LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ PHẦN THỨ 6 CỦA 92 PHÁP ĐƠN ĐỀ.

41. GIỚI: KHÔNG BỆNH MÀ NHÓM LỬA.

Khi Phật an trú tại vườn ông Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ đà, thành Xá Vệ, lúc này người đời đốc tín cung kính tôn trọng cúng dường y phục, thực phẩm, sàng tọa và thuốc chữa bệnh (thuốc bổ). Trong khi ấy, những người xuất gia ngoại đạo cũng đang ở tại thành Xá Vệ nhưng không được người đời cung kính tôn trọng cúng dường y phục, thực phẩm, sàng tọa và thuốc chữa bệnh. Do thế, nhiều người xuất gia ngoại đạo tập hợp tại nhà luận nghị, bàn luận như sau: “Sa môn Cù Đàm này đang ở tại vườn ông Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ đà, thành Xá vệ được người đời thâm tín cung kính tôn trọng cúng dường y phục, thực phẩm, sàng tọa và thuốc chữa bệnh nhưng chúng ta không được tôn trọng cung kính cúng dường y phục, thực phẩm, sàng tọa và thuốc chữa bệnh. Vậy ai có thể đến xuất gia sống trong giáo pháp của Sa môn Cù Đàm tu tập phạm hạnh, tụng đọc giáo pháp của ông ta, rồi trở về lần lượt dạy lại chúng ta, để chúng ta cũng được cúng dường giống như ông ta?”.

Khi các ngoại đạo luận bàn như thế rồi, cùng bảo nhau: “Tu Thâm Ma là người ưu tư bậc nhất trong hội chúng của chúng ta nên có thể sai ông đến xuất gia trong giáo pháp của Sa môn Cù Đàm, thọ giới luật của Cù Đàm, rồi về lại…”. Thế rồi, các ngoại đạo nói với Tu Thâm Ma: “Sa môn Cù Đàm đang sống tại tinh xá Kỳ Hoàn được nhiều người tôn trọng cúng dường, còn chúng ta thì không được lợi ích như thế. Nay ông nên đến xuất gia trong giáo pháp Sa môn Cù đàm tu tập phạm hạnh, đọc tụng kinh điển của ông ấy, rồi trở về trong giáo pháp của Ta Lần lượt dạy lại nhau, để chúng ta cũng được cúng dường giống như ông ấy”.

Tu Thâm Ma nghe lời đề cử rồi, liền ra khỏi thành Xá vệ, đi đến tinh xá Kỳ Hoàn. Khi tới cổng tinh xá, thấy các Tỉ kheo đang kinh hành, ngồi thiền, Tu Thâm Ma liền đến chỗ các Tỉ kheo thăm hỏi, rồi ngồi sang một bên, nói: “Tôi vốn là ngoại đạo nay muốn xuất gia, thọ Cụ Túc trong giáo pháp của Như Lai thì ở đây phải làm thế nào?”. Các Tỉ kheo đáp: “Nếu gốc gác là ngoại đạo mà muốn xuất gia trong giáo pháp của Như Lai, thì phải được thử thách qua bốn tháng. Qua bốn tháng thử thách mà các Tỉ kheo thấy hợp ý thì sẽ cho xuất gia”.

Khi ấy Tu Thâm Ma liền vâng lời, thực hành bốn tháng thử thách. Qua bốn tháng, các Tỉ kheo thấy vừa ý, liền cho thọ giới Cụ Túc. Sau khi thọ Cụ Túc, ông bèn đi đến chỗ Thế Tôn cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng hầu một bên. Bấy giờ, có nhiều Tỉ kheo đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, con đã chứng đắc, đời sống của con đã kết thúc, phạm hạnh đã thành, không còn phải tÁisinh nữa”. Họ nói như thế xong, liền cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật rồi ra đi.

