LUẬT MA HA TĂNG KỲ

GIỚI TĂNG TÀN

NÓI RÕ PHẦN CÒN LẠI CỦA GIỚI TĂNG TÀN

11. GIỚI: ĐỒNG LÕA VỚI NGƯỜI PHÁ TĂNG

Khi Phật an trú tại thành Vương xá nói rộng như trên. Bấy giờ, các Tỉ-kheo tác pháp Yết ma cử tội Đề Bà Đạt Đa. Lần Yết ma đầu tiên xong, không có ai ngăn cản, đến lần Yết ma thứ hai chấm dứt, cũng không có ai ngăn cản. Nhưng đến lần Yết ma thứ ba, thì Đề Bà Đạt Đa nhìn vào mặt nhóm sáu Tỉ-kheo, nói như sau: “Này nhóm sáu Tỉ-kheo! Các ông từ lâu phụng sự ta, cùng cộng tác với ta, nay chúng Tăng làm Yết ma vạch tội ta đến lần thứ hai mà sao các ông vẫn im lặng? Ngày nay, các ông đem ta bỏ vào giữa đám đông giống như dùng sữa chua phết lên bún, rồi đem cho quạ, hoặc như dùng váng sữa bôi lên bánh, rồi đem cho Na Câu La, hoặc như dùng dầu trộn với cơm, rồi đem cho dã can. Người tu phạm hạnh trông thấy kẻ khác bị khốn đốn mà lại ngồi xem sao?”Lập tức nhóm sáu Tỉ-kheo liền đứng dậy nói với (người làm Yết ma): “Như vậy, như vậy đó trưởng lão. Vị Tỉ-kheo ấy nói đúng như pháp, nói đúng như luật. Điều gì Tỉ-kheo ấy nói thì chúng tôi đều chấp nhận cả, những ý kiến của Tỉ-kheo ấy chúng tôi cũng đều công nhận. Vị Tỉ-kheo ấy biết mới nói, chứ không phải không biết mà nói”. Vì lúc ấy có nhiều người ngăn cản, nên Yết ma không thành. Thế rồi, các Tỉ-kheo bèn nói với nhóm Tỉ-kheo sáu người: “Các trưởng lão chớ trợ giúp Đề Bà Đạt Đa phá sự hòa hợp của Tăng, cùng a dua, cùng đồng ý, mà nên cộng tác với Tăng. Vì tất cả Tăng cần phải hòa hợp, hoan hỉ, không tranh cãi, cùng học một giới pháp, như nước hòa với sữa, điều gì như pháp thì nói là như pháp một cách rõ ràng, để được sống an lạc”. Khuyên can lần thứ nhất như vậy mà không từ bỏ; họ bèn khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba, vẫn ngoan cố không từ bỏ. Thế nên, các Tỉ-kheo bèn đem nhân duyên ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo: “Nhóm sáu Tỉ-kheo này cùng với Đề Bà Đạt Đa ngu si muốn phá hoại sự hòa hợp của Tăng, nên a dua, đồng ý với nhau, Tăng đã một lần, hai lần, ba lần khuyên can vẫn không từ bỏ. Vậy các ông hãy đi tới chỗ vắng khuyên can ba lần, rồi tới giữa chỗ đông người khuyên can ba lần; sau cùng đến giữa Tăng chúng khuyên can ba lần, khiến cho bỏ việc ấy”. Tỉ-kheo lãnh giáo liền đi tới chỗ vắng hỏi nhóm sáu Tỉ-kheo: “Có thật chăng các ông cùng với Đề Bà Đạt Đa ngu si phá sự hòa hợp của Tăng, cùng a dua, cùng đồng ý kết làm bè đảng, rồi các Tỉ-kheo đã ba lần khuyên can vẫn ngoan cố không từ bỏ?”…

Họ đáp: “Đúng như vậy”.

