TẠNG LUẬT

TẬP YẾU

ĐẠI PHÂN TÍCH

10. PHẦN BAO NHIÊU TỘI:

1. CHƯƠNG PĀRĀJIKA:

Do duyên của sự thực hiện việc đôi lứa vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của sự thực hiện việc đôi lứa vi phạm bốn tội: Vị thực hiện việc đôi lứa nơi thi thể chưa bị (thú) ăn phạm tội pārājika; vị thực hiện việc đôi lứa nơi thi thể đã bị (thú) ăn nhiều phần phạm tội thullaccaya; vị đưa dương vật vào miệng đã được mở ra nhưng không bị va chạm phạm tội dukkaṭa; trong (trường hợp) gậy ngắn bằng nhựa cây phạm tội pācittiya. Do duyên của sự thực hiện việc đôi lứa vi phạm bốn tội này.

Do duyên của việc lấy vật chưa được cho vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc lấy vật chưa được cho vi phạm ba tội: Vị lấy theo lối trộm cắp vật chưa được cho trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka phạm tội pārājika; vị lấy theo lối trộm cắp vật chưa được cho trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka phạm tội thullaccaya; vị lấy theo lối trộm cắp vật chưa được cho trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka phạm tội dukkaṭa. Do duyên của việc lấy vật chưa được cho vi phạm ba tội này.

Do duyên của việc đoạt lấy mạng sống con người vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc đoạt lấy mạng sống con người vi phạm ba tội: Vị đào hố để bẫy người (nghĩ rằng): ‘Người rơi xuống sẽ chết’ phạm tội dukkaṭa; khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (ở nạn nhân) thì phạm tội thullaccaya; (nạn nhân) chết đi thì phạm tội pārājika. Do duyên của sự đoạt lấy mạng sống con người vi phạm ba tội này.

Do duyên của việc khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng vi phạm ba tội: Vị có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng phạm tội pārājika; vị nói rằng: ‘Vị (tỳ khưu) nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán,’ (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya; (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. Do duyên của sự khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng vi phạm ba tội này.

Dứt bốn điều pārājika.

2. CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA, v.v...:

Do duyên của việc làm xuất ra tinh dịch sau khi đã gắng sức vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc làm xuất ra tinh dịch sau khi đã gắng sức vi phạm ba tội: Vị có ý định, gắng sức, bị xuất ra phạm tội saṅghādisesa; vị có ý định, gắng sức, không bị xuất ra phạm tội thullaccaya; lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa. Do duyên của việc làm xuất ra tinh dịch sau khi đã gắng sức vi phạm ba tội này.

Do duyên của việc xúc chạm thân thể vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc xúc chạm thân thể vi phạm năm tội: Vị tỳ khưu ni nhiễm dục vọng ưng thuận sự nắm lấy từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên của người nam nhiễm dục vọng phạm tội pārājika; vị tỳ khưu sờ vào thân (người nữ) bằng thân (vị ấy) phạm tội saṅghādisesa; vị sờ vào vật được gắn liền với thân (người nữ) bằng thân (vị ấy) phạm tội thullaccaya; vị sờ vào vật được gắn liền với thân (người nữ) bằng vật được gắn liền với thân (vị ấy) phạm tội dukkaṭa; khi thọc lét bằng ngón tay phạm tội pācittiya. Do duyên của việc xúc chạm thân thể vi phạm năm tội này.

Do duyên của việc nói với người nữ bằng những lời thô tục vi phạm ba tội: Vị nói lời ca ngợi, nói lời chê bai đề cập đến đường tiêu, đường tiểu phạm tội saṅghādisesa; vị nói lời ca ngợi, nói lời chê bai đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu phạm tội thullaccaya; vị nói lời ca ngợi, nói lời chê bai đề cập đến vật gắn liền với thân phạm tội dukkaṭa.

Do duyên của việc nói lời ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân vi phạm ba tội: Vị ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ phạm tội saṅghādisesa; vị ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô căn phạm tội thullaccaya; vị ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của loài thú phạm tội dukkaṭa.

Do duyên của việc tiến hành sự mai mối vi phạm ba tội: Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) phạm tội saṅghādisesa; vị nhận lời, thông báo, không đem lại (hồi báo) phạm tội thullaccaya; vị nhận lời, không thông báo, không đem lại (hồi báo) phạm tội dukkaṭa.

Do duyên của việc bảo xây dựng cốc liêu do tự mình xin (vật liệu) vi phạm ba tội: Vị bảo xây dựng, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; còn cục (vữa tô) cuối cùng, phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc bảo xây dựng trú xá lớn vi phạm ba tội: Vị bảo xây dựng, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; còn cục (vữa tô) cuối cùng, phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc bôi nhọ vị tỳ khưu về tội pārājika không có nguyên cớ vi phạm ba tội: Vị khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) phạm tội dukkaṭa và tội saṅghādisesa; vị sau khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định mắng nhiếc, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.

Do duyên của việc bôi nhọ vị tỳ khưu về tội pārājika sau khi nắm lấy sự kiện nào đó chỉ là nhỏ nhặt thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt vi phạm ba tội: Vị khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) phạm tội dukkaṭa và tội saṅghādisesa; vị sau khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định mắng nhiếc, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.

Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, vị tỳ khưu là người chia rẽ hội chúng vi phạm ba tội: Do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, các vị tỳ khưu là những kẻ xu hướng theo vị chia rẽ (hội chúng) vi phạm ba tội: Do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, vị tỳ khưu khó dạy vi phạm ba tội: Do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, vị tỳ khưu là người làm hư hỏng các gia đình vi phạm ba tội: Do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.

… (như trên) …

Do duyên của hành động đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của hành động đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm một tội dukkaṭa. Do duyên của hành động đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào trong nước do không có sự tôn trọng vi phạm một tội này.

Dứt phần Bao Nhiêu Tội là thứ nhì.