si. Khi bệnh, làm nhiều điều phi pháp. Giờ đây bệnh đã lành mà các vị phạm hạnh còn nhắc lại những việc làm của 2 người trong lúc cuồng si, khiến cho 2 Thầy khi nghe những lời ấy rất là xấu hổ. Vì thế, 2 Thầy bèn đem việc ấy trình bày với các Tỉ-kheo. Các Tỉ-kheo liền đem việc ấy bạch đầy đủ với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn! Nan-đề và Bát-già-nan-đề trong khi mắc bệnh cuồng si, làm nhiều điều phi pháp, nay bệnh đã lành mà các vị phạm hạnh còn nhắc lại những việc làm trong lúc 2 người đang mắc bệnh cuồng si”.

Phật bèn nói với các Tỉ-kheo: “Các ông hãy hỏi họ ở chỗ vắng 3 lần, hỏi ở chỗ nhiều người 3 lần và hỏi giữa chúng Tăng 3 lần. Khi hỏi ở chỗ vắng nên nói: “Trưởng lão, các vị phạm hạnh nói như thế, Thầy có biết không?”. Nếu Họ đáp: “Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa”, thì phải hỏi đến lần thứ 2, thứ 3, rồi hỏi ở chỗ nhiều người 3 lần, hỏi giữa chúng Tăng 3 lần cũng như vậy”.

(Sau khi hỏi xong) Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn! Chúng con đã hỏi họ ở chỗ vắng 3 lần, hỏi ở chỗ nhiều người 3 lần và hỏi ở giữa chúng Tăng 3 lần, nhưng họ tự nói: không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa”.

Phật liền nói với các Tỉ-kheo: “Hai Tỉ-kheo ấy trước kia cuồng si, giờ hết cuồng si mà các vị phạm hạnh nhắc lại những việc làm trong lúc cuồng si, rồi họ tự nói: “Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa”, thì Tăng nên cho họ pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Người chấp pháp nên làm pháp Yết-ma cầu thính, xướng rằng:

“Xin Đại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Nan-đề, Bát-già-nan-đề trước kia cuồng si, giờ hết cuồng si, mà các vị phạm hạnh còn nhắc lại những việc làm trong lúc cuồng si,, rồi họ tự nói: “Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa”. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho phép 2 Tỉ-kheo Nan-đề, Bát-già-nan-đề đến giữa Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy)… Các Đại-đức đã bằng lòng cho Nan-đề, Bát-già-nan-đề đến giữa Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Việc ấy cứ như thế mà thi hành”.

Thế rồi, Nan-đề, Bát-già-nan-đề phải đến giữa Tăng, trịch vai áo phải, quỳ gối chấp tay xin như sau:

‘Tôi là mỗ giáp, trước kia cuồng si, giờ hết cuồng si, nhưng các vị phạm hạnh nhắc lại những việc cuồng si trước kia mà tôi không biết có làm hay không cũng không nhớ. Nay tôi đến trước Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Kính xin Tăng cho tôi pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy)”. (Xin như vậy đến lần thứ 2, thứ 3).

Bấy giờ, Tăng nên nói với Tỉ-kheo ấy rằng: “Tăng không nói về việc của Thầy. Ai nói về việc của Thầy thì hãy đến bảo họ chớ nói nữa”.

Thế rồi, Tỉ-kheo này (cuồng si) nên đến Tỉ-kheo kia (phạm hạnh), nói: “Thưa trưởng lão, những việc làm trước đây của tôi trong lúc cuồng si, nay tôi không biết là mình có làm hay không cũng không nhớ nữa, xin trưởng lão chớ nhắc lại những việc làm của tôi trong lúc cuồng si”.

Vị Tỉ-kheo ấy nếu chấm dứt thì tốt, nếu không chấm dứt thì nên nói với Hòa-thượng, A-xà-lê và bạn bè quen biết của ông ta như sau: “Thưa trưởng lão, đệ tử của Ngài và bạn bè tri thức nói về những việc làm của tôi trong lúc cuồng si trước đây. Tôi không biết mình có làm hay không cũng không nhớ nữa. Xin trưởng lão hãy quở trách vị ấy, bảo chớ có nhắc lại nữa”.

Hòa thượng A-xà-lê của vị ấy nên quở trách rằng: “Ngươi bất thiện, không biết giới luật, ngươi không nghe Thế Tôn nói rằng việc làm trong lúc cuồng si tâm loạn không có tội hay sao?”

Người lắm lời kia, nếu nhận (sự quở trách) thì tốt. Khi ấy, Tăng nên làm Yết-ma. Người làm Yết-ma phải xướng như sau:

“Xin Đại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Nan-đề, Bát-già-nan-đề trước đây cuồng si, giờ hết cuồng si, mà các vị phạm hạnh nhắc lại những việc làm trong lúc cuồng si trước kia, rồi các Thầy tự nói: “Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa”. Nay họ đến trước Tăng xin Pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, nay Tăng cho Nan-đề, Bát-già-nan-đề pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Đây là lời tác bạch.