Các Tỉ-kheo liền khuyên can: “Này nhóm sáu Tỉ-kheo, chớ cấu kết với Đề Bà Đạt Đa để phá sự hòa hợp của chúng Tăng, rồi cùng a dua, cùng đồng ý. Các ông phải hợp tác với chúng Tăng. Vì tất cả chúng Tăng cần phải hòa hợp, hoan hỉ, không tranh cãi, cùng học một giới pháp, như nước hòa với sữa, điều gì như pháp thì nói là như pháp một cách rõ ràng, có vậy mới sống an lạc được. Các trưởng lão, phá sự hòa hợp của Tăng là tội ác rất lớn, sẽ đoạ vào ác đạo, rơi xuống địa ngục, chịu đua khổ lâu dài. Nay tôi vì từ tâm khuyên các ông, muốn cho các ông được lợi ích. Vậy phải nghe lời tôi. Một lần khuyên đã xong, còn hai lần khuyên nữa, các ông phải bỏ việc ấy đi”. Nếu họ không bỏ, thì lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế. Rồi lại khuyên can ở giữa đông người ba lần, cũng như vậy. Nếu vẫn không từ bỏ, thì phải đến giữa Tăng làm pháp Yết ma cầu thính như sau:

“Xin đại đức Tăng lắng nghe! Nhóm sáu Tỉ-kheo này cùng với Đề Bà Đạt Đa phá sự hòa hợp của Tăng, cùng a dua, cùng đồng ý với nhau, đã được khuyên can ba lần ở chỗ vắng, khuyên can ba lần ở chỗ đông người, vẫn ngoan cố không bỏ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, thì nên khuyên can ba lần ở giữa Tăng, khiến cho bỏ việc ấy”.

Thế rồi, thầy Yết ma hỏi nhóm sáu Tỉ-kheo: “Có thật chăng các ông cùng với Đề Bà Đạt Đa phá sự hòa hợp của Tăng, cùng a dua, cùng đồng ý và đã được khuyên can ba lần ở chỗ vắng, được khuyên can ba lần ở chỗ đông người mà vẫn ngoan cố không bỏ?”.

Họ đáp: “Đúng như vậy”. Các Tỉ-kheo liền khuyên can: “Này nhóm sáu Tỉ-kheo! Các ông chớ cấu kết với Đề Bà Đạt Đa để phá sự hòa hợp của Tăng, rồi cùng a dua, cùng đồng ý. Vì phá sự hòa hợp của Tăng là tội ác rất lớn, sẽ đọa vào ác đạo, rơi xuống địa ngục, chịu đau khổ lâu dài. Nay Tăng có lòng từ khuyên can các ông là vì muốn cho các ông được lợi ích. Vậy hãy vâng lời chúng Tăng. Một lần khuyên can đã xong còn hai lần nữa, các ông hãy bỏ việc ấy”. Nếu như không chấm dứt, thì lần thứ hai, thứ ba cũng khuyên can như vậy. Thế nhưng họ vẫn ngoan cố không bỏ.

Các Tỉ-kheo liền đem việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm sáu Tỉ-kheo đến, họ bèn đi gọi đến.

Bấy giờ, Phật liền hỏi nhóm sáu Tỉ-kheo: “Có thật các ông cùng với Đề Bà Đạt Đa ngu si cùng a dua, cùng đồng ý phá sự hòa hợp của Tăng, rồi các Tỉ-kheo đã khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ đông người ba lần, khuyên can giữa chúng Tăng ba lần mà vẫn không bỏ phải không?”.

Đáp: “Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!”

Phật bèn khiển trách: “Này các Tỉ-kheo! Đó là việc ác, các ông không thường nghe Ta dùng nhiều nhân duyên để chê trách tính ương ngạnh, khó khuyên bảo và dùng nhiều nhân duyên để khen ngợi tính nhu nhuyến dễ khuyên bảo hay sao? Các ông vì sao lại ương ngạnh khó khuyên bảo? Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy; không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được”.

Các Tỉ-kheo liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Vì sao nhóm sáu Tỉ-kheo cùng cấu kết với Đề Bà Đạt Đa cùng a dua, cùng đồng ý, để phải chịu đau khổ một cách oan uổng?”.

Phật nói với các Tỉ-kheo: “Nhóm sáu Tỉ-kheo này không những ngày nay cùng a dua, cùng đồng ý để phải chịu đau khổ oan uổng mà trong đời quá khứ cũng đã từng như vậy”.

Các Tỉ-kheo bèn hỏi Phật: “Đã từng có như vậy sao? Xin Thế Tôn hãy nói về việc ấy”.

Phật bảo với các Tỉ-kheo: “Trong thời quá khứ tại thành Ba la nại, nước Già Thi có năm trăm con khỉ đột sinh sống trong rừng tại một nơi hoang vắng, rồi chúng du hành đến một cây Ni câu luật. Dưới cây này có một cái giếng. Trong giếng có bóng trăng hiện ra. Con khỉ đột chúa khi thấy bóng trăng ấy, liền nói với đồng bọn: “Mặt trăng hôm nay đã chết và rơi vào trong giếng, chúng ta phải cùng nhau vớt lên, chớ để thế gian sống mãi trong tăm tối”.

