LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ PHẦN THỨ HAI CỦA CHÍN MƯƠI HAI PHÁP ĐƠN ĐỀ

5. GIỚI: THUYẾT PHÁP CHO PHỤ NỮ QUÁ GIỚI HẠN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ Tôn-giả Ưu-đà-di đến giờ khất thực, liền khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, tới một nhà kia Thầy bèn thuyết pháp cho nhiều phụ nữ. Lúc ấy, tôn giả A-nan cũng tuần tự khất thực, đến gia đình ấy, thấy thế, liền hỏi: “Trưởng lão đang làm gì đấy?”

Ưu-đà-di đáp: “Tôi thuyết pháp cho các phụ nữ này”.

Tôn giả A-na liền nói với Ưu-đà-di: “Vì sao đã nhân danh là Tỉ-kheo, trong lúc không có người nam hiểu biết, chỉ có một mình thuyết pháp cho phụ nữ?”

Sau khi A-nan khất thực về, ăn xong, bèn đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-đà-di đến. Sau khi Thầy đến rồi, Phật liền hỏi: “Ông có làm việc đó thật không?”

Thầy đáp: “Có thật như vậy, bạch Thế Tôn”.

Phật khiển trách: “Đó là việc xấu. Vì sao trong lúc không có đàn ông hiểu biết mà ông thuyết pháp cho phụ nữ? Từ nay về sau, ta không cho phép (Tỉ-kheo), trong lúc không có đàn ông hiểu biết, mà thuyết pháp cho phụ nữ”.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, tôn giả Ưu -đà-di đến giờ khất thực bèn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, đến một nhà kia, liền thuyết pháp cho nhiều phụ nữ nghe. Lúc ấy, tôn giả A-nan cũng tuần tự khất thực, đến ngay nhà đó, trông thấy thế, bèn hỏi:

—Trưởng lão đang làm gì đấy?

—Đang thuyết pháp cho các phụ nữ.

—Trưởng lão không nghe Thế Tôn nói rằng không có đàn ông thì không được thuyết pháp cho phụ nữ sao?

—Này A-nan, ông không thấy người đá này, người gỗ này, người cỏ này, người họa này sao? Một người cũng đủ, huống chi nhiều người?.

Tôn giả A-nan sau khi khất thực trở về, ăn xong, bèn đem sự kiện ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-đà-di đến. Khi Thầy đến rồi, Phật liền hỏi: “Ông có thật như vậy chăng?”

Thầy đáp: “Có thật như vậy”

Phật nói: “Này Ưu-đà-di, vì sao ông lại tự xem mình như người đàn ông vô tâm, trong sạch mà thuyết pháp cho phụ nữ? Từ nay về sau, ta không cho phép Tỉ-kheo tự xem mình như người đàn ông vô tâm, trong sạch mà thuyết pháp cho phụ nữ”.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Lúc ấy Ưu-đà-di đến giờ khất thực, liền khoác y, cầm bát đi vào thành Xá-vệ… , cho đến đáp tôn giả A-nan: “Ông không thấy đứa trẻ được bồng trên tay kia, đứa trẻ đang bú, đứa trẻ đang nằm hay sao? Một người cũng đủ, huống chi nhiều người”.

Tôn giả A-nan sau khi khất thực trở về, ăn xong, bèn đem sự kiện ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu—đà-di đến. Khi Thầy đến rồi, Phật liền hỏi: “Ông có điều đó thật chăng?”

Thầy đáp: “Có thật như vậy”.

Phật nói: “Này Ưu-đà-di, vì sao ông lại tự ví mình trong sạch như đứa trẻ con mà thuyết pháp cho phụ nữ? Từ nay về sau, các Tỉ-kheo không được tự xem mình như đứa bé đang bú mà thuyết pháp cho phụ nữ”.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tì-xá-khư Lộc-mẫu bị bệnh. Do đó, tôn giả A-nan sáng sớm khoác y đi đến đó thăm bệnh, hỏi: “Ưu-bà-di, bệnh tình thế nào? Có khổ não lắm không?”

