LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ PHẦN THỨ BA CỦA PHÁP ĐƠN ĐỀ

8. GIỚI: NÓI TỘI NẶNG CỦA TỲ-KHEO KHÁC.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có một cư sĩ mời các Tỷ Kheo quen biết đến nhà. Trong số đó có một Trưỡng Lão Tỷ Kheo đang thi hành pháp Ma-Na-Đỏa nên ngồi ở hàng dưới. Ưu bà di đàn việt thấy thế, liền hỏi: “Tôn giả trước kia ngồi ở trên, nay vì sao lại ngồi ở chỗ này?”.

Thầy đáp: “Gặp đâu thì ngồi đó mà, cần chi phải hỏi?”.

Ưu bà di nói: “Con biết chỗ ngồi của tôn giả đúng ra tại chỗ này, con cũng biết chỗ ngồi của các tôn giả khác”.

Khi ấy Nan Đà nói với Ưu bà di: “Vì sao bà lại bảo thầy của bà lên ngồi ở chỗ trên? Vì thầy của bà vẫn chưa bỏ tính bông đùa của thời niên thiếu đó mà”.

Ưu bà di nghe thế, lòng không vui, liền suy nghĩ: “Vì thầy ta đang phạm các tội nhỏ nên phải ngồi ở chỗ dưới này”, liền ném giỏ cơm xuống đất rồi bỏ đi nói: “Tôn giả hãy tự lấy thức ăn ở trong đó mà ăn”. Nói thế rồi, bà liền vào trong phòng đóng lại một cánh cửa, rồi đọc kệ:

“Xuất gia đã lâu ngày
Tu tập nếp phạm hạnh
Tính trẻ con không bỏ
Làm sao nhận bố thí?”.

Các Tỷ Kheo liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Nan Đà đến.

Khi thầy đến rồi, Phật hỏi: “Ông có thật như vậy không?”.

Thầy đáp: “Có thật như vậy, bạch Thế Tôn”.

Phật liền quở trách Nan Đà: “Đó là việc xấu. Người tu phạm hạnh có lúc phóng dật, sau đó sẽ sống như pháp, vì sao nói với người chưa thọ giới cụ túc về tội lỗi của người ấy?

Từ nay trở đi ta không cho phép (các tỷ kheo) nói với người chưa thọ giới cụ túc về thô tội của người khác”.

Lại nữa khi Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có Tỷ Kheo khất thực, đến giờ thầy bèn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, đến một nhà kia, lúc ấy nghe người đàn ông nói với người nữ: “Ngươi bố thí thức ăn cho người xuất gia”.

Người phụ nữ hỏi: “Xuất gia theo đạo nào?”.

Đáp: “Xuất gia theo dòng họ thích”.

—Tôi không cho thức ăn.

—Vì sao không cho?

—Đó là người phá phạm hạnh, nên tôi không cho.

Tỷ kheo liền nói với người phụ nữ ấy: “Này bà chị, tôi là người phạm hạnh”

Người phụ nữ nói: “Tôn giả Ca Lô là hàng đại danh đức mà còn không thể tu phạm hạnh, nay vì sao ông lại tự nói mình là ngưòi phạm hạnh?”.

Tỷ kheo nghe lời nói ác ấy, cảm thấy sầu não trong lòng, nên không khất thực mà trở về lại tịnh xá, tuyệt thực một ngày. Vì tuyệt thực nên thân thể rũ rượi, thầy bèn đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi đứng hầu một bên. Phật biết mà vẫn hỏi: “Nay ông vì sao mà thân thể rũ rượi như vậy?”.

Thầy liền đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật nói: “Này tỷ kheo, vì sao ông không nói với họ rằng: giả sử Tỷ kheo Ca Lô chẳng phải là người phạm hạnh, thì có phương hại gì đến việc tu phạm hạnh của tôi?”.

Thầy đáp: “Bạch Thế Tôn, con có thể nói với bà ấy, nhưng vì Thế Tôn chế giới không cho phép nói với người chưa thọ giới cụ túc về thô tội của người khác, cho nên con không nói”.