Khi các Tỉ kheo ấy vừa ra đi, thì Tu Thâm Ma đến đảnh lễ chân Phật, rồi đi tới các Tỉ kheo ấy thăm hỏi. Hỏi thăm xong, bèn đứng qua một bên, hỏi các Tỉ kheo: “Thưa trưởng lão, vừa rồi ở trước Phật, thầy tự nói là mình đã chứng đắc, đời sống đã kết thúc, phạm hạnh đã thành, không còn tÁisinh nữa, có phải thế không?”. Các Tỉ kheo đáp: “Đúng như vậy”. Thế rồi Tu Thâm Ma lại hỏi: “Thưa trưởng lão, biết như vậy thấy như vậy, được thiên nhãn thanh tịnh, thấy chúng sinh chết chỗ này, sinh chỗ kia, người đẹp, kẻ xấu, thiện thú, ác thú, thấy chúng sanh thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, phỉ báng hiền thánh, tự làm việc tà kiến, dạy người làm theo tà kiến, thân hoại mạng chung đọa vào ba đường ác. Lại thấy chúng sanh thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, tự mình làm theo chánh kiến rồi dạy người làm theo chánh kiến, đến khi thân hoại, mạng chung, sinh vào cõi thiện, trên cõi trời, trong cõi người, thiên nhãn thanh tịnh hơn người như the,á trưởng lão có được không?”. Thầy đáp: “Không được”. Ông lại hỏi: “Tôn giả được Túc mạng trí biết như vậy, thấy như vậy, biết quá khứ một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, một trăm đời, một ngàn đời, cho đến kiếp thành, kiếp hoại, danh tánh, chủng tộc, chết nơi đây, sinh chỗ kia, chết chỗ kia, sinh chỗ này, vô số sự việc trong các kiếp như thế, trưởng lão có biết không?”. Thầy đáp: “Không biết”. Ông lại hỏi: “Ly sắc, quá sắc, vô sắc, tịch diệt, giải thoát, thân chứng cụ túc an trú, các loại giải thoát như vậy, trưởng lão có được không?”. Thầy đáp: “Không được”.

Tu Thâm Ma nói: “Vừa rồi tôi hỏi về các pháp thì trưởng lão đều nói là không được. Thế thì vì sao trước mặt Thế Tôn trưởng lão tự nói là mình đã chứng đắc, đời sống của mình đã kết thúc, phạm hạnh đã thành, không còn tái sinh, vậy ai mà tin nổi?”.

Các Tỉ kheo đáp: “Này trưởng lão, chúng tôi là những người được giải thoát bằng trí tuệ”.

Tu Thâm Ma nói: “Trưởng lão nói giản lược quá nghĩa chưa rõ, xin nói lại rõ hơn”.

Tỉ kheo nói: “Tuy nghĩa chưa rõ, nhưng tôi tự biết mình là người đã giải thoát nhờ trí tuệ”.

Khi Tu Thâm Ma nghe các Tỉ kheo nói như thế, liền suy nghĩ: “Ta nên đến chỗ Thế Tôn hỏi về việc này, Thế Tôn giải đáp như thế nào thì ta hãy nghi nhận như vậy. Suy nghĩ thế rồi, thầy từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, đem việc nêu trên bạch đầy đủ với Thế Tôn, hỏi rằng việc ấy như thế nào?

Phật liền nói với Tu Thâm Ma:

—Tiên pháp trí, hậu tỉ trí.

—Bạch Thế Tôn, điều Thế Tôn dạy quá bí ẩn, giản lược, con chưa hiểu.

—Dù ngươi chưa hiểu, nhưng vẫn tiên pháp trí, hậu tỉ trí.

—Lành thay Thế Tôn, con vẫn chưa hiểu, kính mong Thế Tôn vì con nói rõ thêm.

—Vậy Ta hỏi ngươi, tùy ngươi hiểu như thế nào hãy trả lời Ta. Này Tu Thâm Ma, ý ngươi nghĩ thế nào, do Sinh nên có Già Chết phải không?