Xin Đại-đức Tăng lắng nghe! Nan-đề và Bát-già-nan-đề trước đây cuồng si, giờ hết cuồng si, mà các vị phạm hạnh nhắc lại những việc làm trong lúc cuồng si, rồi họ tự nói: “Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa”. Nay họ đến trước Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Nay Tăng cho các vị ấy pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Các Đại-đức nào bằng lòng cho Nan-đề, Bát-già-nan-đề pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy) thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói: “Đây là lần Yết-ma thứ nhất. (lần thứ 2, thứ 3 cũng nói như vậy)”.

Tăng đã cho mỗ giáp, mỗ giáp pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy) xong. Vì Tăng bằng lòng nên im lặng. Việc ấy cứ như thế mà thi hành”.

Thế rồi, Phật hỏi các Tỉ-kheo: “Đã cho Nan-đề, Bát-già-nan-đề pháp Bất Si Tì-ni chưa?”

Họ đáp: “Đã cho rồi, bạch Thế Tôn”.

Phật nói: “Nếu hội đủ 5 phương diện thì thành ra cho pháp Bất Si Tì-ni phi pháp. Năm phương diện đó là gì? Đó là: 1—Không si, tưởng là si mà cho; 2—Không thỉnh cầu người khơi lên sự việc khiến cho tâm họ nhu nhuyến; 3—Không đến trước Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni; 4—Làm phi pháp; 5—Tăng không hòa hợp.

Đó gọi là hội đủ 5 điều phi pháp khi cho pháp Bất Si Tì-ni.

Ngoài ra, còn có 5 điều như pháp thành tựu khi cho pháp Bất Si Tì-ni. năm điều đó là gì? Đó là: 1. Không si, tưởng là không si mà cho; 2—Cầu xin người khơi lên sự việc khiến cho tâm họ nhu nhuyến; 3—Đến trước Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni; 4—Làm đúng pháp; 5—Tăng hòa hợp.

Đó gọi là 5 điều như pháp thành tựu khi cho pháp Bất Si Tì-ni.

Bấy giờ, tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi bạch: “Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Bất Si Tì-ni?”

Phật nói với A-nan: “Có Tỉ-kheo trước cuồng si, nay hết cuồng si mà các vị phạm hạnh nhắc lại việc làm cuồng si trước kia, thì lúc ấy phải gấp rút tập họp Tăng. Khi tập họp Tăng rồi, căn cứ theo kinh, theo luật, tùy theo sự thực của Tỉ-kheo ấy mà cho pháp Bất si tì ni. Như vậy đó A-nan, đó là như pháp, như luật, như lời Thế Tôn dạy, mà cho pháp Bất Si Tì-ni để chấm dứt sự hủy báng gây ra tranh cãi. Sau khi xong việc, nếu có Tỉ-kheo khách cho đến những kẻ ngu si vô trí giống như trâu dê làm phát khởi lại sự tranh cãi, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là dùng Bất Si Tì-ni để dập tắt sự hủy báng gây ra tranh cãi”.

Sự tranh cãi về tội (tội tránh): Nếu Tỉ-kheo và Tỉ-kheo tranh luận nhau về việc phạm tội như Ba-la-di, cho đến Việt-tì-ni, thì trong trường hợp này nên dùng 2 loại Tì-ni để diệt trừ. Đó là: Tự ngôn Tì-ni và Mích-tội-tướng Tì-ni.

4. Tự-ngôn Tì-ni: Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Huệ mạng La-hầu-la đến giờ khất thực, liền khoác y, cầm bát vào thành Xá-vệ, tuần tự khất thực, khất thực xong trở về tinh xá. Rồi khi ăn xong, Thầy đem y, bát cất lại chỗ cũ, cầm tọa cụ định đến rừng Đắc Nhãn ngồi thiền, thì giữa đường, Thầy thấy một Tỉ-kheo làm điều phi phạm hạnh với một phụ nữ. Sau khi bị trông thấy, ác Tỉ-kheo này bèn suy nghĩ: “Con của Phật là La-hầu-la trông thấy ta làm điều phi phạm hạnh, chắc chắn sẽ nói với Thế Tôn. Trong lúc y chưa nói, ta nên đến chỗ Thế Tôn, nói trước về tội lỗi của hắn”. Thế rồi, ác Tỉ-kheo ấy đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Con trông thấy Tôn-giả La-hầu-la khi đi đến rừng Đắc Nhãn, đã làm điều phi pháp với một phụ nữ ở dọc đường”. Lúc ấy, Thế Tôn im lặng không trả lời. Thế còn Tôn-giả La-hầu-la, sau khi ngồi thiền dưới một gốc cây, bèn xuất thiền, đi đến chỗ Thế Tôn, nhưng không nhớ sự việc của ác Tỉ-kheo, theo thường lệ, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi đứng hầu một bên. Khi ấy, vì muốn cho La-hầu-la nhớ lại sự việc vừa rồi, Thế Tôn bèn hóa ra ác Tỉ-kheo đứng ngay trước mặt. La-hầu-la thấy rồi, liền gợi lại ký ức, bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn! Vừa rồi con đi vào rừng, thì trông thấy Tỉ-kheo này đang làm điều phi phạm hạnh với một phụ nữ”.

Phật nói: “La-hầu-la, nếu Tỉ-kheo ấy cũng nói thế sí “Con thấy La-hầu-la làm việc phi phạm hạnh ở giữa đường”, thì phải tính sao?”