Phật nói: “Lành thay! lành thay! Này thiện nam tử! Ông không vì mạng sống mà vi phạm lời dạy dỗ của Phật”.

Thế rồi, Phật nói với các Tỷ Kheo: “Những người tại gia, xuất gia đều biết Tỷ kheo Ca Lô ấy phi phạm hạnh, vậy tăng nên trao cho ông ta phép yết ma phi phạm hạnh. Người làm yết ma nên nói như sau:

“Xin đại đức tăng lắng nghe! Những người tại gia, xuất gia đều biết Tỷ kheo Ca Lô ấy phi phạm hạnh, nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng cho phép nói về phi phạm của Tỷ kheo Ca Lô”. Bạch như vậy, rồi bạch ba lần yết ma.

Sau đó Phật hỏi các Tỷ kheo: “Đã làm pháp yết ma cho phép nói về việc phi phạm hạnh của Tỷ kheo Ca—Lô chưa?”.

Các Tỷ kheo đáp: “Đã làm rồi”.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo sống tại Thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỷ Kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỷ Kheo biết Tỷ Kheo khác phạm thô tội mà đem nói với người chưa thọ giới cụ túc—trừ Tăng yết ma cho phép—thì phạm Ba dạ đề”.

Giải thích

Thô tội: Như bốn tội (Ba la di), mười ba tội (Tăng Tàn).

Chưa thọ giới cụ túc: Trừ Tỷ kheo, Tỷ kheo ni. Nhưng Tỷ kheo ni dù đã thọ giới cụ túc cũng không được nói với họ.

Nói: Nói cho người ở trước mặt mình biết; ngoại trừ trường hợp Tăng yết ma cho phép

Yết ma: Nếu tác bạch không hợp lệ, chúng Tăng không hợp lệ, thể thức yết ma không hợp lệ, thì cũng không được gọi là yết ma. Trái lại, tác bạch hợp lệ, chúng Tăng hợp lệ, thể thức yết ma hợp lệ,thì được gọi là yết ma. Đức Thế Tôn bảo yết ma đó không có tội.

Nếu Tỷ kheo biết người khác phạm thô tội, mà Tăng chưa làm yết ma cho phép, thì không được nói thô tội của người ấy. Nếu có ai hỏi: “Tỷ kheo mỗ giáp phạm giới dâm, giới uống rượu phải không?”. Thì nên đáp: “Thầy ấy sẽ tự biết”.

Nếu Tăng đã làm yết ma rồi, cũng không được đem rêu rao với xóm làng. Nếu có ai hỏi: “Tỷ kheo ấy phạm giới dâm,giới uống rượu phải không?”, thì Tỷ kheo (được hỏi) nên hỏi lại người ấy: “Ngươi nghe ở đâu?”.

Nếu họ đáp: “Tôi nghe tại nơi đó”, thì Tỷ kheo nên trả lời: “Tôi cũng nghe tại nơi đó”.

Nếu Tỷ kheo nói với người chưa thọ giới cụ túc về việc Tỷ kheo khác phạm bốn Ba la di, mười ba Tăng Tàn, thì phạm Ba dạ đề. Nếu nói về ba mươi pháp Ni Tát Kì, chín mươi hai pháp Ba dạ đề, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu nói về bốn Ba la đề đề xá ni, chúng học, oai nghi, thì phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám hối. Nếu nói về tám Ba la di, mười chín Tăng Tàn của Tỷ kheo ni, thì phạm tội thâu lan (giá). Nếu nói về ba mươi pháp Ni Tát kì, một trăm bốn mươi mốt Ba dạ đề, Tám ba la đề đề xá ni, chúng học, oai nghi (của Tỷ kheo ni) thì phạm tội việt tỳ ni tâm niệm sám hối.

Nếu nói về mười giới của Sa Di, sa di ni, thì phạm Việt tỳ ni. Sau cùng cho đến nói về năm giới của người thế tục, thì phạm tội Việt tỳ ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói (như trên).