Thế rồi chúng cùng nhau bàn bạc: “Vớt lên bằng cách nào đây?”.

Đoạn, khỉ đột chúa nói: “Ta biết cách đem lên. Ta nắm cành cây, các ngươi nắm đuôi ta, nối kết vào nhau, thì có thể vớt lên được”.

Thế rồi, các khỉ đột liền làm theo lời khỉ chúa, lần lượt nắm vào nhau, nhưng chưa tới nước mà vì một chùm khỉ quá nặng còn cành cây thì yếu ớt nên bị gãy tiện. Thế là, cả chùm khỉ đột đều rơi tõm vào trong giếng nước. Bấy giờ, thần cây liền đọc kệ:

“Một bầy thú lẩn thẩn
Ngu si nắm đuôi nhau
Tự mình gây khổ não
Làm sao cứu thế gian?”.

Bấy giờ, Phật liền nói với các Tỉ-kheo:”Con khỉ đột chúa thuở ấy, nay là Đề Bà Đạt Đa, còn bầy khỉ đột lúc bấy giờ, nay là nhóm sáu Tỉ-kheo này. Ngày xưa đã từng tùy thuận nhau mà chuốc lấy khổ não, rồi ngày nay cũng lại như thế”.

Đoạn, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo sống tại thành Vương xá phải tập họp lại tất cả, rồi vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

“Nếu Tỉ-kheo đồng ý tương trợ nhau, hoặc một, hoặc hai, hoặc nhiều người cùng nói, cùng ý kiến, muốn phá sự hòa hợp của Tăng; khi các Tỉ-kheo khuyên can Tỉ-kheo ấy, thì Tỉ-kheo đồng bọn nói: “Các trưởng lão chớ nói về việc tốt xấu của Tỉ-kheo ấy, tại vì sao? Vì Tỉ-kheo ấy nói đúng pháp, nói đúng luật. Những lời nói của Tỉ-kheo ấy chúng tôi đều chấp nhận, những ý kiến và việc làm của Tỉ-kheo ấy chúng tôi đều chấp nhận. Tỉ-kheo ấy biết mới nói, chứ không phải không biết mà nói”.

Các Tỉ-kheo phải khuyên can Tỉ-kheo đồng tình này như sau: “Các trưởng lão chớ nên nói rằng: Tỉ-kheo ấy nói đúng pháp, nói đúng luật. Tại vì sao? Vì đó là Tỉ-kheo nói phi pháp, nói phi luật. Các trưởng lão chớ nên trợ giúp việc phá Tăng, mà nên vui vẻ tán trợ sự hòa hợp của Tăng. Tại vì sao? Vì Tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, cùng học một giới, như nước hòa với sữa, điều gì đúng pháp thì nói là đúng pháp một cách rõ ràng thì mới sống an lạc. Các trưởng lão nên bỏ việc phá Tăng ấy đi”.

Nếu Tỉ-kheo đồng bọn khi được các Tỉ-kheo khuyên can mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỉ-kheo nên khuyên can lần thứ hai, thứ ba để ông ta bỏ việc ấy. Nếu khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba mà bỏ việc ấy thì tốt, nếu không bỏ thì phạm tội Tăng Già Bà Thi Sa”.

Giải thích

—Tỉ-kheo: Ở đây chỉ cho Đề Bà Đạt Đa.

—Tỉ-kheo cùng nói, cùng ý kiến: Chỉ cho nhóm sáu Tỉ-kheo.

—Hoặc một, hoặc hai, hoặc nhiều người cùng nói, cùng ý kiến: Hoặc có khi cùng nói mà không cùng ý kiến, hoặc có khi cùng một ý kiến mà không cùng nói; hoặc có khi cùng nói cũng cùng ý kiến; hoặc có khi không cùng nói cũng không cùng một ý kiến.

—Cùng nói mà không cùng ý kiến: Dùng lời nói để trợ giúp nhau, nhưng không đồng ý kiến với người ấy; đó gọi là cùng nói mà không cùng một ý kiến.

—Cùng ý kiến mà không cùng nói: Cùng chung ý kiến với người ấy mà không nói giúp vào. Đó gọi là cùng một ý kiến mà không cùng nói.

—Cùng nói và cùng ý kiến: Hỗ trợ lời nói của người ấy, đồng thời cùng ý kiến với họ. Đó gọi là cùng nói cùng ý kiến.