Bà đáp: “Bệnh tình không thuyên giảm, không thể chịu nổi, xin Tôn-giả hãy thuyết pháp cho con nghe”.

A-nan đáp: “Đức Thế Tôn không cho phép Tỉ-kheo không có tịnh nhân mà thuyết pháp cho phụ nữ”.

—Nếu không được nói nhiều, thì có thể nói cho con chừng 5, 6 lời được không?”.

—Tôi không biết có được hay không, nên không dám tự tiện nói.

—Xin cảm ơn Thầy.

—Cầu mong bệnh tật chóng hết.

Tôn giả A-nan nói xong, bèn từ giã, trở về chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật rồi đứng hầu một bên. Phật biết mà vẫn hỏi: “A-nan, ông từ đâu trở về?”

A-nan bèn đem sự kiện trên bạch đầy đủ với Phật, Phật liền nói với A-nan: “Tì-xá-khư Lộc-mẫu là người trí tuệ. Nếu ông nói 5, 6 lời thì bệnh bà ấy liền bớt, được sống an lạc. Từ nay về sau, ta cho phép (Tỉ-kheo) khi không có đàn ông, được thuyết pháp cho phụ nữ 5, 6 lời”.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì 10 lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỉ-kheo, không có tịnh nhân mà thuyết pháp cho phụ nữ quá 5, 6 lời thì phạm Ba-dạ-đề, ngoại trừ trường hợp có đàn ông hiểu biết tham dự”.

Giải thích:

—Không có đàn ông hiểu biết: Nếu người đó mù, hoặc điếc thì cũng được xem là không có tịnh nhân. Nếu có 2 người mà một mù, một điếc, thì được xem là một tịnh nhân. Nhưng có tịnh nhân đang nằm ngủ thì cũng được xem là không có đàn ông.

—Phụ nữ: Những người ấy hoặc là mẹ, chị em, hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc tại gia, xuất gia.

—Pháp: Những điều Phật nói, hoặc được Phật ấn chứng. Những điều Phật nói nghĩa là chính miệng Phật tự nói ra. Phật ấn chứng nghĩa là những điều do đệ tử Phật hoặc người khác nói, rồi Phật chuẩn nhận.

—Nói: Dạy, đọc tụng, hoặc giải thích.

—Năm, sáu lời: Gồm có 2 loại câu dài và câu ngắn. Câu dài như “Tất cả việc ác chớ làm”. Câu ngắn như “Mắt là vô thường”.

—Ngoại trừ có người đàn ông hiểu biết: Nếu trẻ em dưới 7 tuổi không hiểu được ý nghĩa của lời nói tốt, xấu thì không thể gọi là đàn ông hiểu biết. Nhưng nếu hơn 7 tuổi mà không hiểu được ý nghĩa của lời nói tốt xấu thì cũng gọi là người đàn ông vô tri. Trái lại, nếu 7 tuổi hoặc hơn 7 tuổi mà hiểu được ý nghĩa của lời nói tốt xấu, thì gọi là người đàn ông hiểu biết.

Lại nữa, nếu có phụ nữ sáng sớm đến lễ tháp, rồi sang đảnh lễ Tỉ-kheo, bạch rằng: “Thưa Tôn-giả, tôi muốn nghe pháp, xin Tôn-giả thuyết pháp cho tôi nghe”, thì khi ấy, Tỉ-kheo được nói một câu rưỡi kệ. Thế rồi, Tỉ-kheo ấy đi vào thôn xóm, nếu lại nói 5,6 lời nữa cho người phụ nữ ấy thì phạm Ba-dạ-đề. Sở dĩ đức Thế Tôn chế ra giới nói 5,6 lời, là nói về số lượng lời nói trong một ngày.