—Đúng như vậy, bạch Thế Tôn.

—Lành thay Tu Thâm Ma, ý ngươi nghĩ sao, do Vô minh mà sinh ra các Hành phải không?

—Đúng như vậy.

—Lành thay Tu Thâm Ma, ý ngươi nghĩ sao, do Sinh duyên diệt nên Già Chết diệt phải không? Cho đến do Vô minh diệt nên các hành diệt phải không?

—Đúng như vậy.

—Lành thay Tu Thâm Ma, nếu Tỉ kheo sống trong giáo pháp này chánh quán, chánh trí, điều gì phải đạt được thì sẽ đạt được hết phải không?

—Đúng như vậy.

—Ngươi đã biết do Sinh nên có Già Chết phải không?

—Đúng như vậy.

—Do Vô minh nên có các Hành phải không?

—Đúng như vậy.

—Do Sinh duyên diệt nên Già Bệnh Chết Ưu Bi Khổ Não, Ngũ Ấm đều diệt phải không?

—Đúng như vậy.

—Do Vô minh diệt nên các hành diệt phải không?

—Đúng như vậy.

Ngươi đã biết các pháp như vậy, ngươi có đạt được Thiện nhãn, Túc mạng trí và các sự giải thoát không?

—Không đạt được, bạch Thế Tôn.

—Ngươi tự nói biết các pháp như vậy rồi lại bảo không đạt được các công đức kia, thì ai mà tin được?

—Bạch Thế Tôn, vì bị Vô minh ác tà vây bủa nên con sinh ra tà kiến như vậy. Nay con nghe rõ chánh pháp nơi Thế Tôn nên diệt được ác tà kiến, đạt được pháp nhãn thanh tịnh.

Thế rồi, Tu Thâm Ma cúi đầu đảnh lễ chân Phật, quỳ gối, chấp tay, bạch Phật:

—Bạch Thế Tôn, con xuất gia sống trong chánh pháp của Như Lai với tâm gian trá định trộm giáo pháp, Thế Tôn đại từ xin nhận sự hối lỗi của con.

—Ngươi ngu ngốc như trẻ con, vì muốn trộm chánh pháp của Phật mà xuất gia với tâm gian trá. Nay Ta nhận sự hối lỗi của ngươi. Này Tu Thâm Ma, ví như có người phạm tội với vua, rồi vua sai lính đem ra phân thây, cắt tai, xẻo mũi, dùng cưa để cưa, dùng dao cắt chặt từng đoạn, lại cho voi chà, ngựa đạp, giết chết bằng các hình thức cực kỳ đau khổ như vậy. Nay ngươi xuất gia với tâm gian trá, vì muốn trộm pháp mà phạm phải tội lỗi, giờ đây Ta nhận sự hối lỗi của ngươi, ở trong pháp của hiền thánh, ngươi sẽ được tăng trưởng; từ nay về sau chớ có tái phạm.

Vì Thế Tôn độ Tu Thâm Ma và vì Mục Liên vận dụng thần túc dùng bát chiên đàn hàng phục ngoại đạo tại Tỳ xá Li nên nhân dân càng thêm kính tín, và (tăng đoàn) được nhiều lợi dưỡng. Do thế, các ngoại đạo lồng lộn phỉ báng Thế Tôn, như trong kinh tôn đà lợi đã nói rõ: khi Phật chưa ra đời thì ngoại đạo được các thứ cúng dường, nhưng đến khi Phật ra đời thì tất cả ngoại đạo đều mất hết lợi dưỡng. Vì sao vậy? vì mọi người đều biết rằng pháp Phật thâm diệu, như trong kinh Khổng Tước Điểu Bản Sinh đã nói rõ.

Bấy giờ, đức Thế Tôn chán sự cúng dường của người đời, nên trở về lại thành Xá Vệ. Đến giờ khất thực, Phật khoác y thường mặc. Cầm bát, vào thành Xá Vệ tuần tự khất thực. Rồi sau khi ăn xong, Phật ung dung đi kinh hành, đoạn, thu xếp giường nệm, không nói với Tăng chúng và thị giả, Phật du hành một mình đến nước Kiều Tát La.