Tôn giả La-hầu-la bèn bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Con không có việc đó”.

—Nếu Tỉ-kheo kia cũng nói thế này: “Con không có việc đó”, thì phải tính sao?

—Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy, thì chỉ có Thế Tôn mới hiểu con.

—Nếu Tỉ-kheo kia cũng nói thế này: “Chỉ có Thế Tôn mới hiểu được việc này của con”, thì phải làm sao?

—Kính xin Thế Tôn cho con pháp Tự-ngôn-trị.

—Nếu Tỉ-kheo kia cũng nói: “Kính xin Thế Tôn cho con pháp Tự-ngôn-trị”, thì phải tính sao đây?

—Nếu như vậy thì xin Thế Tôn cho 2 chúng con pháp Tự-ngôn-trị.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn bèn đi đến chỗ có nhiều Tỉ-kheo, trải tọa cụ ngồi, rồi trình bày rõ với các Tỉ-kheo về sự việc trên. Nói xong, Phật bảo các Tỉ-kheo: “Cho Tỉ-kheo này pháp Tự-ngôn Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Vì sao vậy? Vì giá như đời sau có ác Tỉ-kheo hủy báng Tỉ-kheo thanh tịnh rồi Tỉ-kheo thanh tịnh không được pháp Tự-ngôn-trị, liền bị đuổi đi”. Thế rồi, Phật bảo với các Tỉ-kheo: “Có 8 việc phi pháp khi cho pháp Tự-ngôn Tì-ni. Tám pháp đó là gì? Đó làø: 1. Hỏi tội nặng (quan trọng) mà đáp tội nhẹ, song tội nhẹ ấy lại không thật, đó gọi là cho pháp Tự-ngôn-trị phi pháp; 2. Hỏi tội nhẹ mà đáp tội nặng; 3. Hỏi tội có dư tàn mà đáp không có dư tàn; 4. Hỏi tội không có dư tàn mà đáp có dư tàn; 5. Hỏi tội nhẹ mà đáp tội nhẹ; 6. Hỏi tội nặng mà đáp tội nặng; 7. Hỏi tội có dư tàn mà đáp có dư tàn; 8. Hỏi tội không có dư tàn mà đáp tội không có dư tàn. Nhưng tất cả đều không nói thật tội, đó gọi là phi pháp trao cho Tự-ngôn-trị.

Trái lại có 8 điều như pháp khi trao cho Tự-ngôn-trị. Tám điều đó là gì? Đó là: 1. Hỏi tội nặng mà đáp tội nhẹ, nhưng thật có tội nhẹ nên đáp tội nhẹ; đó gọi là như pháp trao cho Tự-ngôi-trị; 2. Hỏi tội nhẹ mà đáp tội nặng; 3. Hỏi tội có dư tàn mà đáp tội không có dư tàn; 4. Hỏi tội không có dư tàn mà đáp tội có dư tàn; 5. Hỏi tội nặng mà đáp tội nặng; 6. Hỏi tội nhẹ mà đáp tội nhẹ; 7. Hỏi tội có dư tàn mà đáp tội có dư tàn; 8. Hỏi tội không có dư tàn mà đáp tội không có dư tàn. Như vậy tất cả đều nói thật.

Đó gọi là 8 điều như pháp trao cho Tự-ngôn-trị.

Bấy giờ, tôn giả A-nan đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Trong luật gọi là Tự-ngôn Tì-ni để dập tắt tranh cãi, vậy thế nào là Tự-ngôn Tì-ni để dập tắt tranh cãi?”

Phật nói với A-nan: “Nếu Tỉ-kheo với Tỉ-kheo moi móc tội lỗi của nhau, hoặc Ba-la-di cho đến tội Việt-tì-ni, này A-nan, lúc ấy nên cấp tốc tập họp Tăng, khi tập họp Tăng rồi, phải căn cứ kinh, luật, lời Phật dạy, tùy theo sự thực của Tỉ-kheo này mà cho pháp Tự-ngôn Tì-ni để dập tắt tranh cãi. Như vậy đó A-nan, nếu sau khi như pháp, như luật, như lời Thế Tôn dạy, dùng Tự-ngôn Tì-ni để dập tắt tranh cãi rồi mà có Tỉ-kheo khách cho đến (những người khác) làm phát sinh (sự tranh cãi) trở lại, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Đó gọi là dùng Tự ngôn tì ni để dập tắt sự tranh cãi.

5. Mích-tội-tướng Tì-ni: Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, trưởng lão Thi-lợi-da-bà thường phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa, nên Tăng chúng tập họp định làm pháp Yết-ma thì Thi-lợi-da-bà không đến. Tăng bèn sai sứ giả đi gọi. Sứ giả đến nói: “Trưởng lão, Tăng chúng đang tập họp, định làm Yết-ma”.

Thi-lợi-da-bà suy nghĩ: “Chính là vì ta mà làm Yết-ma vậy”, nên tâm sinh sợ hãi, bất đắc dĩ phải đến.

Các Tỉ-kheo hỏi: “Trưởng lão phạm Tăng-già-bà-thi-sa phải không?”

Thầy đáp: “Phạm”.