—Chẳng cùng nói cũng chẳng cùng ý kiến: Không tán trợ lời nói của người ấy, cũng không cùng ý kiến. Đó gọi là chẳng cùng nói cũng chẳng cùng ý kiến.

Trong những trường hợp trên: Cùng nói chẳng cùng ý kiến và cùng nói cùng ý kiến, thì đáng khiển trách.

—Cùng nói và cùng chung ý kiến: Đối với mười hai pháp (mười hai đoạn của bài tựa giới kinh), Phật không chế mà chế ra, Phật đã chế mà khai ra, đó gọi là cùng nói và cùng ý kiến. Lại nữa, đối với năm chúng tội, Phật không chế mà chế, Phật đã chế bèn khai ra; đối với bốn chúng, ba chúng, hai chúng và một chúng tội cũng thế, nghĩa là Phật không chế mà chế ra, Phật đã chế liền khai mở. Lại nữa, đối với sáu pháp “Tác xả”, Phật không chế mà chế ra, Phật đã chế bèn khai mở. Đó gọi là cùng nói cùng ý kiến. Trong trường hợp này, các Tỉ-kheo nên khuyên can thầy Tỉ-kheo ấy rằng: “Trưởng lão đừng tham dự vào việc phá sự hòa hợp của Tăng, rồi tìm đủ mọi cách để cùng nói và cùng đồng ý”.

—Trong khi các Tỉ-kheo khuyên can mà các Tỉ-kheo ấy vẫn kiên trì cố chấp vào việc đó: Đó là nhóm sáu Tỉ-kheo.

—Các Tỉ-kheo: Hoặc là Tăng, hoặc là nhiều người, hoặc là một người vậy.

—Khuyên can ba lần: Khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở giữa nhiều người ba lần và khuyên can giữa chúng Tăng ba lần.

—Khuyên can ở chỗ vắng: Chẳng hạn nói: “Các trưởng lão có thật tham dự vào việc phá sự hòa hợp của Tăng, tạo phương tiện, cùng nói cùng chung ý kiến với người đó chăng?”

Đáp: “Có thật như vậy!”

Lại nói: “Trưởng lão! Ông chớ có tham dự vào việc phá sự hòa hợp của Tăng, rồi tạo phương tiện cùng nói, cùng chung ý kiến với người đó. Vì phá Tăng là việc ác rất lớn, sẽ rơi vào đường ác, chịu đau khổ lâu dài. Tôi nay vì từ tâm khuyên can ông. Vậy ông nên bỏ việc đó đi. Lần khuyên can thứ nhất đã hết, còn hai lần khuyên can nữa”. Nếu bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như thế. Khi khuyên can ở giữa nhiều người cũng như vậy. Rồi đến giữa Tăng ba lần Yết ma khuyên can mà vẫn không đình chỉ, thì phạm tội Tăng Già Bà Thi Sa.

­. Tăng Già Bà Thi Sa: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo ấy được khuyên can ở chỗ vắng một lần mà không chấm dứt thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Lần thứ hai, thứ ba cũng như vậy. Được khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần cũng như vậy. Nhưng nếu ở giữa Tăng làm Yết ma khuyên lần đầu chưa xong mà không chấm dứt, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nhưng nếu nói xong (lần đầu) thì phạm tội Thâu Lan Giá. Lần Yết ma thứ hai chưa xong mà không chấm dứt, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu nói xong, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Lần Yết ma thứ ba chưa xong mà không chấm dứt, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu nói xong, thì phạm tội Tăng Già Bà Thi Sa.

Tội Tăng Già Bà Thi Sa phát khởi từ khi khuyên can ba lần ở chỗ vắng (phạm tội Việt Tỳ Ni) ba lần ở giữa nhiều người (cũng phạm tội Việt Tỳ Ni) và ở giữa chúng Tăng phạm tội Thâu Lan Giá. Tất cả các tội ấy gộp lại thành một tội Tăng Già Bà Thi Sa. Nếu giữa chừng mà đình chỉ, thì tùy theo đình chỉ ở chỗ nào mà theo đó trị tội. Do đó đức Thế Tôn nói:

“Nếu Tỉ-kheo đồng tình hỗ trợ nhau, hoặc một, hoặc hai, hoặc nhiều người cùng nói, cùng ý kiến, rồi được Tăng khuyên can ba lần vẫn không bỏ, thì phạm tội Tăng Già Bà Thi Sa”.

Hết giới Tăng tàn thứ 11