Khi ấy, các Tỉ kheo liền đến chỗ A Nan, nói với A Nan:

—Thưa trưởng lão, đức Thế Tôn sau khi ăn, ung dung đi kinh hành, rồi tự thu xếp giường nệm, không nói với Tăng chúng và thị giả, đơn độc du hành đến nước Kiều Tát La.

A Nan đáp: “Thưa trưởng lão, nếu đức Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri sau khi ăn, ung dung đi kinh hành, rồi tự thu xếp giường nệm, không nói với các Tỉ kheo và thị giả mà du hành một mình, là vì muốn tìm sự yên lặng, vậy các Tỉ kheo không nên đi theo Ngài”.

Lúc ấy, Thế Tôn từ nước Kiều Tát La du hành đến Ba Lợi Da, rừng Ta La, an trú dưới cây Hiền Thọ. Đoạn, nói về bầy voi năm trăm con, gặp phải nước đục, cỏ xơ xác, vì thế nó chán ngán đàn voi, nên cũng đơn độc tìm đến cây này. Khi voi chúa trông thấy Phật, nó liền dùng vòi nhổ cỏ, đạp đất cho bằng, lại dùng vòi lấy nước rưới lên đất cho khỏi bụi, đồng thời lấy cỏ mềm trải lên để làm chỗ ngồi. Đoạn nó quỳ gối, mời Phật ngồi lên. Khi thấy Phật ngồi rồi, nó bèn xin được cúng dường Phật ba tháng. Phật biết ý voi chúa, liền nhận sự thỉnh cầu của nó. Nhân việc này, Phật đọc bài tụng:

“Độc thiện không phải lo,
Như voi nơi hoang dã.
Vui trì giới học tập,
Cần bè bạn làm gì?”

Bấy giờ, voi chúa lấy những ngó sen tốt đẹp rửa sạch, rồi dâng lên Thế Tôn, và Thế Tôn đã nhận sự cúng dường của voi chúa suốt ba tháng. Khi ấy, năm trăm Tỉ kheo vì cả ba tháng không thấy Phật, nên đến chỗ tôn giả A Nan, thưa:

—Trưởng lão, chúng tôi đã lâu không thấy Phật, cũng không được nghe pháp, nay chúng tôi muốn đến đảnh lễ thăm hỏi Thế Tôn để nghe Thế Tôn dạy bảo.

—Các trưởng lão nên đứng ở đây một lát và đợi tôi trở về.

—Lành thay!

Thế rồi, A Nan liền đi đến chỗ tôn giả Đại Mục Liên, nói như sau: “Thưa trưởng lão, năm trăm Tỉ kheo đến chỗ tôi nói rằng: “Đã lâu ngày không thấy Phật, không được nghe chánh pháp, muốn đến đảnh lễ cúng dường Phật và nghe Phật dạy bảo. Trưởng lão hãy quan sát xem Phật đang ở tại đâu?”.

Mục Liên liền nhập định, quan sát hết thảy thế gian, thấy Phật đang ở dưới gốc cây Hiền thọ, tại rừng Ta La, Ba Lợi Da, nhận sự cúng dường của voi chúa. Thấy thế, thầy bèn hướng đến A Nan, nói bài kệ sau:

“Rời bỏ hồ hoa sen,
Thân tươi đẹp đẫy đà.
Mình không bẩn sạch sẽ,
Sống vui nơi rừng vắng.
Được cam lồ diệu pháp,
Tướng hảo, thân sung mãn.
Tâm trong sạch không bẩn,
Rời chúng, vui rừng vắng”.