Nếu Tỉ-kheo sống tại A-luyện-nhã mà có phụ nữ đến lễ tháp, rồi sang đảnh lễ Tỉ-kheo, bạch rằng: “Thưa Tôn-giả, xin Tôn-giả thuyết pháp cho tôi nghe”, thì Tỉ-kheo nên nói với phụ nữ ấy rằng: “Đức Thế Tôn chế giới, không có tịnh nhân, thì không được thuyết pháp cho phụ nữ”. Thế rồi, người phụ nữ ấy bạch với Tỉ-kheo: “Tôi biết Phật pháp, vậy xin hãy nói cho tôi nghe trong mức độ mà Thế Tôn cho phép”, thì khi ấy Tỉ-kheo được nói với phụ nữ ấy một câu kệ rưỡi. Nếu 2 người thì được nói 3 câu kệ, không có tội.

Nếu Tỉ-kheo vào xóm làng để giáo hóa, rồi có nhiều phụ nữ đến muốn nghe pháp, thì mỗi mỗi được nói 6 câu. Trước hết, nên nói với phụ nữ thứ nhất: “Tôi nói cho cô 6 câu”, rồi nói với phụ nữ thứ 2: “Tôi nói cho cô 6 câu”. Như vậy thì nói cho nhiều người vẫn không có tội. Thế rồi, Tỉ-kheo từ giã, các phụ nữ liền đảnh lễ dưới chân Tỉ-kheo để tiễn biệt. Nếu khi ấy, Tỉ-kheo chú nguyện: “Mong cho cô nhanh chóng chấm dứt khổ đau”, thì phạm Ba-dạ-đề. Nhưng nếu nói: “Mong cho cô không đau ốm, được sống an lạc”, thì không có tội.

Tỉ-kheo rời khỏi nhà ấy liền đến nhà khác thuyết pháp, rồi người phụ nữ trước đó bèn đi theo, đứng ở bên ngoài nghe, thấy thế, Tỉ-kheo hỏi: “Cô cũng đi theo nghe sao?”. Cô ta đáp: “Vâng”. Nếu Tỉ-kheo nói: “Cô đã thâm tín, ưa thích pháp như vậy, thì có thể nghe”, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Trái lại, tuy thấy người phụ nữ ấy mà không hỏi chỉ lo thuyết pháp cho các phụ nữ khác, thì dù phụ nữ ấy nghe pháp Tỉ-kheo cũng không có tội.

Nếu Tỉ-kheo thuyết pháp cho phụ nữ trong khi không có tịnh nhân ngồi trong phòng nghe pháp, nhưng có người giúp việc đi qua lại, vào ra, hoặc có người ở bên ngoài, trên gác dưới gác nghe thấy được nhau, thì không có tội.

Nếu nhà của người thế tục hướng về mặt đường, Tỉ-kheo ở trong đó thuyết pháp cho phụ nữ, dù không có tịnh nhân, nhưng người đi trên đường không dứt, họ đều có thể nghe thấy được, thì cũng không có tội. Trái lại, nếu người đi trên đường gián đoạn, không nghe thấy được, thì không nên thuyết.

Nếu có phụ nữ đến lễ tháp, rồi tới bạch với Tỉ-kheo: “Thưa Tôn-giả, đây là tháp gì vậy? Xin nói cho tôi biết tên chỗ này”. Khi ấy, Tỉ-kheo được phép nói: “Đó là tháp chỗ (Phật) đãn sinh, tháp chỗ Phật đắc đạo, tháp chỗ Phật Chuyển pháp luân, tháp chỗ Phật Niết-bàn”, tùy họ hỏi việc gì, đều được phép trả lời, mà không có tội.

Có 4 loại tịnh nhân: Hoặc thấy mà không nghe, hoặc nghe mà không thấy, hoặc vừa thấy vừa nghe, hoặc chẳng thấy chẳng nghe.

Thấy mà không nghe: Mắt trông thấy Tỉ-kheo với phụ nữ mà không nghe tiếng nói. (cũng tương tự như vậy đối với 3 trường hợp kia). Trong trường hợp này (Tỉ-kheo) phạm tội Việt-tì-ni. Nghe mà không thấy cũng như vậy. Không thấy, không nghe thì phạm Ba-dạ-đề. Vừa thấy vừa nghe thì không có tội. Thế nên nói (như trên).