Thế rồi, tâm Thầy sinh hoan hỉ, suy nghĩ: “Các vị phạm hạnh nêu tội mà có thể sám hối, chứ không phải không thể sữa trị”. Nghĩ thế, Thầy liền bạch với chúng Tăng: “Cho phép tôi ra ngoài một lát”.

Sau đó, các Tỉ-kheo bàn nhau: “Tỉ-kheo này khinh suất, là người không quả quyết, ra ngoài rồi, lát nữa thế nào cũng nói dối. Chúng ta phải hỏi ông 3 lần để xác định cho thật chắc rồi mới làm Yết-ma”.

Thi-lợi-da-bà ra ngoài rồi, suy nghĩ: “Vì sao ta lại nhận tội này? Các Tỉ kheo thường trị tội ta, nay ta không nên nhận tội”.

Thế rồi, các Tỉ-kheo liền gọi Thi-lợi-da-bà vào. Khi vào rồi họ hỏi Thầy: “Có thật ông phạm Tăng-già-bà-thi-sa không?”

Thầy đáp: “Không phạm”.

Các Tỉ-kheo hỏi: ‘Vì sao vừa rồi ở giữa Tăng ông nhận tội, giờ lại nói không phạm?”

Thi-lợi-da-bà nói: “Tôi không nhớ việc ấy”.

Các Tỉ-kheo liền đem việc ấy đến bạch với Phật. Phật bèn bảo gọi Thi-lợi-da-bà đến. Khi Thầy đến rồi, Phật liền đem việc đó hỏi kỹ Thi-lợi-da-bà: “Ông có việc đó thật chăng?”

Thầy đáp: “Có thật như vậy”.

Phật liền nói với các Tỉ-kheo: “Thi-lợi-da-bà này ở giữa chúng Tăng, thấy tội lại nói không thấy, rồi bảo rằng: “Tôi không nhớ”. Vậy Tăng phải trao cho ông pháp Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Người làm Yết-ma nên nói như sau:

“Xin Đại-đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà ở giữa Tăng, thấy tội thì nói là không thấy, không thấy lại nói có thấy, rồi tự bảo: “Tôi không nhớ”. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nên cho Thi-lợi-da-bà Tỉ-kheo pháp Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Đây là lời tác bạch.

Đại-đức Tăng xin lắng nghe! Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà ở giữa Tăng, thấy tội thì bảo là không thấy, không thấy lại nói thấy, rồi tự nói: “Tôi không nhớ”. Nay Tăng cho Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà pháp Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Các Đại-đức nào bằng lòng cho Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà pháp Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt (việc ấy) thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Đây là lần Yết-ma thứ nhất. (lần thứ 2, thứ 3 cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà pháp Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt (việc ấy), vì Tăng im lặng. Vậy việc ấy cứ như thế mà thi hành”.

Thế rồi Phật nói với các Tỉ-kheo: “Khi Tăng đã cho pháp Yết-ma Mích-tội-tướng Tì-ni cho Tỉ-kheo ấy xong rồi, thì Tỉ-kheo ấy phải chấp hành 8 pháp suốt đời. Tám pháp đó là gì? Đó là: 1. Không được độ người (xuất gia); 2. Không được cho người thọ giới cụ túc; 3. Không được cho người y chỉ; 4. Không được nhận Tăng mời theo thứ tự; 5. Không được làm sứ giả cho Tăng; 6. Không được làm người thuyết pháp cho chúng Tăng; 7. Không được làm người tụng giới cho chúng Tăng; 8. không được làm người Bố-tát Yết-ma cho chúng Tăng. Khi Tăng làm Yết-ma rồi, Tỉ-kheo này suốt đời không được bỏ (pháp Yết-ma ấy). Đó gọi là 8 pháp”.

Bấy giờ, tôn giả A-nan, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Trong luật nói về pháp Mích-tội-tướng Tì-ni, vậy thế nào gọi là Mích-tội-tướng Tì-ni?”

Phật nói với A-nan: “Nếu có Tỉ-kheo nào ở giữa Tăng, thấy tội mà nói không thấy, không thấy lại nói thấy, rồi tự nói: “Tôi không nhớ”, tỏ thái độ khinh mạn, thì phải tức tốc tập họp Tăng. Khi tập họp Tăng rồi, căn cứ vào kinh, luật và tùy theo sự thật của Tỉ-kheo ấy mà cho pháp Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Sau khi xong việc, Tăng nên nói với Tỉ-kheo ấy: “Trưởng lão, Ông chẳng được lợi ích gì! Vì sao ở giữa Tăng, thấy tội mà nói không thấy, không thấy lại nói có thấy, rồi tự bảo: “Tôi không nhớ?” Vì Ông đã nói những lời ấy ở giữa Tăng, nên Tăng cho ông pháp Yết-ma Mích-tội-tướng”. Như vậy đó A-nan, đó là như pháp, như luật, như lời Thế Tôn dạy mà cho pháp Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi. Sau đó, nếu Tỉ-kheo khách hay người nào làm phát sinh sự tranh cãi trở lại, thì phạm Ba-dạ-đề. Đó gọi là dùng Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi về tội phạm”.

Sự tranh cãi về lời nói phải dùng 3 pháp Tì-ni để dập tắt, trước đã nói về hiện tiền Tì-ni rồi.

