LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI BA-DẠ-ĐỀ

NÓI RÕ PHẦN THỨ CHÍN CỦA 92 PHÁP ĐƠN ĐỀ.

80. GIỚI: VÀO LÀNG MÀ KHÔNG BÁO NGƯỜI KHÁC.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, các Tỉ kheo ở nơi hoang vắng (a luyện nhã) phi thời đi vào xóm làng, bị người đời chê trách rằng: “Vì sao Sa môn Thích tử ở nơi hoang vắng mà đi vào xóm làng lúc phi thời, muốn tìm thứ gì vậy?”.

Các Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, Phật liền bảo gọi Tỉ kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật bèn hỏi lại sự việc kể trên:

—Ông có làm việc đó thật không?

—Có thật như vậy bạch Thế Tôn.

—Vì sao ông ở nơi hoang vắng mà lại đi vào xóm làng lúc phi thời, đến nỗi bị người đời chê trách? Từ nay về sau, Ta không cho phép Tỉ kheo ở nơi hoang vắng đi vào xóm làng lúc phi thời mà không thưa với Tỉ kheo khác.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, có hai Tỉ kheo sống tại nơi hoang vắng. Một Tỉ kheo đang tô phòng thì bị rắn cắn, liền nói với bạn: “Trưởng lão, tôi bị rắn cắn”.

Người ấy đáp: “Đợi tôi mặc y Tăng già lê rồi sẽ đi đến gọi y sĩ Kỳ vực”. Nhưng trong lúc thầy lấy y thì người kia bị tắt tiếng, và khi lấy y xong thầy thưa: “Thưa Trưởng lão, tôi đi vào xóm làng lúc phi thời đây”.

Lúc ấy, vị Tỉ kheo kia không thể đáp được, thầy phải thưa đến ba lần rằng: “Thưa Trưởng lão, tôi vào xóm làng lúc phi thời”. Thế nhưng, người kia vẫn không nói được. Thầy bèn suy nghĩ: “Đức Thế Tôn chế giới không cho phép Tỉ kheo ở nơi hoang vắng đi vào xóm làng lúc phi thời mà không thưa với Tỉ kheo khác. Ta đành phải chờ xem hạnh nghiệp của Thầy ấy như thế nào thôi”. Thế là vị Tỉ kheo kia liền mệnh chung. Các Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi vị Tỉ kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi rõ sự tình vừa rồi:

—Ông có xử sự như vậy thật không?

—Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

Phật liền nói với các Tỉ kheo: “Ông ấy nếu dùng từ tâm gọi tên bốn đại Long vương thì không đến nỗi phải chết. Bốn đại Long vương đó là: Trì Quốc Long Vương,Y La Quốc Long Vương, Thiện tử Long Vương và Hắc Bạch Long vương. Nên nói rằng: “Ta có lòng từ đối với chúng sanh không có chân. Ta có lòng từ đối với chúng sanh hai chân. Ta có lòng từ đối với chúng sanh bốn chân. Ta có lòng từ đối với chúng sanh nhiều chân. Chớ có làm hại những chúng sanh hai chân của ta. Chớ có làm hại những chúng sanh bốn chân của Ta. Chớ có làm hại những chúng sanh nhiều chân của Ta. Chớ có làm hại các chúng sanh của Ta. Mong được sự vô lậu, dùng thiện tâm của các bậc hiền thánh mà nhìn nhau, chớ có sinh ra ác ý”. Giá như vị Tỉ kheo kia gọi tên của bốn đại Long vương thì đã không bị chết. Từ nay về sau, Ta cho phép lúc gấp rút (không cần theo qui định)”.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỉ kheo sống tại a luyện nhã, đi vào xóm làng lúc phi thời, không bạch với Tỉ kheo khác—ngoại trừ trường hợp dặc biệt—thì phạm tội Ba dạ đề.”

Giải thích

Sống tại a luyện nhã: Tại những nơi cách xa thành ấp xóm làng năm trăm cung, mỗi cung dài năm khủyu tay, không có dân chúng cư trú, thì gọi là a huyện nhã.

Phi thời: Sau khi ăn xong, dù thời gian còn sớm cũng vẫn là phi thời.