Khi Mục Liên đọc bài kệ đó rồi, liền nói với tôn giả A Nan: “Đức Thế Tôn nay đang ở tại Ba Lợi Da, rừng Ta La, dưới cây Hiền thọ, nhận sự cúng dường của voi chúa. Nếu ông muốn đến chỗ Thế Tôn thì bây giờ là đúng lúc”.

Tôn giả A Nan bèn trở về chỗ các Tỉ kheo, nói như sau:

—Thế Tôn hiện giờ ở Ba Lợi Da, rừng Ta La, dưới cây Hiền thọ, đang nhận sự cúng dường của voi chúa. Giờ đây, chúng Ta hãu cùng nhau đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ vấn an Ngài.

Các Tỉ kheo nghe A Nan nói thế, liền cùng nhau đi đến Ba Lợi Da, rừng Ta La, dưới cây Hiền thọ. Khi còn cách Thế Tôn không xa, A Nan nói với các Tỉ kheo:

—Này các trưởng lão, đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri đang ở tại chỗ thanh vắng, chúng ta không nên đến đường đột. Các trưởng lão nên đứng lại đây một lát, để cho tôi đi đến trước.

—Lành thay.

A Nan liền đến với Phật. Từ xa trông thấy A Nan đi đến, Phật liền nói: “Ông đến thật là đúng lúc A Nan, đã lâu ngày Ta không gặp ông”. Tôn giả A Nan liền cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi bạch như sau: “Thế Tôn có được ít bệnh, ít khổ não và sống an lạc chăng?”.

—Như Lai ít bệnh, ít khổ não, sống an lạc, đang nhận sự cúng dường của voi chúa. Này A Nan, các Tỉ kheo Tăng có được ít bệnh, ít khổ não, sống an lạc hay không? Khất thực không nhọc nhằn, hành đạo đúng pháp đấy chứ?”.

—Bạch Thế Tôn, Tỉ kheo Tăng ít bệnh, ít khổ não, sống an lạc, khất thực không nhọc nhằn, hành đạo đúng pháp. Bạch Thế Tôn, năm trăm Tỉ kheo hiện giờ đang đợi ngoài rừng, muốn vào thăm viếng, kính xin Thế Tôn chuẩn thuận.

—Ta cho phép họ vào.

A Nan bèn trở lại chỗ các Tỉ kheo nói:

—Các trưởng lão được lợi ích rất lớn, vì Thế Tôn đã cho phép vào thăm.

Các Tỉ kheo liền theo A Nan, cùng đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi đứng qua một bên. Lúc bấy giờ trong số ấy có một Tỉ kheo suy nghĩ như sau: “Làm thế nào mà Tỉ kheo biết như thật, thấy như thật và lần lượt đoạn tận các lậu hoặc?”. Tuy thầy âm thầm suy nghĩ như thế, nhưng không dám hỏi Phật.

Đức Thế Tôn biết được những suy nghĩ trong tâm của vị Tỉ kheo ấy, nên nói với A Nan: “Trong số người này có một Tỉ kheo suy nghĩ như sau: “Làm thế nào để một Tỉ kheo biết như thật, thấy như thật, lần lượt đoạn tận các lậu hoặc?”. Tuy thầy âm thầm suy nghĩ như thế, nhưng không dám hỏi. Này A Nan, trước đây Ta đã vì các Tỉ kheo nói về cách quán tưởng ấm, giới, nhập và mười hai nhân duyên; nếu Tỉ kheo biết như thật, thấy như thật, thì đoạn tận được các lậu hoặc”.

Vị Tỉ kheo ấy nghe Thế Tôn nói thế,liền suy nghĩ: “Vật chất (sắc) là ta”.

Lúc đó, Thế Tôn biết được những suy nghĩ trong lòng của Tỉ kheo ấy, liền nói với A Nan: “Thầy Tỉ kheo ấy suy nghĩ như sau: “Vật chất là Ta”. A Nan nên biết, nếu có Tỉ kheo quán tưởng thế này: “Vật chất là tất cả các hành, do Vô minh, Xúc, Thọ mà sinh ra Aùi”, thì Này A Nan, Ái bắt nguồn từ đâu? Nương tựa vào đâu? Phát sinh từ đâu? Chuyển biến từ đâu?