6-Đa-mích Tì-ni diệt tướng ngôn tránh

Khi Phật an trú tại Câu-diệm-di, thành Xá-vệ, bấy giờ có 2 hội chúng, mỗi hội chúng đều có một Thầy (thủ lãnh). Vị lãnh tụ hội chúng thứ nhất tên Thanh Luận, vị lãnh tụ hội chúng thứ 2 tên Thiện Thích. Thanh Luận có một đệ tử tùy tùng tên Bạc Khẩu. Thiện Thích có một đệ tử tùy tùng tên Điếm Bạch. Vị Lãnh tụ thứ nhất có đệ tử y chỉ tên Đầu Đầu Già. Vị Lãnh tụ thứ 2 có đệ tử y chỉ tên Trá Già. Vị thứ nhất có đệ tử Ưu-bà-tắc tên Đầu-ma. Vị thứ 2 có đệ tử Ưu-bà-tắc tên Vô Yên. Vị thứ nhất có đàn việt là Ưu-đà-già. Vị thứ 2 có đàn việt là cư sĩ Cừ Sư La. Vị thứ nhất có đệ tử Ưu-bà-di là phu nhân Xá-di. Vị thứ 2 có đệ tử Ưu-bà-di là Ma-kiền-đề-nữ, tên A-nậu-ba-ma. Vị thứ nhất có đệ tử thanh y ở hậu cung tên Tần-đầu-ma-ra. Vị thứ 2 có đệ tử thanh y ở hậu cung tên Ba-đà-ma-ra. Mỗi người đều có 500 Tỉ-kheo, 500 Tỉ-kheo-ni, 500 Ưu-bà-tắc, 500 Ưu-bà-di.

Vị lãnh tụ thứ nhất khi đi cầu xong, định dội nước, thì thấy trong nước có trùng, liền lấy cỏ để trên thạp nước làm dấu. Người đệ tử y chỉ của vị lãnh tụ thứ 2, sau đó vào cầu tiêu, trông thấy trên thạp nước có cỏ, liền nói: “Kẻ nào mà không biết hổ thẹn, đem cỏ bỏ trên thạp đựng nước!”

Người đệ tử tùy tùng của vị lãnh tụ thứ nhất nghe lời nói ấy, liền nói với người đó: “Vì sao ngươi dám bêu rêu tên của Hòa-thượng ta, bảo là kẻ không biết hổ thẹn?”

Do sự kiện này mà 4 chúng đệ tử của 2 Hội chúng sinh ra tranh cãi dữ dội. Bấy giờ, khắp thành phố Câu-diệm-di đều nghe có tiếng tranh cãi, cả trong ngoài thành đều vang dội kinh động, chẳng khác gì vua chim cánh vàng vào biển bắt rồng, khiến cho nước nổi sóng cuồn cuộn. Sự tranh cãi nổi lên ồn ào chỉ xung quanh việc cỏ hay không phải cỏ. Vì các Tỉ-kheo đấu tranh nhau, nên cùng sống chung một trú xứ mà không hòa hợp. Họ nói, nào là đúng pháp, phi pháp; đúng luật, phi luật; tội nặng, tội nhẹ; tội có thể sữa trị, tội không thể sữa trị; Yết-ma đúng pháp, Yết-ma phi pháp; Yết-ma có hòa hợp, Yết-ma không hòa hợp; việc nên làm, việc không nên làm.v.v.

Lúc bấy giờ, tại trú xứ có một Tỉ-kheo nói như sau: “Này các Đại-đức, đó là việc phi pháp, phi luật, không phù hợp với kinh, không phù hợp với luật, không phù hợp với luận, trái với kinh, luật, luận, chỉ khởi lên những sự ô nhiễm, phiền não. Những gì tôi biết mới là đúng pháp, đúng luật, đúng lời Phật dạy, phù hợp với kinh, luật, luận, như thế sẽ không sinh ra nhiễm ô, phiền não”. Rồi Thầy tiếp: “Này các Đại-đức, tôi không thể dập tắt được sự tranh cãi này, tôi sẽ đến thành Xá-vệ, tới chỗ Thế Tôn, hỏi về cách dập tắt sự tranh cãi này”. Thế rồi, Thầy đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, đứng qua một bên, bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Các Tỉ-kheo tại Câu-diệm-di đấu tranh nhau, cãi vã nhau, cùng sống một trú xứ mà không hòa hợp,… (cho đến) con không thể dập tắt được sự tranh cãi, nên con phải đến thưa với Thế Tôn về việc dập tắt sự tranh cãi này. Kính xin Thế Tôn vì các Tỉ-kheo mà dập tắt sự tranh cãi này”.