Xóm làng: Thôn xóm có bờ tường ngăn cách nhau hoặc là ở lẫn lộn (không cáh biệt nhau).

Bạch: Nếu bạch xin rời nhà ăn, thì không gọi là bạch. Hoặc bạch xin đến tịnh xá của Ni để giáo giới, thì không gọi là bạch. Hoặc bạch xin rời khỏi nơi thuyết pháp, thì không gọi là bạch. Cần phải bạch như sau: “Thưa Trưởng lão, tôi vào thôn xóm lúc phi thời”. Người kia nên đáp: “Vâng”.

Tỉ kheo: Chỉ cho những Tỉ kheo có mặt trong cường giới, chứ không phải là những đồ chúng đang hiện diện.

Ngoại trừ trường hợp đặc biệt: Nếu Tỉ kheo bị các chứng bệnh hoặc bị rắn cắn cần phải đi gọi thầy thuốc, thì Thế Tôn bảo là không có tội (khi ra đi không bạch).

Nếu hai Tỉ kheo sống tại a luyện nhã, muốn cùng đi, thì phải bạch lẫn nhau, rồi mới đi. Nếu một người đi trước, thì người sau khi muốn đi phải bạch với Tỉ kheo khác; nếu không có Tỉ kheo khác, thì nên thầm nghĩ: “Khi đến giữa đường, ra khỏi cửa, đến xóm làng, hay tại tinh xá của Ni, mà gặp Tỉ kheo thì ta sẽ bạch. Bạch xong, ta sẽ vào xóm làng lúc phi thời.”

Nếu Tỉ kheo đang đi trên đường từ xóm làng này sang xóm làng khác mà thấy ở ven đường có tháp hoặc chỗ thờ chư thiên, thì phải thuận đường đi thẳng qua: Nếu con đường ở dưới tháp miếu ấy xoay về bên trái mà mình đi vòng theo chiều bên phải thì phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu có hỏa hoạn, ác thú đến hay bị người rượt đuổi, thì đi qua không có tội.

Nếu Tỉ kheo đi đường xa, gặp trời tối, muốn vào xóm làng ngủ nghỉ thì không được mang vác túi xách cồng kềnh đi vào. Nếu bên ngoài làng có nước thì nên dừng nghỉ ở trong rừng, trước hết sai hai Tỉ kheo tắm rửa sạch sẽ, khoác y Tăng già lê, buộc lại chặc chẽ, bạch lẫn nhau, rồi khiến họ vào thôn xóm xin chỗ ngủ tạm. Nếu xin được chỗ ngủ thì phải xin đàn việt cung cấp những thứ cần thiết, rồi trở ra khỏi xóm làng, nói với các Tỉ kheo rằng: “Đã xin được chỗ ngủ”.

Bấy giờ, các Tỉ kheo nên rửa tay chân sạch sẽ, nếu cần uống thức uống phi thời thì nên uống ngay khi ấy, đừng để vào xóm làng mới uống mà bị người ta chê trách là Sa môn ăn đêm. Đoạn, phân công mang vác các túi xách, mặc y tăng già lê, buộc lại chặc chẽ, cầm tích trượng, mang giày dép, bạch hỏi nhau rồi mới vào xóm làng. Khi đã đến chỗ dừng nghỉ, mà muốn đi ra khỏi xóm làng lấy củi, cỏ, nước, thì nên theo con đường cũ mà ra, không có tội. Nếu muốn đi con đường khác thì phải bạch, nếu không bạch mà đi, thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu muốn đi tìm dầu xoa chân, nước uống phi thời, đi khuyến hóa thức ăn sáng hôm sau, thì phải bạch rồi mới đi. Nếu không bạch mà đi thì phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu trong xóm làng có tăng già lam, trên đường có nhà cửa liên tiếp nhau, thì đi (mà không bạch) không có tội. Nếu đi con đường khác thì phải bạch, nếu không bạch mà đi thì phạm tội Ba dạ đề. Thế nên nói:

“Chưa đủ, đi với cướp,
Đào đất, bốn tháng mời.
Chưa học và uống rượu.
Khinh người, đứng rình nghe.
Bỏ đi, phi thời vào.
Bạt cừ thứ tám xong”.