A Nan nên biết, Ái bắt nguồn từ Thọ, nương tựa vào Thọ, phát sinh từ Thọ và chuyển biến từ Thọ.

A Nan nên biết, Thọ bắt nguồn từ Xúc, nương tựa vào Xúc, phát sinh từ Xúc và chuyển biến từ Xúc.

A Nan nên biết, Xúc bắt nguồn từ Lục nhập, nương tựa vào Lục nhập, phát sinh từ Lục nhập và chuyển biến từ Lục nhập.

A Nan nên biết, Lục nhập là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh là pháp Vô thường hoại diệt; Xúc là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại diệt; Thọ là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại diệt; Ái là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại diệt; hành là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại diệt. Vô minh là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại diệt. Như vậy đó A Nan nếu Tỉ kheo biết như vậy, thấy như vậy, thì sẽ lần lượt đoạn tận hữu lậu.

Vị Tỉ kheo ấy, nghe nói thế, bèn suy nghĩ: “Vật chất chẳng phải là ta, vật chất là sở hữu của ta”.

Phật biết được, những suy nghĩ trong lòng của Tỉ kheo ấy, liền nói với A Nan: “Thầy Tỉ kheo ấy nghĩ thế Này: “Vật chất chẳng phải là ta, vật chất là sở hữu của ta”.

A Nan nên biết, nếu Tỉ kheo quán tưởng như sau: “Vật chất là tất cả các hành, do Vô minh, Xúc, Thọ mà sinh ra ái, vậy ái bắt nguồn từ đâu? Nương tựa vào đâu? Phát sinh từ đâu? Chuyển biến từ đâu?”.

A Nan nên biết, ái bắt nguồn từ Thọ, nương tựa vào thọ, phát sinh từ Thọ và chuyển biến từ Thọ, cho đến Vô minh hữu vi hành (là sự vận hành của pháp hữu vi), do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại diệt.

Vị Tỉ kheo ấy nghe nói thế, liền suy nghĩ: “Vật chất không phải là Ta, cũng không phải sở hữu của Ta, mà trong ta có vật chất”.

Phật biết những suy nghĩ trong lòng của Tỉ kheo ấy: (cho đến) Vô minh là sự vận hành của hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp vô thường biến hoại.

Vị Tỉ kheo ấy nghe nói thế, liền suy nghĩ: “Vật chất chẳng phải là ta, chẳng phải là sở hữu của ta, cũng chẳng phải trong ta có vật chất, hay trong vật chất có ta”.

Phật biết được những suy nghĩ trong lòng của Tỉ kheo ấy: (cho đến) Vô minh là sự vận hành của hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp vô thường biến hoại.

Vị Tỉ kheo ấy nghe nói thế, liền suy nghĩ: “Nếu vật chất chẳng phải là ta, chẳng phải sở hữu của ta, chẳng phải trong ta có vật chất, cũng chẳng phải trong vật chất có ta; (Vậy chắc) Thọ là ta, Tưởng, Hành, Thức cũng như vậy. Nếu năm ấm chẳng phải là ta, chẳng phải sở hữu của ta, chẳng phải trong ta có năm ấm, chẳng phải trong năm ấm có ta; vậy thì vì sao mà có ta?”.

Phật nói với A Nan: “Nếu quán tưởng như vậy về năm ấm, tất cả các Hành, do Vô minh, Xúc, Thọ sinh ra Ái, thì Này A Nan, Ái bắt nguồn từ đâu? Nương tựa vào đâu? Phát sinh từ đâu? Chuyển biến từ đâu? Này A Nan Ái bắt nguồn từ Thọ, nương tựa vào Thọ, phát sinh từ Thọ và chuyển biến từ Thọ.