Khi ấy, Phật bảo Ưu-ba-li: “Ông hãy đến chỗ các Tỉ-kheo tại Câu-diệm-di, căn cứ theo pháp, luật, theo lời Phật dạy mà cho họ pháp Mích-tội Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi ấy, như cách giải quyết sự việc mà các người họ Thích và các người Ly Xa đã áp dụng. Nếu sự việc không thể giải quyết nhanh được thì cũng phải cho pháp Đa-mích Tì-ni để dập tắt. Này Ưu-ba-li, sự tranh cãi khởi lên từ 3 chỗ: “Hoặc một người, hoặc nhiều người, hoặc chúng Tăng”. Do đó, cũng phải xả tại 3 chỗ, lấy tại 3 chỗ và diệt tại 3 chỗ. Này Ưu-ba-li, ông hãy đến chỗ các Tỉ-kheo tại Câu-diệm-di, như pháp, như luật, như lời Phật dạy mà dập tắt sự tranh cãi ấy theo nguyên tắc Đa-mích Tì-ni như trường hợp Hiện-tiền Tì-ni đã nói rõ ở trên, (cho đến) nếu tâm Tỉ-kheo ấy nhu nhuyến thì Tăng nên biểu quyết theo đa số. Tỉ-kheo nào hội đủ 5 pháp thì Tăng nên làm Yết-ma cử người ấy làm người xử đoán. Thế nào là 5 pháp? Đó là:

1. không thiên vị; 2. Không sân hận; 3. Không sợ hãi; 4. Không si ám; 5. Biết ai rút thẻ rồi, ai chưa rút thẻ.

Người làm Yết-ma nên nói như sau:

“Xin Đại-đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu 5 pháp có thể vì chúng Tăng làm người đưa thẻ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng hãy cử Tỉ-kheo mỗ giáp làm người đưa thẻ. Đây là lời tác bạch.

Xin Đại-đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu 5 pháp, nay Tăng cử Tỉ-kheo mỗ giáp làm người đưa thẻ. Các Đại-đức nào bằng lòng cử Tỉ-kheo mỗ giáp làm người đưa thẻ thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.

Tăng đã bằng lòng cử Tỉ-kheo mỗ giáp làm người đưa thẻ xong. Vì Tăng bằng lòng nên im lặng. Việc ấy cứ như thế mà thi hành”.

Sau khi Yết-ma xong, Tỉ-kheo này phải làm 2 loại thẻ: Một loại màu đen và một loại màu trắng, không được xướng rằng: “Phi pháp lấy thẻ đen, như pháp lấy thẻ trắng”, mà nên xướng thế sí “Ai nói thế này thì lấy thẻ đen, ai nói thế này thì lấy thẻ trắng”.

Người đưa thẻ khi đưa thẻ phải tập trung tâm ý vào 5 pháp kể trên rồi mới đưa thẻ; không nên làm bạn với những kẻ không như pháp, mà nên làm bạn với những kẻ như pháp. Khi đưa thẻ xong đem đếm, nếu thấy phe phi pháp nhiều hơn chừng một thẻ, thì không nên xướng: “Những người phi pháp nhiều, những người như pháp ít”, mà nên tạo phương tiện giải tán. Nếu thời điểm bữa ăn trước đã đến thì nên xướng lệnh: “Bữa ăn trước”. Nếu thời điểm bữa ăn sau đã đến, thì nên xướng lệnh: “Bữa ăn sau”. Nếu thời điểm tắm rửa đến, thì nên xướng lệnh: “Tắm rửa”. Nếu thời điểm thuyết pháp đến, thì nên xướng lệnh: “Thời điểm thuyết pháp đã đến”. Nếu giờ tụng luật đã đến thì nên xướng: “Giờ tụng luật đã đến”.

Nếu phe phi pháp biết được (sự tình) bèn nói rằng: “Chúng tôi thắng lợi mà vì sao lại giải tán? Giờ đây chúng tôi không đứng dậy, phải giải quyết việc ấy dứt khoát ngay tại chỗ ngồi này”, thì lúc ấy nếu bên cạnh tinh xá có một ngôi nhà nhỏ không có côn trùng, nên sai tịnh nhân phóng hỏa đốt, rồi hô hoán: “Lửa cháy, lửa cháy”, liền đứng dậy chạy đi chữa lửa. Hoặc biết tại trú xứ gần đó có Tỉ kheo như pháp, thì nên đi kêu gọi: “Vừa rồi có phát thẻ vừa xong, nhưng những người phi pháp thì nhiều mà những người như pháp thì ít, trưởng lão hãy vì Phật pháp mà đến đó làm sao cho những người lấy thẻ như pháp thì nhiều, để cho Phật pháp được tăng trưởng, về phần Trưởng lão cũng được lợi ích, công đức”.

Nếu người ấy nghe lời yêu cầu này mà không đến, thì phạm tội Việt-tì-ni. Trái lại, nếu Thầy ấy đến thì phải phát thẻ trở lại. Khi phát thẻ xong bèn đem đếm, nếu thấy thẻ trắng nhiều hơn một cái, thì không nên xướng: “Nhiều hơn một cái”, mà nên xướng rằng: “Những người nói như thế này nhiều, những người nói như thế kia ít”. Xướng như thế rồi, nên theo phe đa số.

Nếu hội đủ 5 pháp sau đây thì sự phát thẻ thành ra phi pháp. Năm pháp đó là gì? Đó là:

1. Những người nói như pháp thì ít mà những người nói phi pháp thì nhiều; 2. Những người nói như pháp không nhất trí, những người nói phi pháp nhất trí; 3. Phi pháp nói là đúng pháp, đúng pháp nói là phi pháp; 4. Do việc phát thẻ này mà gây ra phá Tăng.; 5. Tăng chia rẽ nhau.

