LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ PHẦN THỨ TÁM CỦA 92 PHÁP ĐƠN ĐỀ.

62. GIỚI: GÂY PHIỀN TOÁI TỈ-KHEO KHÁC.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ nói rọâng như trên. Bấy giờ nhóm sáu Tỉ kheo muốn cho nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ sinh nghi ngờ hối hận liền nói như sau: “Đức Thế Tôn chế giới người đủ hai mươi tuổi mới cho thọ giới Cụ túc, các ngươi chưa đủ hai mươi tuổi mà thọ Cụ túc như thế không thể gọi là Thọ Cụ túc”. Họ nghe nói thế liền khóc rống lên. Phật nghe tiếng khóc, biết mà vẫn hỏi (các Tỉ kheo):

—Đó là tiếng khóc của trẻ con nào thế?

—Bạch Thế Tôn, nhóm sáu Tỉ kheo vì muốn cho nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ sinh nghi ngờ hối hận nên nói như sau: “Đức Thế Tôn chế giới người đủ hai mươi tuổi mới cho thọ Cụ túc, các ngươi chưa đủ hai mươi tuổi mà thọ Cụ túc, thế là chẳng phải thọ Cụ túc”. Vì họ nghe nói thế nên mới khóc lóc.

—Đi gọi nhóm sáu Tỉ kheo đến.

Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi đầy đủ sự việc kể trên:

—Các ông có việc đó chăng?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Vì sao như thế?

—Chúng con đùa cho vui vậy mà.

—Này những kẻ ngu si! Đó là việc ác, làm não loạn người phạm hạnh mà bảo là đùa cho vui. Các ông chớ khinh thường bọn họ. Nếu họ nhập định thì họ có thể dùng sức thần túc xách các ông ném vào một thế giới khác cho xem. Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được. Từ nay về sau, Ta không cho phép làm cho Tỉ kheo khác nghi ngờ, hối hận.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

—Nếu Tỉ kheo cố ý làm cho Tỉ kheo khác nghi ngờ, hối hận, không vui trong giây lát, thì phạm Ba dạ đề.

Giải thích

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Cố ý: Trước hết tạo ra phương tiện.

Nghi ngờ hối hận: Gồm có bảy việc: 1. Sinh; 2. Yết ma; 3. Hình tướng; 4. Bệnh; 5. Tội; 6. Mạ lỵ; 7. Kiết sử.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

1. Sinh: Nói như sau: “Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới tuổi đủ hai mươi mới cho thọ giới Cụ túc, ông chưa đủ hai mươi mà thọ Cụ túc, như thế là không thành thọ Cụ túc”. Nói như thế là nhằm làm cho người kia sinh nghi, thì dù người ấy có nghi hay không nghi, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là sinh.

2. Yết ma: Nói như sau: “Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới một lần bạch ba lần yết ma, không có người ngăn cản yết ma (thì yết ma mới thành tựu); thế mà ông bạch không thành tựu, yết ma không thành tựu, chúng Tăng không thành tựu, tất cả đều không thành tựu; như vậy là chẳng phải thọ Cụ túc, không thể gọi là thọ Cụ túc”. Nói như vậy là nhằm làm cho người kia sinh nghi ngờ hối hận, thì dù người ấy có nghi ngờ hối hận hay không, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là Yết ma.

3. Hình tướng: Nói như sau: “Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới thân thể hoàn toàn, mới cho thọ Cụ túc; thế nhưng ông lưng cong, đi lệch đệch, mắt quáng gà, chân quẹo, đầu ngoẹo, răng khểnh, thân thể không đầy đủ mà thọ Cụ túc, như vậy không thể gọi là thọ Cụ túc”. Nói như vậy là nhằm làm cho người ấy nghi ngờ hối hận, thì dù người ấy có nghi ngờ hối hận hay không đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là hình tướng.

4. Bệnh: Nói như sau: “Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới người không bệnh mới cho thọ Cụ túc; thế nhưng ông bị bệnh ghẻ lở, hoàng đãng, ung thư, bệnh trĩ, bị các bệnh như thế mà thọ Cụ túc, thì không thể gọi là thọ Cụ túc”. Nói như thế là nhằm làm cho người ấy nghi ngờ hối hận, thì dù họ có nghi ngờ hối hận hay không, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là bệnh.

5. Tội: Nói như sau: “Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới người thanh tịnh mới cho thọ Cụ túc, thế nhưng ông phạm tội Ba la di, Tăng già bà thi sa, Ba dạ đề, Ba la đề đề xá ni, Việt tì ni mà thọ Cụ túc thì không thể gọi là thọ Cụ túc”. Nói như thế là nhằm làm cho người ấy nghi ngờ hối hận, thù dù họ có nghi ngờ hối hận hay không đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là tội.

6. Mạ lỵ: Nói như sau: “Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới người hoan hỉ mới cho thọ Cụ túc, thế nhưng, ông không hoan hỉ, giận dữ hay chửi mắng mà thọ Cụ túc, thì không thể gọi là thọ Cụ túc”. Khi nói như vậy là nhằm làm cho người ấy nghi ngờ hối hận, thì dù họ có nghi ngờ hối hận hay không, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là mạ lỵ.

7. Kiết sử: Nói như sau: “Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới người thông minh trí tuệ mới cho thọ Cụ túc, thế nhưng ông ngu si vô trí, giống như cục đất, như sừng dê, chim đỗ quyên, chim hồng hộc, mà thọ Cụ túc, thì không thể gọi là thọ Cụ túc”. Nói như thế là nhằm làm cho người ấy nghi ngờ hối hận, thì dù họ có nghi ngờ hối hận hay không, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là kiết sử.

Nếu có người đến muốn xin thọ Cụ túc mà đủ hai mươi tuổi, thì nên cho thọ Cụ túc. Nếu chưa đủ, thì nên nói: “Ông hãy đợi đủ hai mươi tuổi đã”. Nếu ông ta thọ Cụ túc một chỗ khác thì không nên nói khiến ông nghi ngờ hối hận, nếu nói thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu Tỉ kheo (thấy người khác) lúc thọ Cụ túc mà làm yết ma không thành tựu, thì nên đưa tay lên nói: “Trưởng lão, phép yết ma của thầy không thành tựu”. Nếu khi ấy không nói, thì sau đó không được nói để cho họ sinh nghi ngờ hối hận. Nếu nói: “Khi ông thọ Cụ túc, tác bạch không thành tựu, yết ma không thành tựu, Tăng không thành tựu”, thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu có người mắt quáng gà, lưng còng, chân đi khập khiễng, thân thể không hoàn toàn mà đến xin thọ Cụ túc, thì nên bảo: “Hãy đợi đã”. Nếu họ thọ Cụ túc từ chỗ khác rồi đến, thì không được nói khiến họ sinh nghi ngờ hối hận. Nếu nói thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu người bệnh đến xin thọ Cụ túc thì nên nói: “Hãy đợi đã”. Nếu họ đã thọ Cụ túc từ nơi khác rồi đến thì không được nói khiến cho họ nghi ngờ hối hận. Nếu nói thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu làm cho Tỉ kheo nghi ngờ hối hận, thì phạm Ba dạ đề.

(Nếu làm cho) Tỉ kheo ni (nghi ngờ hối hận) thì phạm Thâu lan giá.

(Nếu làm cho) Thức xoa ma ni, Sa di, Sa di ni (nghi ngờ hối hận), thì phạm tội Việt tì ni.

(Nếu làm cho) người thế tục (nghi ngờ hối hận), thì phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám hối.

Thế nên nói (như trên).