A Nan nên biết, Thọ bắt nguồn từ Xúc, nương tựa vào Xúc, phát sinh từ Xúc và chuyển biến từ Xúc.

A Nan nên biết, Xúc bắt nguồn từ Lục nhập, nương tựa vào Lục nhập, phát sinh từ Lục nhập và chuyển biến từ Lục nhập.

A Nan nên biết, Lục nhập là sự vận hành của hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường biến hoại, (cho đến) Vô minh là sự vận hành của hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp vô thường biến hoại, như vậy đó A Nan. Nếu Tỉ kheo biết như vậy, quán tưởng như vậy, thì lần lượt sẽ đoạn tận hữu lậu.

Vị Tỉ kheo ấy nghe nói thế, liền được pháp nhãn thanh tịnh. Rồi thầy suy nghĩ: “Tất cả các pháp đều vắng lặng, không có ta, không có sở hữu của ta”.

Phật nói với A Nan: “Thầy Tỉ kheo ấy trong khi suy nghĩ như thế, thì không thọ nhận bất cứ pháp nào, đoạn tận các lậu hoặc và tâm được giải thoát”.

Trong khi Phật vì Tỉ kheo ấy thuyết về pháp đó thì năm trăm Tỉ kheo tâm được giải thoát, đều thành La hán.

Thế rồi, đức Thế Tôn cùng sống với các Tỉ kheo, lúc ấy vào tháng mùa thu, gặp cơn mưa lạnh thình lình các Tỉ kheo đem đốt một khúc cây lớn rổng ruột. Nhưng trong cây ấy vốn có một con rắn lớn. Vì bị lửa nóng nên nó chui ra, ngẩng đầu lên, đuổi theo các Tỉ kheo. Do đó, các Tỉ kheo kêu gọi nhau ôm sồm: “rắn bò ra, rắn bò ra”. Lúc ấy, Phật biết nhưng vẫn hỏi các Tỉ kheo: “Vì sao mà kêu la ôm sồm như thế?”.

—Bạch Thế Tôn, vì bị cơn mưa lạnh thình lình các Tỉ kheo niên thiếu đem đốt một cây rổng ruột. Trong cây ấy có con rắn, do bị lửa nóng nên nó bò ra đuổi các Tỉ kheo. Các Tỉ kheo thấy vậy nên mới kêu gọi nhau ôm sòm như thế.

—Đi gọi các Tỉ kheo ấy đến đây.

Khi họ đến rồi, Phật bèn nói với các Tỉ kheo: “Đốt lửa có bảy sự tai hại, đó là:1. Làm hư mắt; 2. Làm hư nhan sắc; 3. Làm cho thân tiều tụy; 4. Y phục bị dơ bẩn, hư hại; 5. Làm hư hỏng giường nệm; 6. Sinh ra cơ hội phạm giới; 7. Làm tăng thêm sự bàn tán về chuyện đời. Có bảy điều tai hại như thế, nên từ nay về sau, Ta không cho phép đốt lửa”.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Đức Thế Tôn vì năm việc lợi ích nên cứ năm hôm đi quan sát phòng của các Tỉ kheo một lần, Ngài thấy một Tỉ kheo bị bệnh ghẻ ngứa, Phật biết nhưng vẫn hỏi:

—Này Tỉ kheo, có dễ chịu không? Không khổ đấy chứ?

—Con bị bệnh ghẻ ngứa không được vui, nếu được hơ lửa thì thấy dễ chịu, nhưng Thế Tôn chế giới không cho đốt lửa, nên không được dễ chịu.

—Từ nay về sau, Ta cho phép Tỉ kheo bị bệnh được phép đốt lửa.

Lại nữa, khi Phật trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ các tôn giả Nan đề, Kim Tì Lô, Bạt đề an cư tại núi tháp vừa xong, bèn đi đến thành Xá Vệ để đảnh lễ thăm viếng Thế Tôn. Thấy các vị mặ áo bị thấm mưa, màu nhuộm phai lạt, Phật biết mà vẫn hỏi:

—Này các Tỉ kheo, vì sao lại mặc áo bị thấm nước mưa (màu phai lạt)?