Đó gọi là 5 điều phi phái. Trái lại 5 điều trên thì gọi là sự phát thẻ đúng pháp.

Bấy giờ tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Trong luật dùng Đa-mích Tì-ni để dập tắt (tranh cãi). Vậy thế nào gọi là dùng Đa-mích Tì-ni để dập tắt (tranh cãi)?”

Phật nói với A-nan: “Nếu các Tỉ-kheo đối với kinh, luật, oai nghi mà nói rằng: “Điều này là tội, là chẳng phải tội; là tội nhẹ, là tội nặng; là tội có thể trị phạt, là tội không thể trị phạt; là tội có dư tàn, là tội không có dư tàn; do đó mà sinh ra cãi vã lẫn nhau, thì lúc ấy phải cấp tốc tập họp Tăng, căn cứ theo pháp, luật, lời Phật dạy và tùy theo sự thật mà dập tắt ngay việc ấy. Nếu không thể giải quyết được, mà nghe ở một trú xứ nào đó có vị trưởng lão Tỉ-kheo tụng kinh, tụng luật, tụng luận, hoặc một Tỉ kheo thiếu niên, tụng kinh, tụng luật, tụng luận, thì phải nhanh chóng đến đó vấn kế, hoặc mời về, rồi tùy theo Tỉ-kheo ấy chỉ vẽ mà trao cho pháp Đa-mích Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi. Này A-nan, nếu sau khi dập tắt việc ấy rồi mà có Tỉ-kheo khách… , cho đến Tỉ-kheo mới thọ giới, làm phát khởi (sự tranh cãi) trở lại, thì phạm Ba-dạ-đề. Đó gọi là Tướng-ngôn-tránh dùng Đa-mích Tì-ni để dập tắt.

7. Như thảo bố địa Tì-ni diệt tướng ngôn tránh:

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ các Tỉ-kheo ở Câu-diệm-di tranh cãi nhau, cùng sống một trú xứ mà không hòa hợp. Họ nói nào là pháp, phi pháp, luật phi luật… . cho đến Tôn-giả Ưu-ba-ly nói với Tỉ-kheo ấy (vị sứ giả): “Này Trưởng lão, tôi đến đó rồi, sẽ làm các pháp Yết-ma để trừng trị, trục xuất các Ông. Khi ấy các Ông chớ có buồn”.

Thế rồi Tỉ-kheo sứ giả nói: “Tôi muốn ra ngoài một lát”. Khi ra ngoài rồi, ông ta suy nghĩ: “Nếu ta theo tôn giả Ưu-ba-li trở về, thì ông ấy có thể trị tội chúng ta, chi bằng giờ đây ta trở về Câu-diệm-di một mình, cùng nhau dập tắt sự tranh cãi ấy”. Nghĩ thế rồi, Thầy trở về Câu-diệm-di, nhưng chung cục vẫn không dập tắt được sự tranh cãi, bèn thưa (với vị Thượng Tọa trong trú xứ): “Trưởng lão, bản thân tôi không thể dập tắt được sự tranh cãi này, nay tôi phải trở lại thành Xá-vệ để cầu viện dập tắt sự tranh cãi”. Nói thế rồi, Thầy liền đi đến thành Xá-vệ, tới chỗ tôn giả Ưu-ba-li, thưa như sau: ‘Lành thay Tôn-giả, hãy vì các Tỉ-kheo ở Câu-diệm-di mà dập tắt sự tranh cãi”.

Ưu-ba-li bèn nói với Tỉ-kheo ấy: “Như tôi đã nói với Ông trước đây, tùy theo sự việc ở đó mà tôi sẽ làm các pháp Yết-ma để trị phạt, lúc ấy Ông đừng buồn. Tôi sẽ theo ông mà đi”.

Tỉ-kheo ấy đáp: “Tôi không dám trái lệnh nữa”.

Ưu-ba-li nói: “Hãy trở lại nơi ấy để dập tắt, chớ làm rối loạn Tăng chúng ở đây”.

Thế rồi Tỉ-kheo sứ giả của Câu-diệm-di liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Các Tỉ-kheo ở Câu-diệm-di cùng sống một trú xứ mà không hòa hợp, họ cãi vã nhau. Kính xin Thế Tôn hãy dập tắt sự tranh cãi ấy”.

Phật liền nói với Tỉ-kheo Câu-diệm-di ấy: “Các Ông chớ có đấu tranh cãi vã với nhau, cùng sống một trú xứ mà không hòa hợp. Vì sao vậy? Vì trong thời quá khứ xa xưa có thành phố tên Ca-tì-la, nhà vua tên Bà-la-môn Đạt-đa.v.v., như trong kinh Bổn-sinh Trường Thọ Vương đã nói rõ.. Họ bị nước mất nhà tan như vậy, thế mà Thái Tử Trường Sinh không trả thù cha, lại còn giải hòa với kẻ thù, không sinh ác tâm. Nay vì sao các ông đã có lòng tin, xuất gia sống trong chánh pháp mà còn phẫn nộ, tranh cãi, cùng sống một trú sứ mà bất hòa?”. Thế rồi, Phật bảo Ưu-ba-li: “Ông hãy đến chỗ các Tỉ-kheo ở Câu-diệm-di, căn cứ theo pháp, theo luật, theo lời Phật dạy mà trao cho họ pháp Như-thảo-bố-địa Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi ấy. Này Ưu Ba Li, Sự tranh cãi do 3 chỗ khởi lên, 3 chỗ thủ, 3 chỗ xả và 3 chỗ diệt. Giá như sự tranh cãi ấy có tính cách lặt vặt thì cùng với Ưu-bà-tắc giải quyết. Trái lại, nếu sự tranh cãi có tính cách trầm trọng, thì nên khuyên nhủ Ưu-bà-tắc ra khỏi giới trường, rồi tùy theo sự thật của Tỉ-kheo ấy, căn cứ theo pháp, luật mà làm pháp Như thảo bố địa Tì-ni để dập tắt”.

