LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ PHẦN THỨ TÁM CỦA 92 PHÁP ĐƠN ĐỀ.

65. GIỚI: HÙ NHÁT TỈ-KHEO KHÁC.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, nhóm sáu Tỉ kheo từ trong thiền phòng đứng dậy đi đến một chỗ khuấát đứng núp, rồi vểnh tai, nhăn mặt, trợn mắt, le lưỡi, giả tiếng kêu âu âu nhát nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ. Nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ nghe thế kinh hãi cất tiếng khóc thét lên. Phật biết nhưng vẫn hỏi (các Tỉ kheo): “Đó là tiếng khóc của trẻ con nào thế?”. Các Tỉ kheo bèn đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo đi gọi nhóm sáu Tỉ kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

—Các ông có việc đó thật chăng?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

—Vì sao như vậy?

—Vì muốn đùa cho vui.

—Này những kẻ ngu si, đó là việc ác; làm não loạn bậc phạm hạnh mà bảo là đùa cho vui. Các ông chớ khinh thường bọn họ. Nếu họ nhập thiền định thì họ có thể dùng thần lực xách các ông ném vào một thế giới khác đấy. Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

—Nếu Tỉ kheo khủng bố Tỉ kheo khác thì phạm Ba dạ đề.

Giải thích

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Khủng bố: Nếu dùng sắc, thanh, hương, xúc (để khủng bố) thì phạm Ba dạ đề.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

1. Sắc: Nếu đứng núp tại chỗ tối, vểnh tai, nhăn mặt, trợn mắt, le lưỡi cho đến cong một ngón tay, kêu tiếng âu âu để hù nhát thì dù người kia có sợ hay không sợ, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là sắc (dùng tướng trạng)

2. Thanh: Nếu dùng các thứ tiếng như tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng lừa, hoặc kêu một hơi dài, hoặc chợt kêu, chợt nín, cho đến kêu tiếng vo ve để hù nhát, thì dù người kia có sợ hay không sợ đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là thanh (dùng tiếng kêu).

3. Hương: Nếu nói: “Trưởng lão, trong đó có hơi của rắn, hơi của Phú đơn na, hơi của bò cạp”, dùng các hình thức như vậy nói để hù nhát người kia, thì dù người ấy có sợ hay không sợ đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là hương (hơi).

4. Xúc: Gồm có các thứ: nóng, lạnh, nhẹ, nặng, trơn, nhám.

—Nóng: Nếu dùng lửa hoặc ánh nắng mặt trời hơ nóng y, bát, tô, ổ khóa rồi đem áp vào thân người kia, nói như sau: “Trưởng lão, lửa cháy, lửa cháy”, làm như vậy khiến cho người kia sợ, thì dù họ có sợ hay không, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là nóng.

—Lạnh: Nếu dùng quạt, dùng y mà quạt, hoặc rưới nước, rồi nói: “Trưởng lão, mưa tuyết, mưa tuyết”, làm như vậy để hù nhát người kia, thì dù người ấy có sợ hay không, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là lạnh.

—Nặng: Nếu dùng gốc cây nặng hoặc cán cờ đè lên người kia rồi nói như sau: “Trưởng lão, tường ngã, tường ngã”; làm như vậy để khủng bố người kia, thì dù họ có sợ hay không, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là nặng.

—Nhẹ: Nếu dùng những cái y mỏng nhẹ trùm lên người kia, nói như sau: “Trưởng lão, mây rơi, mây rơi”; làm như vậy để khủng bố người kia, thì dù họ có sợ hay không đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là nhẹ.

—Trơn: Nếu dùng cộng hoa súng, cộng hoa Câu mâu đầu, cộng hoa tu kiền đề, hoặc cái then cửa chạm vào thân người kia, rồi nói như sau: “Trưởng lão, con rắn, con rắn”, để khủng bố người ấy, thì dù họ có sợ hay không, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là trơn.

—Nhám: Nếu dùng cộng hoa ưu đầu ma, cộng hoa phân đà lợi chạm vào thân người kia, rồi nói như sau: “Trưởng lão, đây là con rít”, nhằm khủng bố người ấy, thì dù họ có sợ hay không, đều phạm Ba dạ đề. Đó gọi là nhám.

Nếu khủng bố Tỉ kheo thì phạm Ba dạ đề; khủng bố Tỉ kheo ni thì phạm Thâu lan giá; khủng bố Thức xoa ma ni, Sa di, Sa di ni thì phạm tội Việt tì ni. Sau cùng, nếu khủng bố người thế tục thì phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói (như trên).