—Bạch Thế Tôn, vì Thế Tôn chế giới không được đốt lửa, nên chúng con không dám nấu thuốc nhuộm để nhuộm lại.

—Từ nay về sau, trừ có lý do chính đáng (thì được đốt lửa).

Thế rồi Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

—Nếu Tỉ kheo không có bệnh mà tự đốt cỏ, cây, phân bò, hoặc sai người khác đốt, thì phạm Ba dạ đề, ngoại trừ có lý do chính đáng.

Giải thích

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Bệnh: Như ghẻ lở, ghẻ ngứa, lác, bệnh phong… có các loại bệnh cần đến lửa như vậy mới dễ chịu, thì cho phép đốt lửa.

Cỏ: tất cả các thứ cỏ và lau, sậy, trúc…

Cây: Tất cả các loại cây hoặc đã bị đốn chặt, hoặc còn nguyên vẹn.

Phân bò: Hoặc tự mình đốt, hoặc sai người đốt, ngoại trừ có lý do chính đáng thì Thế Tôn bảo không có tội.

Lý do: Hoặc trực nguyệt (chịu trách nhiệm trong tháng), hoặc phải chăm sóc việc ăn uống, hoặc đến phiên mình phải đốt lửa, đốt đèn, hoặc đốt lò sưởi cho ấm trong phòng, hoặc đốt lửa cho Hòa thượng, A xà lê, hoặc đun nước nóng, hoặc xông bát, hoặc nhuộm y… đốt lửa thì không có tội. Nếu không có lý do thì phạm Ba dạ đề.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Nếu cầm cây củi có lửa để trên đống củi, trên cỏ, trên phân bò, trên ghế gỗ, trên đống rác thì phạm ba dạ đề. Như vậy, cho đến nếu cầm nắm rác có lửa để trên củi, trên cỏ, trên phân bò, trên ghế gỗ cũng như vậy.

Nếu Tỉ kheo dẫm trên đống lửa bằng cỏ cây, có cái đã cháy, có cái chưa cháy, thì phạm Ba dạ đề.

Nếu dẫm trên lửa làm cho lửa văng ra mà chưa cháy đất, thì phạm tội Việt tì ni (?). (Khi ấy) được cầm cây sắt, gạch, ngói mà dập đống lửa thì không có tội.

Nếu cầm lửa xoay thành vòng tròn thì phạm tội Ba dạ đề.

Nếu Tỉ kheo ngắt cỏ ném về phía lửa hoặc ném trên lửa, thì tùy ngắt bao nhiêu cộng, phạm bấy nhiêu tội Ba dạ đề.

Nếu đốt cháy cây cỏ thì phạm Ba dạ đề.

Nếu đốt cháy thân cây nảy mầm thì phạm hai tội Ba dạ đề. Vì phạm tội đốt lửa và làm hại mầm cây.

Nếu vì muốn phá (vật gì đó), hoặc hỏa tịnh (dùng lửa đốt đồ ăn để đồ ăn hợp lệ), hoặc vì lý do chính đáng mà đốt thì không có tội.

Nếu đốt buội lúa đã có hạt hoặc bông lúa đã có hạt thì phạm hai tội Ba dạ đề. Một tội đốt lửa và một tội làm hại mầm sống. Nhưng nếu cần dùng lửa để tác tịnh (như nghĩa hỏa tịnh) hoặc có lý do mà đốt, thì không có tội.

Nếu đốt tóc, đốt lông ngựa, lông lạc đà… , thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu đốt da thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu đốt bánh thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu đốt thuốc độc và than thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu ăn không tiêu được dùng miếng sắt nung nóng áp trên bụng, thì không có tội.

Nếu dùng giày da dẫm trên lửa thì phạm tội Việt tì ni.

Thế nên nói (như trên).