Phật lại nói với Ưu-ba-li: “Nếu Vị Hạ tọa có lỗi lầm, thì nên đến chỗ Thượng Tọa, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, nói như sau: “Thưa trưởng lão, tôi đã làm điều phi pháp, xâm phạm trưởng lão, có lỗi. Nay tôi sám hối, không dám tái phạm”. Khi ấy Thượng Tọa nên dùng tay xoa đầu (vị đó), đưa tay đỡ dậy ôm vào lòng và nói: “Tuệ mạng (hiền giả) tôi cũng có lỗi, xin Thầy hãy tha thứ”.

Trái lại, nếu Thượng Tọa có lỗi, thì nên đến chỗ Hạ tọa, cầm tay nói: “Tôi đã làm điều phi pháp, có lỗi, nay xin sám hối với Thầy, không làm như vậy nữa”. Lúc ấy, Hạ tọa nên đứng dậy đảnh lễ chân thượng tọa, rồi cũng sám hối như trên.

Bấy giờ tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi bạch: “Bạch Thế Tôn! Trong luật gọi Bố thảo Tì-ni, thế nào là Bố thảo Tì-ni?”

Phật nói với A-nan: “Nếu có sự tranh cãi khởi lên trong các Tỉ-kheo, khiến cho cùng sống một trú xứ mà bất hòa, rồi 2 bộ chúng không chịu nhịn nhau, sinh ra ác tâm, cãi nhau, bên nào cũng nói những lời không phù hợp với Phật pháp. Này A-nan, lúc ấy phải cấp tốc tập họp Tăng, căn cứ vào pháp luật, rồi một vị có đủ đức hạnh thuộc một bộ chúng, biết việc, hiểu rõ nhân duyên, có biện tài, thông hiểu pháp, không khiếp nhược, tán thán công đức hòa hợp chúng Tăng. Rồi Vị này rời khỏi chỗ ngồi, trật vai áo phải, quỳ gối, chấp tay, hướng về Bộ chúng thứ 2, nói như sau: “Này các Đại-đức, vì sao chúng ta đã có lòng tin, xuất gia, cùng sống trong một chánh pháp mà tranh cãi nhau, khiến cho cùng sống chung mà bất hòa, hai bộ chúng không nhường nhịn nhau, người nào cũng sinh ra ác tâm, lời qua tiếng lại, không tùy thuận pháp, việc không hay đã khởi lên. Tất cả đều do không khéo tư duy mà đến như thế, khiến cho hiện đời này sống khốn khổ, đời sau đọa vào ác đạo. Này các Đại-đức, chúng ta ai nấy nên bỏ sự tranh cãi này, như rải cỏ trên đất. Nay tôi hướng đến các Trưởng lão sám hối, mỗi người nên nguôi giận, hòa hợp cùng sống chung”.

Này A-nan, nếu Bộ chúng thứ 2 tất cả đều im lặng, tỏ sự đồng ý, thì một vị có đức hạnh, thông minh, biện tài thuộc bộ chúng này, liền đứng dậy sám hối. Cách sám hối cũng như trên đã nói. Này A-nan, nếu có sự tranh cãi khởi lên trong Tăng như vậy, thì phải cấp tốc tập họp Tăng, căn cứ vào pháp, luật mà dập tắt sự tranh cãi ấy, như dùng cỏ rải trên đất. Này A-nan, tất cả mọi sự tranh cãi như đánh nhau, tát nhau, lôi ra khỏi phòng, đại loại như vậy, hoặc nói 2 lưỡi, vu khống vô căn cứ.v.v. Các tội như vậy, đều nên dùng nguyên tắc như rải cỏ trên đất dập tắt. Khi đã dùng phương pháp như rải cỏ tên đất để dập tắt rồi, mà có Tỉ-kheo khách, thậm chí Tỉ-kheo mới thọ giới làm phát sinh trở lại, thì phạm Ba-dạ-đề.

Tóm lại, những việc làm của chúng Tăng đều như pháp thực hiện, như pháp tập họp, như pháp giải trừ, như pháp xả bỏ, như pháp ban cho, nói chung, những việc làm của các Tỉ-kheo đệ tử Thế Tôn có vô lượng phương tiện như vậy, đều nên áp dụng bảy diệt tránh để dập tắt mọi sự tranh cãi. Đó gọi là những việc thường làm. Thế nên nói (như trên).